ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Bùi Xuân Sáng
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAOHIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐTUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Bùi Xuân Sáng
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐTUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã số: 8850101
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Phương Mai
Thái Nguyên, năm 2020
tin cần thiết liên quan. Cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã động
viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Xuân Sáng
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................... ii
MỤC LỤC .................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT............................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................... vivii
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................ vivii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Ý nghĩa đề tài ............................................................................................ 2
3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................ 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................. 2
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................ 3
1.1. Tổng quan về chất thải y tế .................................................................... 3
1.1.1. Cơ sở pháp lý ................................................................................... 3
1.1.2.Khái niệm và các thuật ngữ liên quan .............................................. 5
1.1.3. Phân định và phân loại chất thải y tế ............................................ 6
1.2.Tác động của chất thải y tế đến môi trường và con người...................... 8
3.1.2. Công tác vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế ............................ 39
3.1.3. Công tác quản lý nhà nước bảo vệ môi trường tại cơ sở y tế trên địa
bàn thành phố Tuyên Quang .................................................................... 44
3.2. Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý,
xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Tuyên
Quang .......................................................................................................... 49
3.2.1. Giải pháp thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý ............ 49
3.2.2. Giải pháp kiểm soát và giảm thiểu ................................................ 55
3.2.3. Giải pháp về mặt thể chế, chính sách ............................................ 56
3.2.4. Giải pháp về cơ cấu tổ chức quản lý môi trường........................... 57
3.2.5. Giải pháp về mặt truyền thông....................................................... 58
3.2.6. Giải pháp về mặt tài chính ............................................................. 59
3.2.7. Các giải pháp khác ......................................................................... 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 64
Phụ lục 1 - MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC TẾ ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT
..................................................................................................................... 66
Phụ lục 2 - MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA THU THẬP THÔNG TIN ............. 69
iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Tên ký hiệu
1.
CTYT
Chất thải y tế
8.
CTLN
Chất thải lây nhiễm
9.
CTNH
Chất thải nguy hại
10.
CTR
Chất thải rắn
11.
CTRYT
Chất thải rắn y tế
12.
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam,
18.
TTLT
Thông tư liên tịch
19.
UBND
Ủy ban nhân dân
20.
XLNT
Xử lý nước thải
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới ...................... 2726
Bảng 1.2. Quy mô giường bệnh của các cơ sở y tế ............ Error! Bookmark not
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Tuyên Quang nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, có tọa độ
địa lý 21047’đến 21053’ độ vĩ Bắc và 105011’ đến 105017’ độ kinh Đông. Thành
phố Tuyên Quang tiếp giáp với huyện Yên Sơn và huyện Sơn Dương và nằm cận
về phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách thủ đô Hà Nội 165 km, cách trung tâm
tỉnh Hà Giang về phía Bắc 154 km.
Thành phố Tuyên Quang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
tỉnh Tuyên Quang, có mật độ dân số cao nhất tỉnh, có trình độ dân trí cao và tương
đối đồng đều; là 1 trong 4 tiểu vùng quan trọng của Vùng chiến khu cách mạng
ATK liên tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quang - Bắc Kạn. Trong nhiều năm qua,
thành phố Tuyên Quang có bước phát triển khá nhanh trên các lĩnh vực công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Tốc độ xây dựng và phát triển
đô thị nhanh với hệ thống hạ tầng đô thị được xây dựng cơ bản đồng bộ, hiện đại,
nhiều dự án, công trình hạ tầng được đầu tư xây dựng với quy mô lớn góp phần
quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và nâng cao chất lượng sống của
người dân; vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị từng bước được cải thiện.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, công tác chăm sóc sức khỏe ngày
càng được quan tâm chú trọng, nhu cầu được khám chữa bệnh của người dân ngày
một lớn hơn… Hệ thống cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Tuyên Quang hiện có
08 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 01 Trung tâm kiểm soát dịch bệnh của tỉnh,
01 Trung tâm y tế của thành phố và hệ thống các phòng khám đakhoa, chuyên
khoa tư nhân thực hiện khám, điều trị bệnh...
Tuy nhiên, ngoài các lợi ích phục vụ dân sinh thì các cơ sở y tế cũng đồng
thời tạo ra một lượng chất thải y tế rất lớn, nhất là chất thải rắn y tế (CTRYT).Chất
thải y tế nếu không được phân loại, thu gom, xử lý đúng cách sẽ ẩn chứa nhiều
mầm bệnh nguy hiểm lây lan đến sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, nó còn ảnh
hưởng tới nguồn tài nguyên đất, nước, không khí. Chính vì vậy việc quản lý chất
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về chất thải y tế
1.1.1. Cơ sở pháp lý
Các văn bản pháp lý do Chính phủ, bộ, ngành, trung ương ban hành
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014;
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về
quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động
môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về việc Về
quản lý chất thải và phế liệu;
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, những hành vi
bị xử phạt do vi phạm về quản lý chất thải nguy hại;
- Nghị định số 40/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật
Bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 31/2013/ TT-BYT ngày 15/10/2013 của Bộ Y tếQuy định về
quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh
viện;của Bộ Y tế
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của
Liên Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế;
- Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 40/2019/NĐCP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị
định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và quy định
quản lý hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường;
3
Quang đến năm 2020;
4
- Quyết định 194/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang
về việc phê duyệt kế hoạch quản lý chất thải y tế tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 20152020: mục tiêu đến năm 2020;
- Hướng dẫn số 40/HD-CCBVMT ngày 20/4/2018 của Chi cục bảo vệ môi
trường tỉnh Tuyên Quang về việc hướng dẫn công tác thu gom, lưu giữ và quản lý
chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;
1.1.2.Khái niệm và các thuật ngữ liên quan
- Môi trường:Theo Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Môi trường
bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng
đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015
của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường:
- Chất thải rắn:Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động
của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và
nước thải y tế.
→ Vậy Chất thải rắn y tế là là chất thải ở thể rắn hoặc sệt, phát sinh trong
quá trình hoạt động của cơ sở y tế.
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc
tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm
và chất thải nguy hại không lây nhiễm.
- Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom,
lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện.
- Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải
chất thải y tế.
- Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và
vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế.
nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;
d) Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác
động vật thí nghiệm.
(2) Chất thải nguy hại không lây nhiễm
a) Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
6
b) Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy
hại từ nhà sản xuất;
c) Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và
các kim loại nặng;
d) Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
đ) Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TTBTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải
nguy hại.
(3) Chất thải y tế thông thường
a) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con
người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
b) Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh
mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng
có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại;
c) Sản phẩm thải lỏng không nguy hại.
Phân loại chất thải y tế
Tại điều 6 của Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày
31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường, chất thải rắn y tế được
phân loại như sau:
(1) Nguyên tắc phân loại chất thải y tế
a) Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để
quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;
b) Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ,
hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng.
1.2.Tác động của chất thải y tế đến môi trường và con người
1.2.1. Tác động tới môi trường
Hiện nay ở nước ta, hầu hết các cơ sở y tế đều nằm xen lẫn với các khu dân
cư, nên việc xử lý chất thải y tế không đúng quy địnhsẽ làm ô nhiễm môi trường,
8
ảnh hưởng đến đời sống nhân dân khu vực xung quanh. Chất thải y tế có thể tác
động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước,
không khí. Mặt khác, việc xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra ô
nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên thiên nhiên.
Tác động gây ô nhiễm môi trường nước:Nguy cơ chất thải độc hại có trong
chất thải y tế có thể làm cho nguồn nước của môi trường sống bị nhiễm bẩn.
Chúng có thể chứa Salmonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, trực khuẩn Gram âm
đa kháng, kim loại nặng, chủ yếu là chất thủy ngân từ nhiệt kế bị vỡ và chất bạc
từ quá trình tráng rửa phim X quang. Ngoài ra một số loại dược phẩm được thải
ra mà không qua xử lý cũng có thể gây nhiễm độc nguồn nước. Đặc tính của nước
thải này chứa nhiều mầm bệnh và các hóa chất độc hại nếu không quản lý tốt khi
vào nguồn nước sẽ gây ra những tác động cực kỳ nghiêm trọng. Các loại chất độc
hại lan truyền vào nguồn nước làm suy giảm chất lượng nước mặt, nếu xâm nhập
vào nước ngầm sẽ đặt ra nhiều thách thức đối với việc quản lý tài nguyên nước.
Ngoài ra, nếu khu vực tập trung chất thải rắn y tế không có mái che, nhà lưu giữ
chất thải rắn không có nền đảm bảo vệ sinh thì nước mưa sẽ hòa tan, vận chuyển
các chất đi xa gây ô nhiễm nước, ô nhiễm đất.
Tác động gây ô nhiễm đến môi trường đất: Chất thải rắn y tế không được
xử lý bảo đảm an toàn, các mầm bệnh, ký sinh trùng, hóa chất độc hại trong chất
thải y tế nếu không được xử lý tốt, hay xử lý chôn lấp không hợp vệ sinh hay chất
bùn của hệ thống xử lý nước thải sẽ là yếu tố làm ảnh hưởng đến môi trường. Các
chất ô nhiễm phân tán, thoát ra bên ngoài gây ô nhiễm nguồn nước và đất làm suy
chất thải, vận chuyển rác, giặt là; công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất
thải như bãi rác hoặc lò đốt, kể cả những những người lượm nhặt rác... đều có thể
bị phơi nhiễm chất thải y tế nguy hại.
Nguy cơ chất thải lây nhiễm gồm vi sinh vật gây bệnh có trong chất thải.
Chúng có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua nhiều đường khác nhau như vết
thương, vết cắt trên da, niêm mạc; hệ thống hô hấp, hệ thống tiêu hóa... Sự xuất
hiện các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên
quan đến thực trạng quản lý, xử lý chất thải y tế không an toàn. Vật sắc nhọn
không chỉ gây ra vết thương trên da mà chúng còn gây nhiễm trùng vết thương
nếu chúng bị nhiễm bẩn. Thương tích do vật sắc nhọn gây nên là một loại tai nạn
thương tích thường gặp trong các cơ sở y tế, bệnh viện. Trước đây, một khảo sát
10
của Viện Y học lao động và môi trường ghi nhận 35% số cán bộ, nhân viên y tế
bị thương tích do vật sắc nhọn gây nên và 70% trong số đó bị tổn thương do vật
sắc nhọn trong sự nghiệp y tế. Sự tổn thương do vật sắc nhọn sử dụng trong y tế
có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV, HBV và HCV.
Theo thống kê có khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là do
thương tích vì vật sắc nhọn và kim tiêm. Ngoài ra, việc tái chế, tái sử dụng hoặc
xử lý không an toàn chất thải y tế lây nhiễm bao gồm cả chất nhựa và các vật sắc
nhọn có thể có tác động lâu dài đến sức khỏe của cộng đồng người dân.
Nguy cơ chất thải hóa học và dược phẩm gồm nhiều loại hóa chất và thuốc
men sử dụng trong cơ sở y tế, bệnh viện. Đây là các chất nguy hại như chất gây
độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc... nhưng thường với khối
lượng thấp. Sự phơi nhiễm hóa chất độc hại nguy hiểm có thể cấp tính hoặc mãn
tính qua đường da, niêm mạc, hô hấp, tiêu hóa. Sự tổn thương ở da, mắt và niêm
mạc đường hô hấp có thể gặp phải khi tiếp xúc với các loại hóa chất gây cháy, ăn
mòn, gây phản ứng phụ như formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác. Tổn
thương thường gặp nhất là bỏng. Các hóa chất khử khuẩn được sử dụng phổ biến
rắn nói chung, đặc biệt là đối với chất thải rắn độc hại công nghiệp, chất thải nguy
hại y tế nói riêng. Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có ý nghĩa quan
trọng là làm giảm bớt tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng là chôn
lấp tro, xỉ. Mặt khác, năng lượng phát sinh trong quá trình thiêu đốt có thể tận
dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặccác nghành công nghiệp cần nhiệt và phát điện.
Mỗi lò đốt cần phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải, nhằm khống chế ô
nhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra.
Quá trình thiêu đốt rác thải thường được thực hiện trong các lò đốt rác chuyên
dụng ở nhiệt độ cao, thường từ 850oC đến 1.100oC. Bản chất của quá trình là tiến
hành phản ứng cháy, tức phản ứng ôxy hoá rác thải bằng nhiệt và ôxy của không khí.
Nhiệt độ phản ứng được duy trì bằng cách bổ sung năng lượng như năng lượng điện
hay nhiệt toả ra khi đốt cháy nhiên liệu như gas, dầu diezen...
Hiện tại, ở Việt Nam xử lý chất thải rắn nguy hại y tế chủ yếu bằng lò đốt
công suất nhỏ được trang bị cho từng bệnh viện. Tuy nhiên, các bệnh viện lớn tuyến
trung ương trực thuộc Bộ Y tế có công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý
chất thải y tế được thực hiện tốt. Các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, việc xử lý chất
thải y tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế từng tỉnh. Số bệnh viện tuyến huyện
12
được trang bị lò đốt đạt tiêu chuẩn rất ít. Vì vậy, chất thải y tế thường được đốt
bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện.
Sơ đồ quy trình công nghệ đốt của lò đốt chất thải y tế (Hình 1.1).
Kho lưu chứa chất thải
nguy hại
Khu tập kết chất thải
chờ đốt
Phễu nạp liệu
Quạt cấp khí
Nhược điểm: Hầu hết công nghệ đốt đang áp dụng tại các cơ sở y tế hiện
nay chưa đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và bộc lộ một sốnhược
13
điểm, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thứ cấp như phát thải mùi, tro, bụi và
các chất ô nhiễm khác. Ngoài ra, tại nhiều cơ sở y tế do lượng chất thải y tế lây
nhiễm phát sinh thường không đủ để vận hành liên tục hệ thống lò đốt, dẫn tới chi
phí vận hành, bảo dưỡng và giám sát môi trường trong quá trình vận hành công
nghệ này thường cao hơn so với một số công nghệ khác[15].
1.3.2. Phương pháp xử lý chất thải rắn y tế bằng công nghệ không đốt
Theo tài liệu Hướng dẫn áp dụng công nghệ không đốt xử lý chất thải rắn
y tếcủa Bộ Y tế năm 2015, hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp không đốt
để xử lý chất thải lây nhiễm khác nhau, trong đó có một số công nghệ không đốt
hiệu quả để xử lý CTLN. Dựa trên công suất xử lý, loại chất thải lây nhiễm cần
xử lý... để áp dụng loại công nghệ không đốt phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao
trong xử lý chất thải lây nhiễm.
Nhóm cácphương pháp cơ bản đang được áp dụng để xử lý chất thải lây
nhiễm trên cơ sở khử trùng chất thải lây nhiễm là:
(1)Phương pháp nhiệt độ thấp;
(2)Phương pháp hóa học;
(3)Phương pháp sinh học;
(4) Phương pháp phóng xạ (hiện nay ít được áp dụng).
Trong cácphương pháp xử lý nêu trên,phương pháp nhiệt độ thấp và phương
pháp hóa họcđang được áp dụng phổ biến hiện naytại Việt Nam bên cạnh biện
pháp chôn lấp.Dưới đây là giới thiệu chi tiết về nguyên lý và công nghệ của các
phương pháp này trong xử lý chất thải rắn y tế lây nhiễm[2].
1.3.2.1. Phương pháp nhiệt độ thấp
Phương pháp nhiệt độ thấp là phương pháp sử dụng năng lượng nhiệt để
khử trùng chất thải lây nhiễm tại nhiệt độ không đủ để gây ra sự phá hủy hóa học,
nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu.
Nguyên lý hoạt động: Hơi nước được đưa vào bên trong lớp đệm hơi và
bên trong buồng khử trùng để đạt tới nhiệt độ khử trùng theo yêu cầu. Sau khi
CTLN cần xử lý được đưa vào buồng khử trùng thì nắp buồng khử trùng được
đóng chặt lại. Trong thời gian của một quá trình khử trùng, hơi nước được bơm
liên tục vào buồng khử trùng để duy trì chế độ áp suất và nhiệt độ như đã cài đặt
15
để đảm bảo khử trùng toàn bộ phần CTLN. Sau khi quá trình khử trùng kết thúc,
nhiệt độ và áp suất sẽ dần giảm về ngưỡng an toàn cho việc mở nắp buồng khử
trùng và đưa CTLN đã xử lý ra ngoài.
Ưu điểm: Công nghệ này đã được áp dụng trong khoảng thời gian dài và đã
chứng minh được khả năng khử trùng hiệu quả CTLN; Công nghệ đơn giản, dễ
áp dụng; Đã được chứng nhận và chấp nhận như là công nghệ thay thế tại một số
quốc gia trên thế giới; Đã xác định được yêu cầu về thời gian và nhiệt độ đủ để
khử khuẩn; Có nhiều loại công suất khác nhau, từ vài kg đến vài tấn mỗi giờ; Chi
phí đầu tư tương đối thấp so với các công nghệ không đốt khác; Đối với các chất
thải lây nhiễm có nguồn gốc là nhựa, sau khi xử lý bằng thiết bị này có thể thu
hồi, tái chế để phục vụ cho các mục đích khác; Có nhiều nhà cung cấp thiết bị và
có nhiều loại thiết bị với tính năng tùy chọn.
Nhược điểm: Nếu không bổ sung thêm công đoạn cắt, thì việc sử dụng thiết
bị hấp ướt sẽ không làm biến đổi hình dạng và giảm thể tích của CTLN; Nếu có
các vật thể kim loại trong CTLN sau xử lý có thể làm hỏng máy cắt hoặc giảm
tuổi thọ của lưỡi cắt; Ô nhiễm khí thải do hơi nước phát sinh trong quá trình khử
trùng cần phản có hệ thống xử lý khí thải; Không xử lý được các hóa chất nguy
hại (formaldehyde, phenol, thủy ngân...) lẫn trong phần CTLN cần xử lý; Do hơi
nước bị ngưng tụ trong túi đựng CTLN nên sẽ có khối lượng cao hơn so với CTLN
trước khi xử lý; CTLN cần xử lý có thể bị hạn chế trong việc tiếp xúc trực tiếp
với hơi nước, làm giảm sự truyền nhiệt và làm ảnh hưởng tới hiệu quả khử khuẩn