Chính sách ngoại thương Việt Nam hiện nay - Pdf 67

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KINH TẾ HỌC QUỐC TẾ
GVHD : Hoàng Vĩnh Long
Đề tài:
Chính sách ngoại thương Việt Nam hiện
nay.
Lớp K08 402A – Nhóm 8
Danh sách nhóm:
1. Ngô Thúy An
2. Nguyễn Thị Hoàng Anh K08 402 0107
3. Hoàng Vũ Minh Chí
4. Phạm Ngọc Hiền K08 402 0134
5. Lưu Thị Bích Ngọc K08 402 0165
6. Nguyễn Thị Hồng Ngọc
7. Ngụy Thị Yến Như
8. Trần Thị Trúc Ly
9. Cao Thị Phương Thúy
10.Đặng Thị Huyền Trang K08 402 0199
11. Nguyễn Thanh Uyên K08 402 0217
12. Trần Thị Bích Vân K08 402 0218
Lời mở đầu
Trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới và khu vực, nước ta đã và
đang từng bước hòa mình để phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ đối ngoại. Việc buôn
bán, trao đổi hàng hóa giữa nước ta và các nước trong khu vực cũng như với các nước
trên thế giới ngày càng đa dạng phong phú.
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế
tham gia sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu. Nhờ đó, một số sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ của nước ta không những đứng vững ở thị trường trong nước, mà còn có khả
năng vươn ra thị trường nước ngoài, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.

Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam châu Á, là vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao nhất thế giới, bình quân mỗi nước ở khu vực này mức tăng trưởng kinh tế đạt 6-7%
năm.Viện Nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế; ven biển. nhất là từ
Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu tàu bè có thể cập bến an toàn quanh năm.Sân
bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí lý tưởng, cách đều các thủ đô thành phố quan trọng trong
vùng Đông Nam Á. Vị trí địa lý thuận lợi cho phép ta mở rộng quan hệ kinh tế ngoại
thương và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
• Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên:
So với một số nước khác thì nước ta thuộc loại có tài nguyên tương đối phong phú:
• Về đất đai: diện tích đất đai cả nước khoảng 330.363 Km
2
trong đó có tới
khoảng 50% là đất vào nông nghiệp và ngư nghiệp. Khi hậu nhiệt đới mưa
nắng điều hòa cho phép chúng ta phát triển nông lâm sản xuất khẩu có hiệu
quả cao như gạo, cao su và các nông sản nhiệt đới. Chiều dài bờ biển bờ biển,
diện tích sông ngòi và ao hồ cho phép phát triển ngành thủy sản xuất khẩu và
phát triển thủy lợi, vận tải biển và du lịch.
• Về khoáng sản: dầu mỏ hiện nay là nguồn tài nguyên mang lại nguồn thu
ngoại tệ đáng kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng và là nơi thu hút hiều
vốn đầu tư nước ngoài. Than đá trữ lượng cao, mỏ sắt với trữ lượng vài trăm
triệu tấn; cả 3 miền Bắc, Nam, Trung, đều có nguồn clanh-ke để sản xuất xi
măng dồi dào.
• Lợi thế về lao động:
Đây là thế mạnh của nước taLao động dồi dào, giá nhân công rẻ;tỷ lệ thất nghiệp
lớn. Lao động là 1 lợi thế cơ bản để phát triển các ngành hàng sử dụng nhiều lao động
như dệt, may, chế biến nông lâm thủy sản, lắp ráp sản phẩm điện, điện tử….
1.2. Những hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển của Ngoại thương:
Diện tích đất canh tác bình quân đầu người của ta thấp so với bình quân của thế giới.
Sản lượng lương thực có cao nhưng trước hết phải đảm bảo nhu cầu của dân nên không
thể tạo ra 2 nguồn tích lũy lớn cho những đòi hỏi cao của sự phát triển kinh tế.

chuyền giúp các ngành kinh tế khác phát triển theo, kết quả là tăng tổng sản
phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển theo, kết quả là tăng tổng sản phẩm xã hội
và nền kinh tế phát triển nhanh , hiệu quả.
• Thứ ba, xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản
xuất: Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường về quy cách, chất lượng sản phẩm
thì một mặt phải đổi mới trng thiết bị phục vụ sản xuất, một mặt người lao động
phải nâng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.
• Thứ tư, đầy mạnh xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế
ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương
đối của đất nước.
• Thứ năm, đẩy mạnh xuất khẩu làm cho sản lượng sản xuất của quốc gia sẽ tăng
thông qua mở rộng với thị trường quốc tế.
• Thứ sáu, đẩy mạnh phát triển xuất khẩu có tác động tích cực và có hiệu quả đến
nâng cao mức sống của nhân dân.
• Thứ bảy, đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường hợp tác quốc tế giữa các
nước.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu là hướng phát triển có tính chất chiến lược để đưa
nước ta thành nước công nghiệp mới trong giai đoạn hiện nay.
• Định hướng phát triển xuất khẩu giai đoạn 2001-2010
Mục tiêu hành động của thời kỳ này là tiếp tục chủ trương giành ưu tiên cao nhất
cho xuất khẩu; tạo nguồn hàng có chất lượng, có giá trị gia tăng và sức mạnh cao để
xuất khẩu, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
thời kỳ 2001- 2010 phải đạt mức tăng tưởng bình quân từ 15% năm trở lên.
Dựa vào kết quả xuất khẩu giai đoạn 10 năm, 1990- 2000, tốc độ xuất khẩu nước
ta tăng trưởng bình quân 22% năm, Chính phủ đã đưa ra 1 định hướng phấn đấu tăng
trưởng thấp hơn nhiều giai đoạn trước đó. Chỉ tiêu phấn đấu này phù hợp với tình
hình thực tế, dự kiến, sau năm 2005, khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt
động, kim ngạch xuất khẩu dầu thô sẽ giảm, trong khi phần kim ngạch này chiếm tỷ
trọng khoảng 20% so với tổng kim ngạch xuất khẩu.

nhanh kim ngạch xuất khẩu.
• Gia công xuất khẩu
Gia công xuất khẩu là một hình thức xuất khẩu lao động nhưng là loại lao động dưới
dạng được sử dụng tại chỗ ( được thể hiện trong hàng hóa), chứ không phải dưới dạng
xuất khẩu nhân công ra nước ngoài.
• Đầu tư cho xuất khẩu
Theo các nhà chuyên môn, mức tiêu dùng thực tế của dân ta trong những năm gần
đây thực tế đã giảm. Nhà nước đang có chủ trương kích cầu chính là tăng mức tiêu dùng
của dân cư nhằm tạo ra tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế quốc dân. Vai trò đẩy mạnh
xuất khẩu đang là hướng trọng điểm nhằm cải thiện mức tổng cung, tăng thu nhập cho
nông dân, đạt mục tiêu kích cầu đã đề ra.
Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu: gồm vốn đầu tư trong nước và nước
ngoài ( gồm ODA, FDI, vốn vay thương mại từ nước ngoài, vốn đầu tư của các cơ quan
ngoại giao….)
• Lập các khu chế xuất:
Lợi ích :
- Thu hút được vốn và công nghệ.
- Tăng cường khả năng xuất khẩu tại chỗ
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
- Góp phần làm cho nền kinh tế nước chủ nhà hòa nhập với nền kinh tế thế giới và
của các nước trong khu vực.
• Nhà nước thực hiện bảo hiểm đối với XK:
Để khuyến khích thương nhân mạnh dạn đẩy mạnh xuất khẩu bằng cách bán
chịu, các quỹ bảo hiểm xuất khẩu của nhà nước đứng ra đền bù nế bị mất vốn.
• Nhà nước thực hiện tín dụng xuất khẩu:
• Nhà nước thực hiện trợ cấp xuất khẩu:
Đây là sự ưu đãi về tài chính mà nhà nước dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi
họ bán được hàng ra thị trường bên ngoài, giúp cho cá doanh nghiệp tăng thu nhập; tạo
điều kiện để doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, tạo
điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu.

công nghiệp hóa đất nước
- Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế.
- Góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu vừa thỏa
mãn nhu cầu trực tiếp về hàng tiêu dùng ; đảm bảo đầu vào cho sản xuất,tạo việc
làm ổn định cho người lao động đồng thời qua đó tác động tích cực lại công tác
xuất khẩu.
• Nguyên tắc của chính sách nhập khẩu:
Chính sách nhập khẩu cảu nước ta hiện nay phải được đề ra phù hợp với những
nguyên tắc chung về chính sách bào hộ mậu dịch của các tổ chức quốc tế.
- Sử dụng ngoại tệ với tinh thần tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao,.
- Dành ưu tiên cho việc nhập khẩu tư liệu sản xuất đồng thời có chú ý thích đáng
nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu cho đời sống nhân dân.
- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước tong nước phát triển, tăng nhanh xuất
khẩu
- Kết hợp giữa nhập khẩu và xuất khẩu
- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước nước phát triển, tăng nhanh xuất khẩu
- Kết hợp giữa nhập khẩu và xuất khẩu
- Xây dựng thị trường nhập khẩu ổn định vững chắc và lâu dài.
• Chính sách nhập khẩu của Việt Nam :
Chính sách nhập khẩu giai đoạn 2001- 2010 được đề ra cụ thể như sau:
- Nhập khẩu phải được định hướng chặt chẽ; tăng trưởng bình quân của nhập khẩu
cả thời kỳ 2001- 2010 được duy trì ở mức 145 năm.
- Chú trọng nhập khẩu công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu của các ngành chế biến
nông, lâm, thủy hải và sản xuất hàng công nghiệp nhẹ; đồng thời phải gắn với
việc phát triển, sử dụng các công nghệ , giống cây con và vật liệu mới được sản
xuất trong nước.
Hàng nhập khẩu có thể chia làm 3 nhóm ngành hàng:
• Thiết bị máy móc: Gồm máy móc, nguyên vật liệu, công nghệ được nhập bảo
đảm sự hoạt động hoàn chỉnh của công trình. Khi nhập khẩu thiết bị phải cố gắng
đạt được các yêu cầu theo thứ tự ưu tiên sau:

nước ta.
• Về xuất khẩu hàng hoá :
Năm 2008, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương đương 73% GDP,
tăng 33,9% so với năm 2007. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của năm 2008 đạt
mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước đó. Khu vực doanh nghiệp FDI đạt kim
ngạch xuất khẩu 37,3 tỷ USD (kể cả dầu khí), chiếm tỷ trọng 57,4% tổng kim ngạch cả
nước và tăng 34,6% so với năm 2007. Doanh nghiệp vốn trong nước chỉ đạt 27,7
tỷ USD, chiếm tỷ trọng 42,6% tổng kim ngạch cả nước và tăng 36,5% so với năm 2007.
Năm 2007 – 2008, tốc độ xuất khẩu tăng nhanh hơn 2 lần so với tốc độ tăng GDP;
tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cao gấp 1,6 lần so với tổng giá trị GDP. Gia
nhập WTO, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam duy trì và mở rộng cả thị trường
truyền thống và thị trường xuất nhập khẩu lớn của thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản,
đến năm 2008 Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 230 nước trên thế giới, trong đó
hàng hoá của ta xuất sang 219 nước.
Trong 3 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng. Một số mặt hàng tăng
khá, mặt hàng gạo đạt 1.743 nghìn tấn, tăng 71,3%; Hạt tiêu: 25 nghìn tấn, tăng 64,5%.
• Về nhập khẩu hàng hoá :
Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 của Việt nam đạt 84 tỷ USD, tăng 34% so với năm
2007. Trong đó kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
là 28,5 tỷ USD, chiếm 33,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100%
vốn trong nước ước đạt 55,5 tỷ USD, chiếm 66,1% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước
và tăng 35,5% so với năm 2007.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn là máy móc, thiết bị, phụ tùng, xăng dầu,
thép… Thị trường nhập khẩu năm 2008 tập trung chủ yếu vào Châu Á, trong đó nổi bật
là các thị trường Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan…
Nhập khẩu quý I/ 2009 giảm mạnh. Một số mặt hàng giảm mạnh như: sữa và sản
phẩm sữa thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, xăng dầu…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status