BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH DŨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÀI CHÍNH LÊN MỐI QUAN HỆ PHI
TUYẾN GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH DŨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÀI CHÍNH LÊN MỐI QUAN HỆ PHI
TUYẾN GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
1.7. Ý nghĩa đề tài....................................................................................................3
1.8. Bố cục đề tài......................................................................................................4
Chương 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN...................................................................................................................6
2.1. Cơ sở lý thuyết vốn luân chuyển....................................................................6
2.1.1. Cơ sở lý thuyết vốn luân chuyển và phương pháp đo lường..................6
2.1.2. Các thành phần vốn luân chuyển.............................................................10
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây.........................................................15
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan về quan hệ tuyến
tính vốn luân chuyển và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp...........................15
2.2.1.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ tuyến tính vốn luân chuyển
và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cho thấy mối quan hệ nghịch biến.....15
2.2.1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ tuyến tính vốn luân chuyển
và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cho thấy mối quan hệ cùng chiều......22
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ phi tuyến vốn luân chuyển và
hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.......................................................................24
2.2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng hạn chế tài chính lên quan
hệ giữa vốn luân chuyển và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.....................28
Chương 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU................31
3.1. Mô tả dữ liệu...................................................................................................32
3.2. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................32
3.2.1. Mô hình nghiên cứu...................................................................................33
3.2.1.1. Phương pháp ước lượng hồi quy GMM hai bước (Two step
Generalized Method of Moments)......................................................................34
3.2.1.2. Kiểm định được thực hiện......................................................................34
3.2.2. Các giả thuyết..............................................................................................45
3.2.3. Phương pháp nghiên cứu, quy trình thực hiện......................................46
3.2.3.1. Thống kê mô tả........................................................................................46
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên gọi
Trang
Bảng 3.1
Mô tả các biến và kỳ vọng dấu của chúng
36
Bảng 3.2
Các chỉ tiêu phân loại hạn chế tài chính của doanh nghiệp
44
Bảng 4.1
Thống kê mô tả các biến
51
Bảng 4.2
Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
56
72
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng việt
CCC
Cash Conversion Cycle
Chu kỳ luân chuyển tiền
DFC
Dummy of Financial
Constaint
Biến giả hạn chế tài chính
EBIT
Eanings Before Interest and
Taxes
Thu nhập trước thuế và lãi vay
Tỷ lệ đòn bảy
NTC
Net Trade Cycle
Chu kỳ thương mại thuần
OLS
Ordinary Least Square
Phương pháp bình phương bé nhất
ROA
Return on Assets
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
SIZE
SIZE
Quy mô doanh nghiệp
VIF
Variance Inflation Factor
Qua bài nghiên cứu này, các doanh nghiệp Việt Nam nên xác định được năng lực tài
chính của chính doanh nghiệp mình, cũng như cơ hội đầu tư từ đó xác định chính
xác mức vốn luân chuyển tối ưu nhằm đưa ra chiến lược tài chính hợp lý.
Từ khóa: Vốn luân chuyển, hiệu quả hoạt động, chu kỳ thương mại thuần, NTC
1
Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT ĐỀ TÀI
Chương 1 này giới thiệu lý do cần nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, từ vấn đề
nghiên cứu, mục tiêu cụ thể đưa ra câu hỏi nghiên cứu và sẽ được giải quyết cho
các mục tiêu đề ra. Trong chương còn cho thấy ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài.
Những vấn đề đặt ra cho bài nghiên cứu sẽ lần lượt được giải quyết qua từng
chương trong quá trình nghiên cứu.
1.1. Lý do chọn đề tài
Thế giới ngày nay càng trở nên bất ổn hơn, đặc biệt những bất ổn trong biến số
tài chính. Trong đó nổi bật trong nền kinh tế Việt Nam gần đây trong bối cảnh suy
thoái kinh tế toàn cầu đang đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam muôn vàng khó
khăn mà sâu xa của nó bắt nguồn từ sự yếu kém trong việc quản trị tài chính trong
doanh nghiệp, đặc biệt nghiệm trọng ở những doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việt Nam
đã từng có ghi dấu ấn hàng loạt doanh nghiệp phải đóng cửa do yếu kém trong quản
trị tài chính. Một trong những vấn đề nổi cộm đó là bắt nguồn từ sự yếu kém trong
quản trị hàng tồn kho, tín dụng thương mại, chi phí...v.v. Theo đó, việc gia tăng các
khoản nợ phải trả, rút ngắn vòng quay hàng tồn kho, rút ngắn vòng quay nợ phải
thu...v.v. là những vấn đề cấp thiết đáng để các nhà hoạch định tài chính suy nghĩ
trong việc sống còn của một thế giới bất ổn như hiện nay.
Một vấn đề khác về mặt vĩ mô, cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm cho nền kinh
tế Việt Nam đi trong thăng trầm với nhiều biến động, có rất nhiều chính sách của
niên yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu cùng
với những lập luận chặt chẽ để đưa ra những khuyến nghị cho các nhà quản trị tài
chính nhằm hoạch định chính sách phù hợp. Mục tiêu cụ thể là:
− Xác định các yếu tố và mức độ tác động của các yếu tố đó đến hiệu quả hoạt
động các doanh nghiệp phi tài chính niên yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.
− Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp.
3
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để nghiên cứu mối quan hệ phi tuyến giữa vốn luân chuyển, hạn chế tài chính
của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán tại Việt Nam, tác giả sử dụng nhóm chỉ
số tài chính của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán Việt Nam làm nền tảng.
Phạm vi nghiên cứu: 222 doanh nghiệp phi tài chính niên yết trên sàn chứng khoán
Việt Nam giai đoạn nghiên cứu: 2008 - 2016 (9 năm).
Nguồn dữ liệu: Được cung cấp bởi Trung tâm khai thác dữ liệu của Khoa Tài
chính doanh nghiệp - UEH.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu của tác giả sử dụng dữ liệu thu thập 222 doanh nghiệp từ báo
cáo tài chính đã được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập của các doanh
nghiệp phi tài chính đã niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE)
và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) giai đoạn năm từ năm 2008 đến 2016.
Tác giả thực hiện dựa trên nghiên cứu ở Anh quốc: “Working capital management,
corporate performance, and financial constraints” của nhóm tác giả Caballero, S et
al, 2013 đăng trên Journal of Business Research, 67(3), pp. 332-338.
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp chủ yếu là Phương pháp GMM hai
bước (Two step Generalized Method of Moments) được đề xuất bởi Arellano và
Bond (1991) với mục đích để giải quyết vấn đề nội sinh xảy ra giữa hiệu quả quản
trị vốn luân chuyển và các biến kiểm soát khác lên hiệu quả hoạt động của doanh
Chương 1: Giới thiệu tổng quát đề tài, Trong chương này tác giả trình bày
tổng thể nội dung bài nghiên cứu. Trong chương này làm rõ lý do nghiên cứu đề tài,
mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và ý nghĩa cũng như bố cục bài nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, Trong
chương này tác giả trình bày cơ sở lý thuyết và và tập hợp bằng chứng thực nghiệm về
quản trị vốn luân chuyển và tác động của đầu tư vốn luân chuyển lên hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp theo hai quan điểm khác nhau hoàn toàn: Tương quan tuyến tính và
tương quan phi tuyến hình chữ U ngược. Đồng thời tác giả còn tập hợp những bằng
chứng thực nghiệm ảnh hưởng hạn chế tài chính lên hiệu quả hoạt động doanh
5
nghiệp làm cơ sở cho việc nghiên cứu cho bài nghiên cứu của chính tác giả tại Việt
Nam.
Chương 3: Mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, trong chương này
tác giả trình bày dữ liệu nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, xây dựng giả
thuyết nghiên cứu và trình bày lý thuyết kiểm định và lựa chọn mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả thực nghiệm, trong chương này tác giả trình bày kết quả
thực nghiệm và những thảo luận kết quả nghiên cứu đó bao gồm phân tích thống kê
mô tả, phân tích ma trận hệ số tương quan và sau cùng là trình bày kết quả hồi quy
và tiến hành thảo luận.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị cho các nhà quản trị tài chính, trong
chương này tác giả tóm tắt lại kết quả nghiên cứu chính, các kết quả quan trọng, từ
đó tác giả đưa ra những kiến nghị giúp cho các nhà quản trị có cách nhìn sâu sắc
hơn. Đồng thời đưa ra những giới hạn cũng như hạn chế của nghiên cứu và gợi mở
hướng nghiên cứu chuyên sâu cho tác giả quan tâm sau này.
Chương 1 này giới thiệu từ tình hình thực tế những vấn đề hàng đầu đã, đang
và sẽ được các nhà quản trị quan tâm, với bối cảnh như thế, đặt ra những mục tiêu
nghiên cứu cần đạt được và những câu hỏi nghiên cứu của đề tài. Đồng thời cho
có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm này. Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn
Thị Liên Hoa (2008) đã nêu ra rằng tài sản ngắn hạn là các tài sản có thể chuyển đổi
thành tiền mặt trong chu kỳ hoạt động của công ty nhanh hơn tài sản dài hạn. Các tài
khoản sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt, các khoản tương đương tiền, đầu tư ngắn hạn,
các khoản phải thu, hàng tồn kho và các chi phí phải trả và tài sản ngắn hạn khác.
Chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn được gọi là vốn luân chuyển.
7
Vốn luân chuyển là con dao hai lưỡi - các doanh nghiệp cần vốn luân chuyển
để hoạt động hiệu quả, tuy nhiên vốn luân chuyển cũng tốn kém vì nó mất đi cơ hội
đầu tư nếu như dùng khoản tiền đầu tư làm vốn luân chuyển. Điều này hàm ý rằng
để sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có một số vốn nhất định phù hợp với
ngành nghề kinh doanh như tiền mặt, máy móc thiết bị, nhà cửa...v.v. Doanh nghiệp
dùng tiền mua sắm nguyên vật liệu, hàng hóa, văn phòng phẩm, trả tiền điện thọai,
chi trả lương nhân viên...v.v nhằm mục đích phục vụ sản xuất kinh doanh của mình.
Như vậy vốn luân chuyển là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tiến hành sản xuất
kinh doanh, ngoài ra nó còn phải luân chuyển qua các khâu trong quá trình thu mua
nguyên vật liệu, khâu sản xuất, khâu bán sản phẩm cho đến thu được tiền hàng. Như
vậy thông qua quá trình luân chuyển vốn qua các khâu chúng ta có thể đánh giá các
khâu mua nguyên vật liệu, khâu sản xuất và khâu tiêu thụ thông qua xem xét thời
gian các khâu nhanh, chậm như thế nào so với các doanh nghiệp cùng ngành hàng
trong khu vực.
Vốn luân chuyển còn là cơ sở, nền tảng để doanh nghiệp mở rộng quy mô
doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường, muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp để
thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường đồi hỏi doanh nghiệp phải huy động vốn từ nhiều
nguồn khác nhau như nguồn nội bộ, nguồn bên ngoài điều làm phát sinh liên quan
đến vốn luân chuyển.
Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa (2008, trang 235) phát biểu
Như vây một doanh nghiệp mà có vốn luân chuyển dương quá mức cũng như
các doanh nghiệp có vốn luân chuyển âm quá mức đều không hiệu quả.
Xuất phát từ tồn tại vấn đề trên đòi hỏi doanh nghiệp phải quản trị vốn luân
chuyển thật hiệu quả. Quản trị vốn luân chuyển với mục tiêu chính là đảm bảo lưu
lượng tiền tệ để hoạt động sản xuất kinh doanh được bình thường trên nguyên tắt giảm
thiểu rủi ro mất cân đối tài chính trong ngắn hạn. Do đó hiệu quả quản trị vốn luân
chuyển phụ thuộc rất lớn vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp. Quản trị vốn luân chuyển hiệu quả sẽ giúp cho các doanh nghiệp thúc
đẩy mạnh mẽ chuyển hóa nhanh chống giữa các hình thái của tài sản lưu động để sinh
ra ngân quỹ dồi dào, duy trì quan hệ của từng khâu của từng bộ phận cũng như tổng thể
của vốn luân chuyển tác động lên trạng thái sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp. Để
quản trị vốn luân chuyển một cách hiệu quả các nhà quản lý cũng như các
9
giám đốc tài chính thường sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau như các chi số tài chính
để đo lường như chỉ số thanh toán hiện hành, chỉ số thanh toán nhanh, vòng quay
hàng tồn kho, kỳ thanh toán nợ phải thu... v.v. Các chỉ tiêu này tuy dễ tính nó thu
thập dễ dàng trên báo cáo tài chính hàng quý, hàng năm và thậm chí là hàng tháng,
tuy nhiên các chỉ tiêu này mang tính tổng quát chưa lột tả được vấn đề một cách chi
tiết, có nhiều thông tin chi tiết về vốn luân chuyển.
Một trong số những chỉ tiêu đo lường tốt nhất của quản trị vốn luân chuyển mà
các tác giả gần đây sử dụng là chu kỳ luân chuyển tiền mặt (Cash Conversion Cycle
– CCC) được đề xuất bởi Richards and Laughlin (1980). Tác giả đề cập chỉ tiêu chu kỳ
chuyển đổi tiền là khoảng cách thời gian từ thu mua nguyên vật liệu, chuyển đổi thành
sản phẩm dỡ dang, thành phẩm và bán sản phẩm thu tiền về. Các doanh nghiệp có chu
kỳ luân chuyển tiền mặt ngắn nói chung sẽ ít phải đầu tư vào vốn luân chuyển hơn và
do vậy chi phí tài chính của các doanh nghiệp này thường thấp. Bằng cách sử dụng chu
kỳ luân chuyển làm thước đo hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, các nhà quản lý theo
á
+
ℎả
−
ℎ
. 365
á
ả
. 365
á ố ℎà
á
Một chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển không kém phần quan
trọng mà các tác giả nghiên cứu trước đây đã sử dụng đó là chu kỳ thương mại thuần
(Net Trade Cycle - NTC). Trong nghiên cứu của mình tác giả Shin and Soenen (1998)
10
đã sử dụng chỉ tiêu NTC để đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển với công
thức sau:
công thức tính CCC là có mẫu số khác nhau vì vậy dựa vào NTC giúp cho nhà quản lý
dễ dàng tính nhu cầu tài trợ vốn luôn chuyển. Chính ưu điểm này mà tác giả dùng công
thức NTC để tính vốn luân chuyển cho bài nghiên cứu của mình.
Chu kỳ thương mại thuần được cấu thành các khoản mục: Các khoản phải thu,
hàng tồn kho, các khoản phải trả và doanh thu thuần. Hơn nữa chu kỳ thương mại
thuần xuất phát dưới dạng tiền sau đó chuyển sang hàng và sau cùng quay trở về
dưới hình thức tiền kết thúc một chu kỳ luân chuyển. Chu kỳ thương mại thuần còn
ảnh hưởng lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Do đó, phần tiếp sau đây tác giả sẽ
đi vào chi tiết các thành phần vốn luân chuyển.
2.1.2. Các thành phần vốn luân chuyển
2.1.2.1. Khoản phải thu: Các khoản phải thu là số tiền phát sinh từ quá trình bán
hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Khoản phải thu ám chỉ đến lời hứa của các khoản công
nợ do bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ, hay doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng
một khoản tín dụng, số dư nợ tài khoản này nên giữ ổn định, nếu gia tăng số dư trong
kỳ chứng tỏ rằng doanh nghiệp đang nới rộng tín dụng cho khách hàng để mở rộng thị
trường bằng việc tăng số lượng khách hàng hoặc gia tăng lượng hàng tiêu thụ cho mỗi
khách hàng, tất nhiên doanh nghiệp được lợi mang nhiều doanh số bán cho doanh
nghiệp dẫn đến lợi nhuận doanh nghiệp tăng nếu như doanh nghiệp vẫn giữ được mức
bán với giá cũ ban đầu. Điều ngược lại là doanh nghiệp cũng gánh chịu bất lợi là gia
tăng rủi ro khách hàng mất khả năng thanh toán do nợ chồng chất, thời gian cho nợ dài
doanh nghiệp sẽ thiếu tiền và do đó doanh nghiệp mất khả năng đầu
11
tư vào các dự án tốt do thiếu vốn đầu tư. Do vậy các nhà quản lý nên xây dựng
chính sách bán hàng tối ưu nhằm cân đối được được sự đánh đổi giữa doanh thu, lợi
nhuận, chi phí cơ hội với sự giảm giá, rủi ro khách hàng không trả nợ.
2.1.2.2. Hàng tồn kho: Hàng tồn kho là hàng hóa được dự trữ để bán như là
sự, 2003).
Các doanh nghiệp có số ngày tồn kho lớn, tức chu kỳ dài là những doanh
nghiệp đầu tư lớn vào hàng tồn kho và doanh nghiệp đang kỳ vọng sự tăng giá hàng
hóa trong tương lai dẫn đến giá trị doanh nghiệp gia tăng. Tuy nhiên việc tồn trữ
hàng tồn kho cũng như nhiều tài sản khác trong doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp
phải chịu phí tổn nhất định.
Trần Ngọc Thơ và cộng sự ( 2003, trang 746) phát biểu rằng “Tại cùng một
thời điểm khi một doanh nghiệp được hưởng những lợi ích từ việc sử dụng hàng tồn
kho thì các chi phí liên quan cũng phát sinh tương ứng, bao gồm:
Chi phí đặt hàng (Ordering costs)
Chi phí tồn trữ (Carrying costs)
Chi phí thiệt hại do không có hàng (Stockout costs)”
Để quản trị hàng tồn kho có hiệu quả các nhà quản trị cần phải cần cân đối sự
đánh đổi giữa lợi ích mà hàng tồn kho mang đến cho doanh nghiệp với một bên là
sự mất mát chi phí phát sinh liên quan. Việc tồn trữ đủ một lượng thành phẩm, hàng
hóa tồn kho mang lại lợi ích cho cả hai bộ phận sản xuất và bộ phận kinh doanh của
doanh nghiệp.
Đối với góc độ bộ phận kinh doanh, với mức dự kiến hàng hóa tiêu thụ trong
tương lai không chắc bởi vì nó phụ thuộc vào sức cầu của thị trường cũng như thu
nhập, dân số, thị hiếu...v.v. Vì vậy với lượng tồn trữ lớn sẽ đáp ứng nhanh chóng bất
kỳ mức cầu nào trên thị trường và sẽ tối thiểu hóa những thiệt hại do sự thiếu hụt
lượng hàng đáp ứng cho thị trường cũng như mất uy tính doanh nghiệp do sự chậm
trễ giao hàng.
Đối với bộ phận sản xuất, dưới góc nhìn của bộ phận này thì việc duy trì một
lượng lớn nguyên vật liệu, nhiên liệu...v.v. cho phép doanh nghiệp có thể gia tăng sản
xuất một lượng lớn nhằm gia tăng cung hàng hóa ra thị trường ở những thời điểm cần
13
14
quan thuế hay trả lãi ngân hàng nói chung rất nhiều giao dịch cần phải có tiền để
đáp ứng sản xuất xảy ra liên tục.
Động cơ giữ tiền để đầu cơ: Trong cơ chế thị trường giá cả sẽ biến động, sẽ
tăng giá nguyên vật liệu khi nhu cầu tăng, cung ứng giảm như mất mùa, thiên tai
hay vào vụ sản xuất…v.v. Doanh nghiệp sẵn sàng nắm bất cơ hội đầu tư thuận lợi,
doanh nghiệp sẽ đầu cơ tích trữ hàng hóa chờ tăng giá rõ ràng điều này là không tốt
cho nền kinh tế.
Động cơ giữ tiền để dự phòng: Các doanh nghiệp thường áp dụng một cách
thận trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, chính điều này doanh nghiệp thường
dự phòng một khoản tiền nhất định để đáp ứng cho những biến cố bất ngờ xảy ra mà
doanh nghiệp không lường trước như doanh nghiệp phải dự phòng một khoản tiền
nhất định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên khi xảy ra cho khách hàng tới
hạn thu tiền nhưng doanh nghiệp không thể thu được như doanh nghiệp bỏ trốn
hoặc họ vi phạm hợp đồng.
Doanh nghiệp cần duy trì một lượng tiền mặt nhằm đáp ứng nhu cầu của mình,
tuy nhiên nếu nắm giữ tiền mặt quá nhiều sẽ phát sinh chi phí cơ hội, doanh nghiệp
mất đi cơ hội đầu tư cho các dự án tiềm năng. Như vậy nắm giữ tiền mặt bao nhiêu
là hợp lý luôn là vấn đề đặt ra cho nhà quản lý, vì việc nắm giữ tiền mặt có tác động
lên hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp. Để đi sâu hơn về vấn đề, phần sau đây tác
giả trình bày hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
2.1.2.4. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp:
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là chỉ tiêu rất quan trọng đối với hầu hết các
nhà quản lý. Việc sử dụng công để đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có vai
trò quan trọng. Có nhiều chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Các chi tiêu về lợi nhuận gồm có: Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi
nhuận trên vốn sở hữu (ROE). Đây là hai chỉ tiêu phổ biến được sử dụng trong
nghiên cứu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Ngoài ra một số tác giả còn dùng
chỉ tiêu khác như: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), hoặc EBITDA...v.v.
ả
Tobin’q 1, Giá trị thị trường lớn hơn giá trị sổ sách
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan về quan hệ tuyến
tính vốn luân chuyển và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
2.2.1.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ tuyến tính vốn luân chuyển và
hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cho thấy mối quan hệ nghịch biến
Bài nghiên cứu của tác giả Shin and Soenen (1998) đã khám phá ra mối quan hệ
nghịch biến mạnh mẽ giữa chu kỳ thương mại thuần (Đo lường vốn luân chuyển bằng
chu kỳ thương mại thuần - NTC) và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp bằng cách nghiên
cứu phân tích tương quan và hồi quy theo ngành công nghiệp với số doanh nghiệp
tương ứng là 58.985 ở Mỹ trong giai đoạn 1975 - 1994. Đây là nghiên cứu quy mô lớn
doanh nghiệp, thời gian khá dài, ở thị trường phát triển bậc nhất thế giới, là nền tảng
cho kết quả nghiên cứu cho nhiều tác giả sau này. Quản lý vốn luân chuyển chỉ là một
phần, nhưng đối với nhiều doanh nghiệp là một thành phần rất quan trọng của quản lý
tài chính. NTC (Chu kỳ thương mại thuần) cung cấp một cách dễ dàng