ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------
Hoàng Thị Thúy
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐỊA MẠO DẢI VEN BIỂN
TỈNH BÌNH THUẬN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------
Hoàng Thị Thúy
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐỊA MẠO DẢI VEN BIỂN TỈNH
BÌNH THUẬN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã Số: 60850101
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Vũ Văn Phái
3. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu .................................................................. 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu và cấu trúc luận văn .................................................. 3
Chương 1................................................................................................................ 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN ĐỊA
MẠO TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH ............................................................. 4
1.1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu tài nguyên địa mạo trong phát triển du lịch
............................................................................................................................ 4
1.1.1. Các khái niệm ....................................................................................... 4
1.1.2. Tài nguyên địa mạo trong phát triển du lịch ...................................... 11
1.1.3. Quy trình thực hiện và các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa mạo ...... 12
1.2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ............................................. 24
1.2.1. Cách tiếp cận hệ thống........................................................................ 24
1.2.2. Các phương pháp nghiên cứu ............................................................. 25
1.3. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu .............................................................. 26
1.3.1. Nghiên cứu địa mạo bờ biển trên Thế giới ......................................... 26
1.3.2. Nghiên cứu địa mạo bờ biển Việt Nam và vùng nghiên cứu .............. 27
Chương 2.............................................................................................................. 29
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO DẢI VEN BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN ....................... 29
2.1. Vị trí địa lý và điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu .................. 29
2.1.1. Vị trí địa lý........................................................................................... 29
2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội ...................................................................... 29
2.2. Các nhân tố thành tạo địa hình bờ biển tỉnh Bình Thuận ...................... 33
2.2.1. Các nhân tố địa chất thạch học .......................................................... 33
2.2.2. Địa hìnhkhu vực nghiên cứu .............................................................. 36
2.2.3. Khí hậu................................................................................................ 38
2.2.4. Chế độ gió ........................................................................................... 39
2.2.5. Đặc điểm thủy, hải văn ....................................................................... 39
ii
iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tiêu chí và các chỉ tiêu đánh giá lựa chọn một di chỉ địa mạo ............... 18
Bảng 1.2: Các đặc trưng, tiêu chí và điểm cho đánh giá giá trị các di chỉ địa mạo.. 19
Bảng 1.3: Các đặc trưng và tiêu chí chứng minh giá trị du lịch của cùng một kiểu di
chỉ địa mạo ............................................................................................................ 22
Bảng 2.1: Lượng mưa trung bình tháng và năm tại trạm khí tượng của Bình Thuận
(mm) ..................................................................................................................... 38
Bảng 2.2: Đặc trưng hình thái các sông tỉnh Bình Thuận ....................................... 41
Bảng 3.1: Tài nguyên địa mạo dải ven biển tỉnh Bình Thuận ................................. 61
Bảng 3.2: Các loại tài nguyên du lịch biển và điều kiện tự nhiên liên quan tới chúng
.............................................................................................................................. 72
Bảng 3.3: Danh mục các bãi biển có khả năng khai thác du lịch bờ biển tỉnh Bình
Thuận .................................................................................................................... 73
Bảng 3.4: Tiêu chí để lựa chọn các di chỉ địa mạo ................................................. 79
Bảng 3.5: Các đặc trưng, tiêu chí và điểm cho đánh giá giá trị các di chỉ địa mạo.. 80
Bảng 3.6: Các đặc trưng và tiêu chí chứng minh giá trị du lịch của các di chỉ địa
mạo ....................................................................................................................... 87
Bảng 3.7: Các điểm tham quan du lịch theo từng loại hình .................................... 89
iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sự tăng dân số trong nửa triệu năm qua và các nền văn hóa tương ứng ... 5
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa địa mạo, địa hình, tài sản và tài nguyên ....................... 7
Hình 1.3: Sự phân cấp tài nguyên du lịch tự nhiên ................................................. 11
sát được trên ảnh vệ tinh ........................................................................................ 51
Ảnh 2.5: Các cồn cát đang di chuyển ở khu vực Bàu Trắng và ở khu vực Đồi Hồng,
phường Mũi Né ..................................................................................................... 52
Ảnh 2.6:Các thế hệ cồn cát phôi thai đang di động ở sát bãi biển và phía xa là các
thế hệ cồn cát đã ngừng di động có trắc diện bất đối xứng khá rõ ở khu vực phía bắc
mũi Kê Gà ............................................................................................................. 53
Ảnh2.7:Bề mặt tích tụ nguồn gốc biển (đầm phá) cải tạo làm đầm nuôi hải sản ở
Hàm Tân ............................................................................................................... 53
Ảnh 2.8:Bề mặt mài mòn-tích tụ cao 15-20 mét phát triển trên đá granit ở khu vực
mũi Kê Gà ............................................................................................................. 55
Ảnh 2.9: Bề mặt mài mòn tích tụ cao trên 30 mét ở khu vực tây-nam Chùa Hang . 56
Ảnh 2.10: Bãi biển đang bị xói lở ở phần trong và tích tụ ở phần ngoài quan sát
được tại đoạn bờ phía bắc thôn Hồng Thắng, xã Hòa Thắng, Bắc bình.Bãi đang bị
xói lở ở Đức Long, Bình Thuận ............................................................................. 57
Ảnh 2.11: Bãi biển mài mòn –tích tụ ở ở mũi LaGan ............................................. 59
Ảnh 2.12:Cuội có độ mài tròn, chọn lọc tốt và kích thước giảm dần từ bậc cao đến
bậc thấp ở phía bắc mũi La Gan............................................................................. 60
Ảnh 2.13: Bãi tích tụ cuội có cấu tạo phân bậc trên đoạn bờ mài mòn-tích tụ ở phía
bắc mũi La Gan và hiện nay đang có dấu hiệu xói lở do tác động của dòng rift ..... 60
Ảnh 3.1: Sườn và đáy bồn thu thủy phát triển trên khối cát đỏ Phan Thiết trong ba
giai đoạn già- trưởng thành- trẻ ............................................................................. 63
vi
Ảnh 3.2:Hệ thống cồn cát thể hiện dãy tiến hóa địa mạo do tác động của gió qua 3
thế hệ: trẻ là các cồn cát phôi thai nằm ngay sát bãi biển, thế hệ thứ 2 đang tiếp tục
di chuyển sâu vào lục địa và thế hệ thứ 3 đã ngưng hoạt động ............................... 64
Ảnh 3.3:Thung lũng Suối Tiên được mở rộng ở thượng lưu và thu hẹp ở hạ lưu .... 66
Ảnh 3.4: Các thế hệ nón tích tụ do dòng chảy nhỏ dọc bờ phải Suối Tiên .............. 67
1. Tính cấp thiết
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, địa hình mặt đất và các quá trình địa mạo tạo
ra nó đã được các nhà khoa học xác định là một loại tài nguyên thiên nhiên. Tài
nguyên thiên nhiên vốn là cơ sở phát triển kinh tế đối với mọi quốc gia. Bởi vậy,
việc tìm kiếm và khai thác, sử dụng các loại tài nguyên để phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội luôn là điều thôi thúc đối với mỗi quốc gia.
Địa hình mặt đất là “sân khấu” để con người trình diễn các hoạt động phục vụ
cho cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của mình. Nó có khả năng đáp ứng, thỏa
mãn nhu cầu của con người về địa bàn cư trú, là bề mặt để con người sử dụng trong
các hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), công nghiệp và xây dựng (nền
tảng để xây dựng các công trình nhà ở, nhà máy xí nghiệp... xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế và xã hội), dịch vụ, phục vụ cho các nhu cầu khác của con người.v.v..
Bình Thuận có vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa các trung tâm du lịch lớn ởphía
Nam như: TP.Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang.Toàn tỉnh có 192 km
bờ biển trải dài từ Cà Ná đến Bình Châu.Đường bờ biển với nhiều tài nguyên địa
mạo đặc thù có giá trị cả về nghiên cứu khoa học, giáo dục, giá trị kinh tế và đặc
biệt là giá trị thẩm mỹ đang phục vụ mạnh mẽ cho phát triển du lịch như:cao
nguyên cấu tạo bằng cát đỏ, đồi cát đang di động ở khu vực Mũi Né, Bàu Trắng, bãi
cuội bảy màu ở La Gan, địa hình karst giả ởSuối Tiên.v.v...và một số các di tích lịch
sử, văn hóa mang kiến trúc độc đáo và giá trị tâm linh như lầu Ông Hoàng, chùa Cổ
Thạch, dinh Thầy Thím.v.v…Bên cạnh giá trị cho phát triển du lịch thì các tài
nguyên địa hình dải ven biển tỉnh Bình Thuận cũng tiềm ẩn các giá trị kinh tế khác,
như trong khối cao nguyên cát đỏ là trữ lượng titan lớn, ước tính đến 558 triệu
tấn(trong báo cáo đề án Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan - zircon trong
tầng cát đỏ Ninh Thuận, Bình Thuận và bắc Bà Rịa-Vũng Tàu của Bộ Tài nguyên
Môi trường do liên đoàn địa chất Trung Trung bộ thực hiện,14/1/2011 ), tuy nhiên
nếu khai thác titan thì chúng ta sẽ mất đi các tài nguyên địa mạo đang sử dụng cho
phát triển du lịch. Thậm trí trong quá trình sử dụng vùng cát còn nhiều vấn đề bất
1
cũng như các nhà quản lý.
3. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định và Đánh giá được tiềm năng cũng như giá trị
của các tài nguyên địa mạo trong bức tranh chung về phát triển kinh tế-xã hội của
tỉnh Bình thuận phục vụ cho phát triển du lịch bền vững.
2
Nội dung nghiên cứu
-
Tổng quancơ sở lý luận về nghiên cứu tài nguyên địa mạo phục vụ phát triển
du lịch.
-
Phân tích đánh giá, làm rõ giá trị của tài nguyên địa mạo trong phát triển du
lịch trêndải ven biển tỉnh Bình Thuận.
-
Đánh giá xu thế phát triển cũng như các xung đột của các di chỉ địa mạo trong
tương lai, đề xuất các hướng giải quyết và tìm phương án bảo tồn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu và cấu trúc luận văn
Để đạt được mục tiêu và thực hiện tốt các nội dung trên, luận văn có các
nhiệm vụ chính sau đây:
-
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN ĐỊA
MẠO TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu tài nguyên địa mạo trong phát triển du lịch
1.1.1. Các khái niệm
- Địa mạo học
Thuật ngữĐịa mạo học đã được đưa vào văn liệu các khoa học về Trái Đất từ
cuối thế kỷ XIX. Từ một khái niệm, đến nay địa mạo học đã trở thành một khoa học
trong đại gia đình các Khoa học Trái Đất, cũng giống như địa hóa học, địa vật lý,
thủy văn học, địa chất học…Tuy nhiên nền tảng của khoa học địa mạo đã có từ rất
lâu đời, Herodotus (485?-425 Tr.CN)đã từng nói “Ai Cập có món quà của dòng
sông” còn giữa thế kỷ XVIII, J. Hotton đã quan niệm rằng “Hiện tại là chìa khóa
đối với quá khứ” Địa mạo học ngày càng phát triển cả về cơ sở lý thuyết cũng như
ý nghĩa thực tiễn[14].
Theođịnh nghĩa địa mạo học trước đây: “địa mạo học là một bộ môn khoa học
nghiên cứu địa hình bề mặt trái đất về các mặt hình thái, nguồn gốc phát sinh, lịch
sử phát triển”[4],còn khái niệm địa mạo hiện đại thì phát biểu như sau: “địa mạo học
là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành và hệ thống về địa hình và các quá trình hình
thành cũng như làm thay đổi chúng”[14]. Có thể nói rằng toàn bộ hoạt động của con
người đều liên quan chặt chẽ với địa hình của nơi cư trú. Chính vì vậy, việc sử dụng
địa hình để vừa làm nơi cư trú, đồng thời vừa làm một trong các tư liệu sản xuất
quan trọng nhất của con người. Do đó tầm quan trọng và những ảnh hưởng của địa
hình đến khí hậu, thủy văn, thực vật và sự phát triển văn hóa của con người đã được
quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Ngược lại, chính những tác động của con người
đến địa hình trong tiến trình phát triển kinh tế-văn hóa của mình đã làm cho cả địa
hình, cũng như các quá trình thành tạo ra nó (quá trình địa mạo) bị biến đổi[14]. Địa
hình là một hợp phần quan trọng của môi trường, giữ vai trò là nền tảng của hệ
4
dụng địa hình phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống, cho các hoạt động sản xuất
và sinh hoạt ngày càng phát triển. Con người sử dụng các dạng địa hình khác nhau
để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (đường giao thông, công trình thủy điện,
đập ngăn lũ…), trong sản xuất (địa hình đồng bằng để trồng lương thực, địa hình
đồi thấp trồng cây ăn quả, và cây công nghiệp ngắn ngày…). Đến nay, địa hình
được sử dụng trong mọi lịnh vực như sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công
nghiệp, thủy điện, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, thể thao, du lich, giải trí….
Tuy góp mặt trong nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế-xã hội, nhưng việc sử dụng
địa hình lại không được nhận thức đúng đắn. Con người dường như không chú ý
đến vấn đề rằng mình đang sử dụng địa hình, mà coi đó là một nền tảng tất yếu phải
có. Do vậy, con người đã không xác định đúng vị trí của địa hình trong hoạt động
sản xuất cũng như trong đời sống của mình và sử dụng địa hình một cách bừa bãi
dẫn đến việc phá hủy địa hình, gây ra các tai biến có hại cho chính con người. Từ
thực tế đó, ta có thể thấy địa hình là một loại tài nguyên thiên nhiên đã được con
người khai thác và sử dụng như bao loại tài nguyên khác để phục vụ cho cuộc sống
của mình. Từ việc coi địa hình là một loại tài nguyên thiên nhiên, ta đi đến việc
phân chia các đơn vị địa mạo để phục vụ cho việc sử dụng hợp lý địa hình và tổ
hợp các nhân tố địa mạo trong đánh giá đến tác động môi trường và xu thế phát
triển theo thời gian của các loại tài nguyên đó trong tổng thể lãnh thổ.
-
Tài nguyên địa mạo(geomorphological resources)
Theo Panizza[35], địa hình và các quá trình địa mạo được đánh giá là tài nguyên
thông qua 4 chỉ tiêu: khoa học, văn hóa, kinh tế-xã hội và phong cảnh. Trong đó chỉ
tiêu khoa học phải đảm bảo được 4 đặc trưng là: 1- là mô hình tiến hóa địa mạo; 2-
6
2000 và sáng kiến về công viên địa học (Initiative on Geoparks) được UNESCO
thông qua vào năm 2003 [Reynard và đồng nghiệp 2007]
7
Cả địa mạo và đa dạng địa học đều có chung đối tượng nghiên cứu đó chính là
địa hình và các quá trình thành tạo ra chúng. Vậy địa mạo trong nghiên cứu đa dạng
địa học là nghiên cứu về hình thái, trắc lượng hình thái của các dạng địa hình, các
quá trình động lực trong quá khứ và hiện tại hình thành các di chỉ địa học hay di chỉ
địa mạo.
Di chỉ địa mạo nằm trong hệ thống các di chỉ địa học (geosites) được định
nghĩa là“những vị trí của địa quyển có tầm quan trọng để nhận thức về lịch sử Trái
đất.Chúng được phân định về không gian và có sự khác biệt rõ rệt với xung
quanh”(theo bách khoa thư địa mạo). Di chỉ địa mạo có vị trí tầm quan trọng trong
việc tìm hiểu lịch sử phát triển của một lãnh thổ nào đó ở quy mô thời gian và
không gian khác nhau, hay có giá trị thẩm mỹ trong phát triển du lịch. Và trong
nghiên cứu mối quan hệ địa hình-du lịch, đến nay, đã được cụ thể hóa là nghiêncứu
các di chỉ địa học (geosite) và các di chỉ địa mạo (geomorphosite). Những nghiên
cứu đầu tiên về di chỉ địa mạo đã được hướng dẫn ở Italy, Thụy Sĩ, Vương Quốc
Anh và Tây Ban Nha vào đầu thạp kỷ 1990, sau này trở thành một lĩnh vực quan
tâm đối với các nhà địa mạo, bao gồm cả ở Ru Ma Ni. Những nghiên cứu này đã
được hướng dẫn bởi một danh sách khá dài của các nhà địa lý và địa chất,như
Reynard (2002, 2004, 2008, 2009), Pralong (2004), Panizza (2001), Panizza và
Piacente (2003),Wimbledon (1996), Grandgirard (1997, 1999), Avanzini và đồng
nghiệp(2002), Poli (1999), Brancucci và Burlando (2001), Serrano (2002).
Bertacchini (1996), Piacente (2001), Brancucci, (2003), De Waele và đồng nghiệp
(2004) Piccini và đồng nghiệp (2005), Hoblea (2009), Dowling và Newsome (2006,
2008)-những người đã xác định các quan niệm, các phương pháp đánh giá được
phát triển. Và năm 2001-Hội địa mạo Quốc tế thành lập nhóm nghiên cứu di chỉ địa
công nhận là kỳ quan hay di sản, thì công tác bảo vệ và bảo tồn được đặt lên hàng
đầu. Riêng đối với các loại tài nguyên địa hình được sử dụng trực tiếp (chẳng hạn,
các tài nguyên địa hình phục vụ phát triển du lịch) phải luôn luôn được bảo vệ để sử
dụng được lâu dài.
- Du lịch và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch
+ Du lịch
Trong cuốn cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan, với nội dung khá chi tiết
nhà địa lý Belarus đã nhấn mạnh: “du lịch là một dạng hoạt động của cư dân trong
thời gian nhàn rỗi có liên quan đến sự di cư và lưu trú tạm thời ngoài nơi thường
xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức
9
văn hóa hoặc hoạt động thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên,
kinh tế, văn hóa và dịch vụ”[8].
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch
họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa như sau về du lịch[6] “ Du lịch là
tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các
cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi thường xuyên
của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là
nơi làm việc của họ”.
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam
đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các chuyên
gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực
của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí xem danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hòa nghệ thuật, v.v..Theo nghĩa thứ hai,
du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt:
nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó
góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với nước ngoài là tình hữu nghị với
các loại đá và khoáng vật với các quá trình đã và đang thành tạo chúng (hình 1.3)
Cảnh quan
Địa hình
Kiểu đá
Trầm tích
Thổ nhưỡng
Tinh thể
Hình 1.3: Sự phân cấp tài nguyên du lịch tự nhiên(Theo Ross Dowling và David Newsome[29])
Có thể thấy, địa hình và các quá trình địa mạo có vai trò quyết định cho các
loại hình du lịch vì:
Bề mặt đất là nơi diễn ra các hoạt động của khách du lịch, là đối tượng để
xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch. Yếu tố hình thái, trắc lượng hình thái,
11
thành phần thạch học của địa hình có thể là khó khăn hay thuận lợi cho các hoạt
động trên.
Các quá trình địa mạo tạo ra các đặc trưng, đặc thù về dạng địa hình, tạo ra
các “phong cảnh- có giá trị thẩm mỹ” để thu hút du khách tới tham quan.
Tùy thuộc vào các dạng địa hình mà có những loại hình du lịch phù hợp:
vách biển phát triển loại hình du lịch leo núi, hấp dẫn với những người thích
mạo hiểm.
Khi phân tích mối quan hệ địa hình-du lịch, người ta có thể lưu ý trước tiên
tới tương tác cặp đôi giữa 2 hợp phần này: Địa hình có thể tạo ra du lịch và có thể
ảnh hưởng đến sự phát triển của nó, giúp cho việc xây dựng các yếu tố hợp thành về
cơ sở hạ tầng du lịch, trong khi du lịch có tác động đến địa hình, cả thông qua khả
cuối cùng là bản đồ an toàn du lịch đó là kết quả của quá trình tích hợp dữ liệu,
khoa học và sản phẩm để nghiên cứu toàn diện về di chỉ địa mạo trong mối quan hệ
với cả tai biến thiên nhiên và du lịch[44]. Kết quả cuối cùng này là sự gợi mở sâu hơn
cho các công trình nghiên cứu tiếp theo của các tác giả khác hoặc của chính tác giả
trong thời gian tới.
Hình 1.4: Tích hợp dữ liệu, khoa học và sản phẩm để nghiên cứu toàn diện về di chỉ
địamạo trong mối quan hệ với cả tai biến thiên nhiên và du lịch[44]
13
b) Cơ sở tài liệu
Học viên trong quá trình học tập tại trường và làm việc tại Bộ môn địa mạo
và địa lý môi trường biển, khoa Địa lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Học
viên có cơ hội được tham gia gúp đỡ các thầy trong các Đề tài: “Nghiên cứu đánh
giá biến động đường bờ biển các tỉnh Nam Bộ dưới tác động của biến đổi khí hậu
và mực nước biển dâng” Mã số:BĐKH.07 do PGS.TS. Vũ Văn Phái chủ nhiệm, đề
tài cấp nhà nước thực hiện năm 2012-2013. Vũ Văn Phái, 2012. Đề tài “Nghiên cứu
biến động bờ biển trong mối quan hệ với mực nước biển dâng phục vụ quy hoạch và
quản lý môi trường đới bờ biển các tỉnh cực Nam Trung Bộ - Đông Nam Bộ”.
Đề tài đã cung cấp dữ liệu cũng như tạo điều kiện cho học viên thực địa khảo
sát thực địa tại vùng nghiên cứu.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện luận văn học viên cũng sử dụng các kết
quả có liên quan tới nội dung nghiên cứu đã được nhiều nhà khoa học công bố trong
cả nước. Bản đồ địa chất 1/200.000 và bản đồ địa hình 1/50.000 VN2000 năm 2004
của vùng nghiên cứu.
- Các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa mạo
Nếu chia tài nguyên phục vụ phát triển du lịch thành 2 loại cơ bản là tự nhiên và
nhân văn, thì địa hình và các quá trình địa mạo là nguồn tài nguyên thiên nhiên phát
yếu tố không thể thiếu được trong một hệ sinh thái: Một vài vùng đất ngập nước hoặc
các tích tụ mảnh vụn là những ví dụ rõ rệt. Tuy nhiên, trong trường hợp này, các môn
học khác, như Động vật học hay Thực vật học, hơn là Địa mạo học, sẽ chỉ ra sự đóng
góp khoa học của tài sản địa mạo. Trong những trường hợp khác, việc xác định giá trị
khoa học của những đặc điểm hình thái đặc biệt, như hang động hoặc mái đá mà đã
có lúc là vị trí cư trú của người cổ đại, có thể lại nằm trong ranh giới của Khảo cổ học
Mỗi đặc trưng trên đây có thể thừa nhận giá trị cao hay thấp nhờ mức độ hiếm
có của nó, nghĩa là tầm quan trọng của nó về mặt không gian; do đó, mức độ khác
nhau về tầm quan trọng có thể được quy cho một trong 4 loại đặc trưng đã xác nhận
ở trên:
- Địa phương
- Khu vực
- Siêu khu vực
15
- Rộng rãi trên thế giới.
b) Giá trị văn hóa
Trên quan điểm văn hóa, tài nguyên địa mạo có thể thuộc thế giới của nghệ
thuật hoặc thuộc truyền thống văn hóa, ví dụ như: các cảnh quan đã được vẽ bởi
danh họa Venetian vào thế kỷ XVI, hoặc núi Olimpơ, nơi ở của các vị thần ngoại giao.
Một tài nguyên địa mạo cũng có thể thu được giá trị kinh tế-xã hội, nếu nó
có thể được sử dụng cho mục đích du lịch hoặc thể thao, ví dụ như thung lũng Alpơ,
một lối mòn cho đi bộ và tham quan Tự nhiên, hoặc một bức tường đá được trang bị
cho leo núi.
Một yếu tố phong cảnh cũng có thể là tài nguyên địa mạo cả ở cảm giác
ngoạn mục, lẫn vì sự hấp dẫn của nó là một sự thu hút, mà có thể làm cho nó dễ
dàng hơn đối với con người tiếp cận các vấn đề môi trường và làm tăng hiểu biết và
nhận thức của họ.