Ảnh hưởng của các yếu tố thuê ngoài dịch vụ kế toán đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố hồ chí minh - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

LÂM NHẬT VI

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ THUÊ NGOÀI DỊCH VỤ
KẾ TOÁN ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

LÂM NHẬT VI

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ THUÊ NGOÀI DỊCH VỤ
KẾ TOÁN ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


1.2 Nghiên cứu về các yếu tố thuê ngoài dịch vụ kế toán .............................. 10
1.3 Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu ...... 14
1.3.1

Nhận xét về các nghiên cứu trước ..................................................... 14

1.3.2

Xác định khe hổng nghiên cứu .......................................................... 15

2.1 Tổng quan về chất lượng BCTC và thuê ngoài kế toán của DNNVV ..... 18
2.1.1 Chất lượng BCTC .............................................................................. 18
2.1.2 Thuê ngoài kế toán ............................................................................. 26
2.1.3

Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa ................................................ 29


2.2 Lý thuyết nền ............................................................................................ 33
2.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội .................................................................... 33
2.2.2 Lý thuyết dựa trên nguồn lực ............................................................. 34
2.2.3 Lý thuyết mối quan hệ ....................................................................... 35
2.3

Ảnh hưởng của các yếu tố thuê ngoài đến chất lượng BCTC .................. 36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................... 40
3.1 Quy trình nghiên cứu .................................................................................... 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 41
3.3 Thiết kế nghiên cứu ...................................................................................... 42



BCTC

DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT
Báo cáo tài chính

CLBCTC

Chất lượng Báo cáo tài chính

DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DVKT

Dịch vụ kế toán

FASB

Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ

HOSE

Sở Giao dịch chứng khoán TP. HCM

IASB

Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế

65

Bảng 4.4 Kết quả thống kê mô tả biến “đặc tính dễ hiểu”

65

Bảng 4.5 Kết quả thống kê mô tả biến “đặc tính có thể so sánh”

65

Bảng 4.6 Kết quả thống kê mô tả biến “đặc tính kịp thời”

66

Bảng 4.7 Kết quả thống kê mô tả biến “năng lực kế toán”

66

Bảng 4.8 Kết quả thống kê mô tả biến “niềm tin chủ sở hữu”

67

Bảng 4.9 Kết quả thống kê mô tả biến “tần số công việc kế toán”

67

Bảng 4.10 Kết quả thống kê mô tả biến “đặc tính của tài sản”

68


72

Bảng 4.19 Đánh giá độ tin cậy thang đo Niềm tin chủ sỡ hữu

73

Bảng 4.20 Đánh giá độ tin cậy thang đo Đặc tính tài sản

73

Bảng 4.21 Đánh giá độ tin cậy thang đo Tần số công việc

74

Bảng 4.22 Đánh giá độ tin cậy thang đo Thời gian thuê ngoài

75


Bảng 4.23 Kiểm định điều kiện thực hiện của EFA biến độc lập
Bảng 4.24 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA các biến độc lập

76
76

Bảng 4.25 Kiểm định điều kiện thực hiện của EFA biến phụ thuộc

77

Bảng 4.26 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc


44

Hình 3.3 Thang đo các thuộc tính tạo nên đặc tính trnh bày trung thực
́
Hình 3.4 Thang đo các thuộc tính tạo nên đặc tính có thể hiểu được
Hình 3.5 Thang đo các thuộc tính tạo nên đặc tính so sánh được

46

Hình 3.6 Thang đo các thuộc tính tạo nên đặc tính kịp thời

50

Hình 3.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất

54

Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu chính thức

86

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Loại hình công ty của mẫu nghiên cứu

61

Biểu đồ 4.2 Ngành nghề công ty của mẫu nghiên cứu

62

Mảng gián tiếp thường là các bộ phận như: hành chính, kế toán…nên có thể thấy
các công ty khôn ngoan sẽ khéo léo chuyển mảng gián tiếp này ra bên ngoài. Thuê
ngoài còn được biết đến như một công cụ quản lý giúp doanh nghiệp cắt giảm
được khoản chi phí kinh doanh (Hendry, 1995; Kotabe, 1998; Milena et al., 2011;
Sean, 2012; Azurin et al., 2013), tăng lợi nhuận (Sinderman, 1995; Noradiva et al.,
2010), giảm bớt tính cồng kềnh của bộ máy (Sadi and Ahmed, 2011). Thực tế là
nhiều công ty nhỏ không có các kinh nghiệm hoặc nguồn lực cần thiết để lập
BCTC, do đó công việc kế toán thường được giao cho một nhà cung cấp dịch vụ
bên ngoài (Everaert, Sarens, & Rommel (2007); Niemi, Kinnunen, Ojala, &
Troberg (2012); Ojala, Niskanen, Collis, & Pajunen (2014)). Ngoài ra, các chính
sách pháp luật về kế toán và thuế hiện nay thay đổi nhanh chóng đòi hỏi các nhân
viên kế toán phải có kiến thức chuyên ngành sâu rộng và cập nhật liên tục.Với
những lý do trên, dịch vụ kế toán thuê ngoài đã ra đời và phát triển là một xu
hướng tất yếu và phù hợp tại nhiều quốc gia, Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Các hướng nghiên cứu tập trung vào thuê ngoài dịch vụ kế toán trên thế
giới đã nêu bật hiệu quả của việc thuê ngoài so với không thuê ngoài (Barrar,
Wood, Jones & Vedovato, 2002), và làm thế nào các công ty thuê ngoài có sự khác
biệt với các công ty thực hiện công việc kế toán trong nội bộ (Everaert, Sarens &
Rommel, 2007), các yếu tố của thuê ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động của
công ty (Ajmal Hafeez, 2013). Việc sử dụng các dịch vụ kế toán thuê ngoài chẳng
hạn như thực hiện sổ sách kế toán đã gắn liền với sự mất mát các


2

thông tin tài chính (Everaert, Sarens & Rommel, 2007), làm tăng nhu cầu kiểm
toán (Niem et al, 2012). Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu hướng vào các yếu tố
của thuê ngoài dịch vụ kế toán ảnh hưởng đến chất lượng của đầu ra, tức là báo
cáo tài chính.
Tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về dịch vụ thuê ngoài kế toán, điển hình

Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố của thuê ngoài DVKT ảnh

hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV ở TPHCM
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu được
xác định tương ứng, bao gồm:
Câu hỏi 1: Các yếu tố nào của thuê ngoài DVKT ảnh hưởng đến chất
lượng BCTC của DNNVV?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố của thuê ngoài DVKT đến
chất lượng BCTC của các DNNVV là như thế nào?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng BCTC và các yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV ở TPHCM.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Do giới hạn về thời gian nên tác giả không thể thực
hiện nghiên cứu này trên toàn lãnh thổ Việt Nam mà chỉ tập trung khảo sát thực
nghiệm tại các DNNVV ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu trong 2014 – 2016
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp bao gồm phương pháp
định tính và phương pháp định lượng.
Phương pháp định tính: được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu khám
phá, nghiên cứu tài liệu để xác định các yếu tố của thuê ngoài DVKT ảnh hưởng
đến chất lượng BCTC và xây dựng thang đo chất lượng BCTC phù hợp
Phương pháp định lượng: thu thập dữ liệu từ khảo sát thực trạng chất lượng
BCTC các DNNVV đã và đang thuê ngoài DVKT ở TP.HCM thông qua các


4

Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến chất lượng BCTC
cũng như xác định các nhân tố tác động đến BCTC. Do chất lượng BCTC rất khó
để quan sát trực tiếp nên các nhà nghiên cứu thường sử dụng nhiều biện pháp đo
lường khác nhau. Thông thường có hai phương pháp chính để đo lường chất lượng
BCTC đó là: đo lường theo đặc điểm chất lượng và đo lường theo chất lượng lợi
nhuận.
1.1.1 Nghiên cứu đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng
Một trong những nghiên cứu điển hình cho phương pháp này là nghiên cứu
của Beest, F. V., G. Braam and S. Boelens (2009) với tên gọi “Chất lượng BCTC:
đo lường bằng đặc điểm chất lượng” đã xây dựng một công cụ đo lường để đánh
giá một cách toàn diện chất lượng BCTC dựa trên các đặc điểm định tính cơ bản
(sự thích hợp và sự trình bày trung thực) và các đặc điểm định tính bổ sung (tính
dễ hiểu, tính so sánh, tính xác minh và tính kịp thời) như được định nghĩa trong
phần khung khái niệm về BCTC của FASB và IASB (2008). Nghiên cứu đã sử
dụng 231 BCTC từ các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Hoa
Kỳ, Anh và Hà Lan từ 2005-2007 để đánh giá chất lượng BCTC. Những phát hiện
đã nhận thấy rằng công cụ đo lường được sử dụng trong nghiên cứu này là cách
tiếp cận hợp lý và đáng tin cậy để đánh giá một cách toàn diện chất lượng của các
BCTC. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng 21 khoản mục để đo lường 5
đặc điểm chất lượng của FASB và IASB gồm: sự thích hợp, trình bày trung thực,
có thể so sánh được, có thể hiểu được và tính kịp thời. Để đánh giá độ tin cậy của
21 khoản mục này nghiên cứu đã kiểm tra độ tin cậy của thang đo bằng hệ số


6

Krippendorff alphalfa và hệ số Cronbach alpha. Cả hai kết quả đều cao để đảm
bảo độ tin cậy của thang đo.
Tiếp cận theo một hướng nghiên cứu khác, Terzungwe (2013) “Chất lượng
BCTC của các công ty ở Nigeria” đã đánh giá chất lượng BCTC trên quan điểm

BCTC: bằng chứng tại Hàn Quốc” cũng đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa đạo
đức kinh doanh với chất lượng BCTC dựa trên mô hình kế toán dồn tích. Nghiên
cứu kết luận rằng các công ty có mức độ cam kết đạo đức cao hơn sẽ trình bày
BCTC có chất lượng tốt hơn các công ty có mức cam kết thấp hơn. Kết quả cũng
phù hợp với dự đoán của tác giả rằng các công ty có mức độ cam kết đạo đức cao
hơn tham gia vào việc quản lý thu nhập ít hơn, báo cáo thu nhập một cách bảo thủ
hơn và dự đoán dòng tiền mặt tương lai chính xác hơn so với những công ty có
cam kết đạo đức thấp hơn
Trong nghiên cứu của Hashim, H. A. (2012) về “Ảnh hưởng của văn hoá
đến chất lượng BCTC tại Malaysia - một đất nước đa sắc tộc” đã sử dụng mô hình
kế toán dồn tích để đo lường chất lượng BCTC và kiểm tra mối quan hệ giữa sắc
tộc và chất lượng BCTC. Kết quả là không tìm ra mối quan hệ giữa sắc tộc của
Chủ tịch, sắc tộc của CEO và chất lượng dồn tích và các công ty do người
Malaysia quản lý có chất lượng BCTC cao hơn.
Nghiên cứu của Ahmed, A. A., (2012) “Công bố BCTC và cấu trúc của
doanh nghiệp: nghiên cứu về các công ty niêm yết trên DSE” đã đo lường chất
lượng BCTC theo mô hình giá trị thích hợp của thông tin kế toán (mô hình EBO
điều chỉnh). Dữ liệu nghiên cứu được trích từ 12 công ty sản xuất tại Bangladesh.
Kết quả cho thấy cấu trúc của công ty có ảnh hưởng tích cực đáng kể trong việc
xác định chất lượng BCTC của các công ty sản xuất ở Bangladesh.
Trong nghiên cứu của Hope, O. -K., Thomas, W. B., & Vyas, D. (2013)
“Chất lượng BCTC của các công ty tư nhân ở Mỹ” đã sử dụng lại mẫu dữ liệu


8

gồm 100.000 công ty tư nhân từ năm 2001 đến 2009 được tạo ra bởi Sageworks
Inc để thực hiện một cuộc điều tra quy mô lớn về chất lượng BCTC của các công
ty tư nhân ở Mỹ. Hope đã so sánh chất lượng BCTC giữa công ty tư nhân với
công ty cổ phần, kết quả cho thấy chất lượng BCTC của công ty tư nhân thấp hơn

toán, kiểm soát và đánh giá chất lượng thông tin.
Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) về “Tác động của quản trị
công ty đến chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam” qua
đó đánh giá các yếu tố quản trị công ty bên trong tác động như thế nào đến chất
lượng thông tin BCTC. Để đo lường chất lượng thông tin BCTC, tác giả sử dụng
16 thang đo dựa trên các đặc tính chất lượng của FASB (2010) và IASB (2010).
Các thang đo này được kiểm định về độ tin cậy và giá trị của chúng. Kết quả
nghiên cứu cho thấy chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết Việt
Nam là dưới mức trung bình. Sau khi phân tích hồi quy cho thấy rằng hầu hết các
biến quản trị công ty đều có sự tác động đến chất lượng thông tin BCTC, đồng
thời chất lượng thông tin BCTC và sự tác động của QTCT chịu sự ảnh hưởng của
quy mô công ty và tỷ vốn nhà nước trên vốn điều lệ. Hạn chế của nghiên cứu là
tác giả sử dụng 16 thang đo để đo lường 5 đặc tính chất lượng của FASB và IASB
nhưng thang đo chỉ có giá trị trong hiện tại vì trong tương lai những tiêu chuẩn
này sẽ thay đổi theo hướng hoà nhập quốc tế.
Một hướng nghiên cứu khác là của Phạm Quốc Thuần (2016) về “Các nhân
tố tác động đến chất lượng thông tin BCTC trong các doanh nghiệp Việt Nam” đã
xây dựng thang đo đo lường và các nhân tố tác động chất lượng thông tin BCTC.
Tác giả khảo sát 269 doanh nghiệp có trụ sở chính chủ yếu tại TPHCM. Kết quả
từ nghiên cứu định tính cho thấy 10 nhân tố có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê
đến chất lượng thông tin BCTC. Kết quả kiểm định hồi qui cho thấy có 8 nhân tố


10

tác động ở mức có ý nghĩa thống kê. Trong các nhân tố tác động đến chất lượng
thông tin BCTC, có hai nhân tố được xem là đặc thù riêng của nghiên cứu này (Áp
lực từ thuế và chất lượng phần mềm kế toán). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng
khẳng định hai nhân tố Niêm yết và Quy mô DN thực sự đóng vai trò là biến điều
tiết của mô hình, có tác dụng làm thay đổi mức độ tác động của các nhân tố lên

biệt thích thực hiện kế toán trong nội bộ hơn là thuê ngoài. Ngoài ra, nghiên cứu
còn kết luận rằng niềm tin của các nhà quản lý DNNVV đối với kế toán bên ngoài
không phải là yếu tố quyết định đến việc thuê ngoài và các DN có chức năng CFO
riêng biệt có xu hướng thực hiện kế toán trong nội bộ hơn. Nghiên cứu này có một
số hạn chế: Thứ nhất, mặc dù nỗ lực đáng kể để tối đa hóa tỷ lệ phản hồi của
DNNVV nhưng kích cỡ mẫu là khá hạn chế. Do đó, tác giả không biết liệu các
công ty điều tra có đại diện cho nhóm đối tượng muốn nghiên cứu hay không. Thứ
hai, bởi vì chỉ khảo sát các DNNVV của Bỉ, những phát hiện không thể khái quát
hóa đối với các công ty từ các nước khác. Thứ ba, do số lượng hạn chế các công
ty trẻ trong mẫu nên không thể nghiên cứu vềmối quan hệ giữa sự trưởng thành
của công ty và thuê ngoài.
Ajmal, Hafeez& Otto Andersen (2014) với nghiên cứu về “Các yếu tố của
thuê ngoài dịch vụ kế toán ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty tại
Pakistan: sử dụng lý thuyết chi phí giao dịch (TCE) và lý thuyết nguồn lực (RBV).
Nghiên cứu đã khảo sát 302 DNNVV tại 9 thành phố lớn ở Pakistan, kết quả thu
được rằng tần số công việc kế toán không thường xuyên, đặc tính của tài sản, chủ
nghĩa cơ hội, niềm tin của chủ sở hữu vào dịch vụ kế toán, sự canh tranh là những
yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động. Ngoài ra, những biến kiểm soát
như giới tính, kinh nghiệm, quy mô doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp trong mô
hình hồi quy đều có ý nghĩa thống kê. Những phát hiện này có nghĩa là DNNVV khi
gặp hạn chế về nguồn lực, họ sẽ chuyển chức năng kế toán trong nội bộ sang thuê
ngoài dịch vụ kế toán. Tuy nhiên, nghiên cứu gặp một số hạn chế.


12

Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ tập trung vào DNNVV trong lĩnh vực sản xuất. Thứ
hai, tác giả sử dụng phương pháp định lượng và cuối cùng là mẫu nghiên cứu chỉ
bao gồm 302 DNNVV.
Oluwaremi, F. (2016) đã nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa kế toán thuê

hoá đơn, quản lý công nợ, thanh toán… ngoài việc lập BCTC. Một lời giải thích
hợp lý cho kết luận này đơn giản là các dịch vụ bổ sung thường không liên quan
đến chất lượng BCTC. Hạn chế của nghiên cứu này là sử dụng các thước đo về
chất lượng BCTC đã bị chỉ trích nên các nghiên cứu trong tương lai có thể tập
trung vào các thước đo khác.
Tại Việt Nam hiện nay có ít đề tài nghiên cứu sự tương quan giữa chất
lượng BCTC và kế toán thuê ngoài mà chỉ có những nghiên cứu về các góc độ
khác nhau liên quan đến chất lượng BCTC và kế toán thuê ngoài, điển hình như
sau:
Tác giả Mai Thị Hoàng Minh (2010) đã nghiên cứu về “Kế toán và dịch vụ
kế toán Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” để đánh giá tác động
của các cam kết quốc tế về dịch vụ kế toán khi Việt Nam hội nhập. Thông qua
thực trạng dịch vụ kế toán Việt Nam, tác giả đưa ra những hạn chế: phần lớn các
doanh nghiệp kế toán còn nhỏ, mới thành lập, cơ sở vật chất nghèo nàn, kinh
nghiệm quản trị còn ít; dịch vụ kế toán có quá nhiều lực lượng cạnh tranh không
lành mạnh; quản lý về đạo đức của người hành nghề đang bị bỏ lở trong công tác
quản lý nhà nước; bất cập về trình độ… Từ đó tác giả đã đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán tăng
cường công tác quản lý hành nghề, xây dựng hồ sơ quản lý trong các doanh
nghiệp dịch vụ kế toán, xây dựng đội ngũ nhân viên trong các doanh nghiệp dịch
vụ kế toán.


14

Trong luận văn thạc sĩ của Trần Thị Mỹ Linh năm (2015) về “Các yếu tố
ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ kế toán thuê ngoài của các DNNVV
tại TP Cần Thơ”, tác giả kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
đã xác định 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ kế toán thuê
ngoài:(1) Hình ảnh nhà cung cấp dịch vụ, (2) Lợi ích chuyên môn, (3) Lợi ích cảm


vào các vấn đề có liên quan đến chất lượng BCTC. Các nghiên cứu chỉ tập trung
vào việc làm rõ các khái niệm, giới thiệu các phương pháp đo lường chất lượng
BCTC cũng như là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, tuy
nhiên nó cũng có thể làm cơ sở và giúp cho việc định hướng các nghiên cứu khác
trong tương lai.
-

Các nghiên cứu của các tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau liên quan đến

việc sử dụng kế toán thuê ngoài như: các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thuê
ngoài kế toán, tác động của kế toán thuê ngoài đếu hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu hướng vào chất lượng BCTC của các
công ty vừa và nhỏ sử dụng kế toán thuê ngoài mặc dù các công ty này tạo nên
phần lớn các hoạt động kinh tế trên toàn cầu. Nguyên nhân của việc thiếu các
nghiên cứu liên quan đến vấn đề này là do sự hạn chế các dữ liệu có sẵn của các
công ty vừa và nhỏ.
1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu
-

Thứ nhất, theo cơ sở dữ liệu tác giả được tiếp cận tại Việt Nam hiện chưa

có nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố thuê ngoài dịch vụ kế toán đến chất
lượng BCTC.
-

Thứ hai, các nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố

thuê ngoài dịch vụ kế toán đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như nghiên
cứu của Oluwaremi, F. (2016), các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status