LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình doanh nghiệp đặc biệt thực
hiện kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tức là nguồn vốn của NHTM chủ yếu là
nguồn vốn huy động từ nền kinh tế thông qua các cá nhân, các tổ chức kinh tế
trong và ngoài nước. Do đó vấn đề huy động vốn như thế nào cho hợp lý, đồng
thời quản trị tài chính, phân bổ sử dụng, bảo đảm và phát triển vốn như thế
nào để đảm bảo hoạt động kinh doanh Ngân hàng an toàn và hiệu quả cao là
lẽ sống còn đối với mỗi Ngân hàng đặc biệt trong điều kiện vô cùng phức tạp
của nền kinh tế thị trường hiện nay.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ hạch toán kinh
doanh nên mọi giao dịch kinh doanh của các tổ chức kinh tế đều thông qua thị
trường. Lúc đầu hoạt động Ngân hàng chỉ đơn giản là các dịch vụ đổi tiền, nó
chỉ phù hợp với buổi bình minh của nền sản xuất hàng hóa. Ngày nay khi nền
kinh tế thị trường phát triển đến trình độ cao của nền kinh tế hàng hóa thì Ngân
hàng có một vị trí và nắm giữ vai trò vô cùng quan trọng. Ngoài chức năng
thông thường của mình, Ngân hàng còn là công cụ để Nhà nước thực thi các
chính sách tiền tệ kinh tế vĩ mô quản lý và điều tiết nền kinh tế có hiệu quả. Một
nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có hệ thống Ngân hàng
phát triển ổn định và vững mạnh nhưng Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp
tự chủ tài chính rất thấp vì vốn tự có chiếm tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn và là
loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro. Tất cả mọi vấn đề an toàn trong kinh
doanh, đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo mục tiêu hoạt động “khả năng
sinh lời” và hoạt động quản trị đều được đặt dưới sự giám sát, kiểm soát bằng
hệ thống văn bản pháp quy chặt chẽ của Nhà Nước nói chung và Ngân hàng
nói riêng bởi sự rủi ro trong thanh toán dẫn đến khủng hoảng “phá sản” của
một Ngân hàng sẽ kéo theo rủi ro trên toàn hệ thống từ đó dẫn đến khủng
hoảng kinh tế tài chính của một quốc gia. Điều đó đã phản ánh rõ nét vai trò
hết sức to lớn của nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn huy động trong quá trình
hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng.
1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1.1. Khái niệm NHTM
dịch vụ hoặc hoa hồng.
Hai là, hoạt động của NHTM phải tuân theo pháp luật nghĩa là chỉ khi
NHTM thỏa mãn đầy đủ các điều kiện khắt khe do pháp luật quy định như điều
kiện về vốn, phương án kinh doanh…thì mới được phép hoạt động trên thị
trường.
Ba là, hoạt động của NHTM là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn
nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc
tới các ngành khác và cả nền kinh tế. Rủi ro đến từ phía Ngân hàng, khách
hàng vay tiền và từ các yếu tố khách quan. Để tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra
Chính phủ các quốc gia đã đặt ra những đạo luật riêng nhằm kiểm soát, đảm
bảo cho hoạt động của Ngân hàng được vận hành an toàn và đúng quy trình
của nó.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của NHTM
Cùng với sự phát triển của NHTM, hoạt động và các dịch vụ của NHTM
ngày càng được mở rộng. Nhưng nhìn chung thì có ba hoạt động chính mà
NHTM thường làm đó là:
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động khác của NHTM. NHTM bản
chất là một tổ chức trung gian tài chính có đặc điểm hoạt động chủ yếu không
phải bằng nguồn vốn chủ sở hữu vì vậy để có nguồn vốn hoạt động, cung cấp
vốn cho nền kinh tế thì NHTM phải huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi trong nền kinh tế thông qua các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu, đi vay từ các tổ chức tín dụng khác hay từ NHTW.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
Sau khi huy động vốn, để bù đắp được chi phí huy động vốn và có lợi
nhuận thì NHTM phải tìm cách sử dụng hiệu quả các nguồn vốn này để thu lãi.
Đây là hoạt động chủ yếu và đem lại tỷ trọng thu nhập lớn nhất cho NHTM.
NHTM sử dụng vốn theo các hướng cơ bản là hoạt động tín dụng, đầu tư
chứng khoán, đầu tư mua sắm tài sản cố định và trang thiết bị, hoạt động ngân
quỹ trong đó hoạt động tín dụng là quan trọng nhất bởi vì nó đem lại phần lớn
kinh tế càng phát triển. Như vậy với khả năng cung cấp vốn NHTM đã trở
thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của quốc gia.
1.1.4.2. NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường
Thị trường ở đây bao gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Để
tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào doanh nghiệp cần phải tham
gia vào thị trường đầu vào, nơi cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho việc
sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện thành công chiến lược 5P:
- Products: sản phẩm
- Price: giá cả
- Promotion: giao tiếp, khuếch trương
- Place: địa điểm
- People: con người
Từ đó tiếp cận mạnh mẽ thị trường đầu ra, đó là nơi tiêu thụ sản phẩm để
tìm kiếm lợi nhuận. Để quá trình trên diễn ra liên tục và bình thường thì doanh
nghiệp cần có “vốn”, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng
về tài chính và NHTM là nơi cần thiết giúp doanh nghiệp cải thiện tình hình đó.
1.1.4.3. NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia và nền tài chính thế giới
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay thì vai trò này của
NHTM ngày một thể hiện rõ rệt hơn. Áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi
quốc gia khi mở cửa hội nhập với bên ngoài phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi
mặt đặc biệt là tiềm lực về tài chính. Để có thể hòa nhập với các quốc gia khác
trên thế giới, hệ thống NHTM trong nước có khả năng cung cấp nhiều loại hình
dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu tư từ nước ngoài vào trong nước như:
thanh toán quốc tế, cho vay ủy thác đầu tư,…giúp cho luồng vốn ra, vào một
cách hợp lý. Đây là điều kiện tiên quyết cho tiến trình hội nhập kinh tế ở các
quốc gia trên thế giới.
1.1.4.4. NHTM là công cụ để Nhà Nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Một trong những con đường dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm phát
qua con đường tín dụng và hoạt động của Ngân hàng góp phần chống lạm
phát: NHTM sẽ kiểm soát lạm phát thông qua các hoạt động tín dụng và bảo
Chức năng tín dụng của NHTM được hình thành rất sớm, ngay từ lúc hình
thành các NHTM. Ngày nay thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM
đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội
được tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
1.1.5.2. Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Chức năng này có nghĩa là Ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản
hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi các khách hàng gửi tiền vào
Ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện
thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có
giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó
khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…).
Chức năng này của NHTM ngày nay đã phát triển đến mức đa dạng,
không chỉ là trung gian truyền thống như trước mà còn quản lý các phương tiện
thanh toán. Đây là chức năng ngày càng quan trọng phù hợp với sự phát triển
và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng tạo
ra những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy
chuyển ngân, thẻ thanh toán..) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu
thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng
hóa. Ở các nước phát triển, phần lớn các công tác thanh toán ở trong nước
được thực hiện thông qua séc và phần lớn séc thanh toán trong nước được
thực hiện bằng thanh toán bù trừ thông qua hệ thống NHTM. Với phương pháp
công nghệ hiện đại hơn, các NHTM từng bước trang bị đầy đủ các máy vi tính
và các phương tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện cho thanh toán bù trừ được
nhanh chóng, giảm bớt chi phí và có độ chính xác cao. Ngoài ra việc thực hiện
chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ
thanh toán đã tạo cơ sở cho Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay.
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển
tiền bằng điện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không
sử dụng séc Ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng
cung ứng.
Từ ba chức năng cơ bản trên có thể thấy được vai trò to lớn của NHTM
trong nền kinh tế. Hoạt động của NHTM đẩy nhanh quá trình thanh toán, giảm
chi phí giao dịch, và tạo môi trường thuận lợi cho quá trình lưu chuyển vốn
nâng cao chất lượng của quá trình tập trung và phân phối nguồn vốn. NHTM
còn là bộ máy tạo tiền, nó có vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách
tiền tệ và góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô dưới sự tác động của NHTW
và các chính sách của Nhà nước.
1.2. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
“Hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng thương mại là hoạt động
mà trong đó các Ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể
khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo
đúng các quy định pháp luật”
Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện
sớm nhất trong hoạt động của các NHTM. Trong giai đoạn sơ khai của hoạt
động Ngân hàng, những nghiệp vụ này chỉ đơn thuần là hoạt động cất giữ các
tài sản có giá nhằm mục đích đảm bảo an toàn, và lúc này, người phải trả phí
là người gửi tiền chứ không phải là các Ngân hàng, các khoản tiền chỉ được
xem đơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóng vai trò là nguồn
vốn đối với các Ngân hàng thương mại, tiền lúc này không được xem là tiền tệ
theo đúng nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển, không sinh ra
được lợi nhuận. Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ Ngân hàng phát triển,
vị thế đó bị đảo ngược, Ngân hàng là người phải trả phí (lãi suất – giá cả của
tín dụng), và nguồn tiền được kí gửi thay đổi vai trò của nó, trở thành nguồn
vốn khả dụng và lớn nhất của các NHTM hiện nay. Chính vì vậy, trái ngược với
quá khứ, Ngân hàng là người phải đi nài nỉ khách hàng gửi tiền. Nếu trước đây,
Ngân hàng là người bị động trong quan hệ này thì hiện nay, hầu hết tất cả các
Ngân hàng đều có các chính sách, phương thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này
và chính vì vậy các phương thức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng,
phong phú và đa dạng hơn. Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn là