Điều kiện tiếp cận hệ thống y tế công ảnh hưởng đến lực chọn tự dùng thuốc trường hợp nghiên cứu tại thành phố hồ chí minh - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

---------------------------------

VŨ THỊ TỨ NỮ

ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN HỆ THỐNG Y TẾ CÔNG ẢNH
HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN TỰ DÙNG THUỐC
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

--------------------------------CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

VŨ THỊ TỨ NỮ

ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN HỆ THỐNG Y TẾ CÔNG ẢNH
HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN TỰ DÙNG THUỐC
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Chính Sách Công
Mã số

: 603114

Nhân đây, tôi xin trân trọng cảm ơn các Giảng viên và Trợ giảng của Chƣơng trình Giảng
dạy Kinh tế Fulbright đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý
báu trong suốt khóa học thạc sĩ hai năm vừa qua.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè đã góp ý, cung cấp cho tôi một số tài liệu hữu ích
và giúp tôi rất nhiều trong quá trình thu thập số liệu.
Những lời cảm ơn chân thành gửi đến Gia đình đã tạo điều kiện, động viên và hỗ trợ cho tôi
trong suốt quá trình học tập.
TP.HCM, Tháng 06 năm 2011
Ngƣời thực hiện luận văn

Vũ Thị Tứ Nữ


iii

TÓM TẮT
Mục đích của bài nghiên cứu là xác định những nhân tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế
công tác động đến lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân Việt Nam, qua đó đề xuất những
kiến nghị chính sách nhằm hạn chế lựa chọn tự dùng thuốc này. Đối tƣợng nghiên cứu là
những ngƣời phụ nữ đã có gia đình đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Bài nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp định tính và định lƣợng để phân tích. Về phƣơng pháp
định tính, trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trƣớc, tác giả tổng hợp đƣợc các yếu tố cơ bản
có liên quan đến khả năng tiếp cận hệ thống y tế công ảnh hƣởng đến lựa chọn tự dùng
thuốc; sau đó sử dụng phỏng vấn nhóm để bổ sung các yếu tố và hiệu chỉnh thang đo, bảng
câu hỏi phỏng vấn. Dựa vào kết quả nghiên cứu định tính, tác giả đề xuất mô hình nghiên
cứu bao gồm 11 nhân tố tác động đến lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân với các thang đo
và giả thuyết về yếu tố đó. Mô hình nghiên cứu này có 5 nhân tố về điều kiện tiếp cận ảnh
hƣởng đến lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân, đó là: (1) Khả năng tiếp cận, (2) Khả năng
sẵn có, (3) Khả năng chi trả, (4) Sự phù hợp, (5) Khả năng chấp nhận đƣợc; ngoài ra còn có
những nhân tố về đặc điểm cá nhân ảnh hƣởng đến lựa chọn này nhƣ: tuổi tác, trình độ học

đợi khám tại các cơ sở y tế công cần đƣợc thực hiện nhƣ: (i) tăng đầu tƣ đào tạo nguồn nhân
lực bác sĩ có chất lƣợng, (ii) tiếp tục thực hiện cơ chế chỉ đạo tuyến (tuyến trên chỉ đạo tuyến
dƣới), (iii) chỉ đạo thực hiện công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh tại cơ sở y tế công,
(iv) tăng giờ mở cửa hoạt động ngoài giờ, (v) thực hiện cơ chế thi đua khen thƣởng về thái
độ phục vụ, (vi) xác định đƣợc khung giá phí một cách hợp lý để bảo vệ quyền lợi của ngƣời
bệnh và cả nhà cung cấp. Tất cả những chính sách trên nhằm hạn chế lựa chọn tự dùng thuốc
của ngƣời dân.
Tuy nhiên, hạn chế của bài nghiên cứu là sử dụng phƣơng pháp lấy mẫu thuận tiện nên chƣa
đảm bảo có một bộ số liệu khách quan để phục vụ tốt hơn cho công việc nghiên cứu.


v

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ...........................................................................................................................ii
TÓM TẮT ............................................................................................................................... iii
MỤC LỤC ................................................................................................................................ v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................................vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ......................................................................................... viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ...................................................................................................... ix
Chƣơng 1 GIỚI THIỆU ........................................................................................................... 1
1.1.

Bối cảnh chính sách.................................................................................................... 1

1.2.

Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................................... 5



Mô hình “Four As” của Good (1987) ................................................................. 8

2.1.3.

Mô hình sử dụng hình thức chăm sóc sức khỏe của Andersen (1995) ............... 8

2.3.

Những nghiên cứu trƣớc và bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam ....................... 11

2.3.1.

Các yếu tố về đặc điểm cá nhân ........................................................................ 11

2.3.2.

Đo lƣờng nhóm nhân tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế ............................ 12

Chƣơng 3 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ..................... 16
3.1.

Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................... 16

3.2.

Mô hình cho đề tài nghiên cứu ................................................................................. 17

3.3.


thuốc chữa bệnh .............................................................................................................. 30
4.4.3.
4.5.

Mối tƣơng quan giữa các biến độc lập trong mô hình ...................................... 32

Hồi quy logistic đa thức: .......................................................................................... 32

4.5.1.

Lựa chọn biến đƣa vào mô hình........................................................................ 32

4.5.2.

Phân tích kết quả hồi quy .................................................................................. 33

Chƣơng 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH ..................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................................... 42
PHỤ LỤC................................................................................................................................ 46
Phụ lục 1: Tổng hợp thang đo cho các nhóm yếu tố ............................................................... 46
Phụ lục 2: Chi tiết mẫu thống kê ............................................................................................. 47
Phụ lục 3: Đánh giá độ tin cậy của thang đo về điều kiện tiếp cận HTYT ............................. 48
Phụ lục 4: Phân tích nhân tố ................................................................................................... 50
Phụ lục 5: Kiểm định quan hệ giữa tuổi tác và lựa chọn tự dùng thuốc ................................. 53
Phụ lục 6: Kiểm định quan hệ giữa trình độ học vấn và lựa chọn tự dùng thuốc ................... 54
Phụ lục 7: Kiểm định quan hệ giữa thu nhập bình quân hộ và lựa chọn tự dùng thuốc ......... 55
Phụ lục 8: Kiểm định quan hệ giữa mức độ bệnh tật và lựa chọn tự dùng thuốc ................... 56
Phụ lục 9: Kiểm định quan hệ giữa sở hữu thẻ BHYT và lựa chọn tự dùng thuốc ................ 57
Phụ lục 10: Kiểm định mối quan hệ giữa tôn giáo và lựa chọn tự dùng thuốc ....................... 58
Phụ lục 11: Kiểm định quan hệ giữa sở thích chọn bác sĩ khám và lựa chọn tự dùng thuốc . 59

TP.HCM

: thành phố Hồ Chí Minh


viii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Tỷ trọng các hình thức chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam năm 2002 ...................... 3
Bảng 1-2: Chi tiêu y tế Việt Nam so sánh với các nƣớc .......................................................... 4
Bảng 2-1: Tóm tắt các mô hình lý thuyết .............................................................................. 10
Bảng 3-1: Tổng hợp các yếu tố sử dụng thang đo Likert ...................................................... 19
Bảng 4-1: Các mục hỏi đƣợc giữ lại sau kết quả đánh giá độ tin cậy.................................... 26
Bảng 4-2: Kết quả phân tích nhân tố ..................................................................................... 27
Bảng 4-3: Ma trận nhân tố ..................................................................................................... 28
Bảng 4-4: Tóm tắt kết quả hồi quy ........................................................................................ 34


ix

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình thực hiện sự lựa chọn của Young (1981) .................................................. 8
Sơ đồ 2.2: Lý thuyết sử dụng hình thức chăm sóc sức khỏe của Andersen (1995) .................. 9
Sơ đồ 3.1: Mô hình cho đề tài nghiên cứu .............................................................................. 18
Sơ đồ 3.2: Các biến trong mô hình ......................................................................................... 22
Sơ đồ 4.1: Mạng lƣới bán lẻ thuốc tại TP.HCM năm 2008 .................................................... 25
Sơ đồ 4.2: Mạng lƣới bán lẻ thuốc đạt GPP tại TP.HCM năm 2008 ...................................... 25
Sơ đồ 4.3: Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và lựa chọn tự dùng thuốc ............................. 29
Sơ đồ 4.4: Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân hộ và lựa chọn tự dùng thuốc ................... 30
Sơ đồ 4.5: Mối quan hệ giữa mức độ bệnh tật và lựa chọn tự dùng thuốc ............................. 30

danh mục thuốc thành hai loại: danh mục thuốc không kê đơn (OTC) và danh mục thuốc kê
đơn. Theo quy định, ngƣời dân chỉ đƣợc mua thuốc kê đơn khi có toa thuốc của bác sĩ. Tuy
nhiên, vấn đề tồn tại ở Việt Nam trong nhiều năm nay là ngƣời dân có thể tự mua thuốc kê
đơn mà không có toa thuốc hay theo toa thuốc trƣớc của bác sĩ. Ví dụ nhƣ, thuốc kháng sinh
là thuốc nằm trong danh mục thuốc kê đơn, thế nhƣng mỗi khi bị bệnh mà nghi ngờ nhiễm
khuẩn là ngƣời dân Việt Nam tự đến các hiệu thuốc tƣ nhân mua thuốc kháng sinh về dùng
hay dùng thuốc kháng sinh dự trữ sẵn ở nhà trƣớc khi đƣợc kiểm tra chẩn đoán bệnh của bác
sĩ. Việc tự mua thuốc kháng sinh khi cần mà không có toa bác sĩ có thể gây ra hậu quả
nghiêm trọng không những cho ngƣời bệnh mà còn cho cộng đồng, bởi vì việc dùng kháng


2

sinh không đúng liều lƣợng có thể gây ra lờn thuốc. Theo Nguyễn Hữu Đức (2008) thì khi
lờn một loại thuốc nào thì phải tăng liều hay phải thay thuốc khác, nhƣng nếu tăng liều mãi
sẽ dẫn đến liều độc. Một khi ngƣời bệnh đã lờn với tất cả loại thuốc thì bệnh tật khó có thể
cứu đƣợc, siêu vi khuẩn kháng thuốc này có thể truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác và kết
quả là trở thành thảm họa của nhân loại.
Thực trạng về hành vi tự dùng thuốc chữa bệnh tại Việt Nam
Tự mua thuốc để chữa bệnh mà không qua khám bệnh là hành vi phổ biến ở các nƣớc đang
phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong một thống kê của Ngân hàng Thế giới từ số liệu
khảo sát y tế Việt Nam năm 2001–2002, sự lựa chọn tự dùng thuốc tự điều trị ở nông thôn và
thành thị đều tƣơng đƣơng nhau và chiếm tỷ lệ cao nhƣ là sự lựa chọn đầu tiên trong việc tìm
kiếm sức khỏe (Bảng 1-1). Ngay cả đối một thành phố đƣợc xem là trung tâm kinh tế, văn
hóa, xã hội của Việt Nam nhƣ thành phố Hồ Chí Minh thì tình hình tự dùng thuốc chữa bệnh
tại đây cũng đƣợc cho là hiện tƣợng phổ biến. Trong bài nghiên cứu của Le Van Thanh
(2007) thực hiện khảo sát về tình hình kinh tế xã hội ngoại thành của TP.HCM cho kết quả là
tỷ trọng ngƣời mua thuốc tại hiệu thuốc mà không có toa bác sĩ tại quận Gò vấp là 61%,
quận Bình Tân là 83,7%, quận 2 là 100%.
Hành vi tự dùng thuốc chữa bệnh phổ biến nhƣ vậy đã gây ra những phản ứng không mong


Dịch vụ y tế

Tự điều trị

Không điều

Tổng cộng

Vùng

công

tƣ nhân

Nông thôn

12,33

16,81

66,09

4,77

100,00

Thành thị

11,64

nƣớc Việt Nam ta. Tuy nhiên, chính sách y tế, các nguồn lực y tế và cách thức tổ chức hệ
thống y tế ở Việt Nam còn nhiều hạn chế dẫn đến ngƣời dân khó khăn trong việc tiếp cận
dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp nên họ có xu hƣớng lựa chọn việc tự dùng thuốc ở nhà thay
vì đến bác sĩ khám bệnh và kê toa.
Về tài chính y tế tại Việt Nam, theo dữ liệu thống kê năm 2008 của Tổ Chức Y tế Thế giới
cho thấy là phần trăm chi tiêu y tế trong tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam đƣợc so sánh
là cao nhất so với các nƣớc nhƣ: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và
Trung Quốc (Bảng 1-2); trong đó, nguồn chi từ túi hộ gia đình ở Việt Nam lại chiếm tỷ lệ


4

chủ yếu (55,5%) trong tổng chi tiêu y tế– tỷ lệ này thuộc loại cao so với một số nƣớc kể trên
trong khu vực. Số liệu này cho thấy là ngƣời Việt Nam đang phải gánh chịu chi phí y tế cao
so với thu nhập của họ nên chi phí y tế có thể trở thành rào cản đề ngƣời dân tiếp cận dịch vụ
chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp.

Singapore

Thái Lan

Trung Quốc
4,3

100,0

100,0

100,0


6,9

63,7

0,4

7,5

4,7

6,7

25,8

48,4

17,2

43,7

25,4

30,3

68,4

20,9

Malaysia


100,0

55,5

30,1

15,4

40,9

BHYT tƣ nhân

1,7

2,3

2,6

Chi tiêu tƣ nhân khác

4,4

12,4

BHYT xã hội

12,4

Chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc


Nhƣ vậy, với những hạn chế về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế trên, việc nghiên cứu những
yếu tố này ảnh hƣởng tới hành vi tự dùng thuốc của ngƣời dân là vấn đề chính sách quan
trọng, đƣợc sự quan tâm của ban ngành trong lĩnh vực y tế nhằm nâng cao chất lƣợng sức
khỏe cho ngƣời dân.

1.2.

Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Những yếu tố nào về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế công ảnh hƣởng tới lựa
chọn tự dùng thuốc chữa bệnh của ngƣời dân?
Câu hỏi 2: Giải pháp chính sách can thiệp nào của Nhà nƣớc nhằm hạn chế lựa chọn tự dùng
thuốc chữa bệnh của ngƣời dân?

1.3.

Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu này hƣớng đến mục tiêu là xác định yếu tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế
công tác động đến lựa chọn tự dùng thuốc chữa bệnh. Thông qua đó, nó giúp cho nhà hoạch
định chính sách đƣa ra chính sách nhằm hạn chế lựa chọn tự dùng thuốc này nhằm cải thiện
nâng cao sức khỏe của ngƣời dân.

1.4.

Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu trong bài viết này các yếu tố ảnh hƣởng đến điều kiện tiếp cận hệ
thống y tế công. Đối tƣợng khảo sát của nghiên cứu là những ngƣời phụ nữ đã lập gia đình
và có tuổi từ 18 trở lên bởi vì xu hƣớng đi tìm hành vi chăm sóc sức khỏe từ việc tự dùng

thành phố Hồ Chí Minh. Chi tiết về phƣơng pháp nghiên cứu sẽ đƣợc đề cập tiếp theo trong
Chƣơng 3.

1.6.

Kết cấu của bài nghiên cứu

Kết cấu của bài nghiên cứu gồm 5 chƣơng. Trong Chƣơng 1, bài viết phân tích bối cảnh
nghiên cứu và đƣa ra câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu. Kế
đến, Chƣơng 2 trình bày về cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trƣớc làm tiền đề
cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở Chƣơng 3. Tại Chƣơng 3, sau khi mô tả chi tiết
phƣơng pháp nghiên cứu và cách lấy dữ liệu, bài viết đƣa ra mô hình nghiên cứu cũng nhƣ
thang đo và giả thuyết của các yếu tố trong mô hình. Trong Chƣơng 4, tác giả kiểm định độ
tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) và sau
đó đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế công lên sự
lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân dựa trên kết quả hồi qui logistic đa thức. Cuối cùng,
trong Chƣơng 5, tác giả đƣa ra kết luận và kiến nghị chính sách.

5

Năm 2008, tỷ lệ bất bình đẳng giữa nữ với nam ( Gender Gap Index 2008) là 0,678. Việt Nam xếp hạng thứ
68 trong số 130 nƣớc về chỉ số bất bình đẳng giữa nam và nữ về kinh tế, giáo dục, sức khỏe, quyền lực chính
trị. (Truy cập ngày 07/02/2011 tại địa chỉ: )


7

Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƢỚC



8

đặc điểm tổ chức hệ thống y tế tác động thế nào đến hành vi tìm kiếm sức khỏe của ngƣời
dân.
Sơ đồ 2.1: Mô hình thực hiện sự lựa chọn của Young (1981)

Mức độ
bệnh tật

Kiến
thức tự
chữa
bệnh tại
nhà

Sự tin
tƣởng
vào cách
chữa
bệnh

Sự tiếp
cận đối
với việc
điều trị

Sự sử
dụng


Hành vi sức khỏe
 Thực hành sức khỏe cá nhân
 Sử dụng dịch vụ y tế

Hệ thống y tế
 Chính sách
 Nguồn lực vốn & lao động.
 Cách thức tổ chức
Nguồn: Rebhan (2008), trang 7
Sự lựa chọn các hình thức chăm sóc sức khỏe khác nhau phụ thuộc cấu trúc của hệ thống y
tế. Cấu trúc này đƣợc hình thành từ chính sách y tế (health policy), nguồn lực (resources) và
cách thức tổ chức (organization). Chúng ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận, khả năng chi trả,
khả năng sẵn có, khả năng chấp nhận đƣợc và sự phù hợp của cá nhân về dịch vụ chăm sóc
sức khỏe.
Về chính sách y tế, nó liên quan đến chính sách tài chính y tế. Nó bao gồm chính sách
BHYT, chính sách chi phí y tế v.v… Những chính sách BHYT và chi phí y tế tác động đến
khả năng chi trả dịch vụ y tế của ngƣời dân.
Về nguồn lực của hệ thống y tế, nó bao gồm số lƣợng và sự phân bố vốn và lao động. Ví dụ
nhƣ: số lƣợng các bác sĩ, sự sẵn có trang thiết bị, sự phân bổ cơ sở y tế tại các địa phƣơng…
Nhóm yếu tố này ảnh hƣởng khả năng sẵn có, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của ngƣời dân.
Về cách thức tổ chức, nó đề cập đến cách thức mà HTYT quản lý nguồn lực. Nó phản ánh
khả năng chấp nhận đƣợc và sự phù hợp của chất lƣợng dịch vụ y tế của ngƣời dân ở các mặt
nhƣ: tiêu chuẩn thuốc, tiêu chuẩn trang thiết bị, năng lực cán bộ, thái độ của cán bộ, quy
trình liên cá nhân…


10

Ngoài ra, một cá nhân sử dụng nhiều hay ít một dịch vụ chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào

(1981)

Mô hình
Good
(1987)



/

Đặc điểm cho phép



Nhận thức về bệnh tật



Khả năng sẵn có



Khả năng tiếp cận
Khả năng chi trả



Khả năng chấp nhận đƣợc
Sự phù hợp


11

2.3.

Những nghiên cứu trƣớc và bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

2.3.1. Các yếu tố về đặc điểm cá nhân
Đặc điểm cá nhân bao gồm ba đặc điểm chính nhƣ: đặc điểm dẫn dắt, đặc điểm cho phép và
nhận thức tình trạng bệnh tật. Trong khuôn khổ phân tích các yếu tố về đặc điểm cá nhân ảnh
hƣởng tới lựa chọn tự dùng thuốc chữa bệnh, bài viết sử dụng các yếu tố từ mô hình của
nghiên cứu Trivedi (2002) về vai trò của thu nhập và bảo hiểm y tế lên việc mua thuốc tự
chữa bệnh với dữ liệu lấy từ cuộc điều tra mức sống ngƣời Việt Nam 1997-1998 từ Ngân
hàng Thế giới. Mô hình này bao gồm những yếu tố cơ bản về đặc điểm cá nhân nhƣ:
Tuổi tác là một yếu tố thuộc đặc điểm dẫn dắt. Nghiên cứu của Trivedi (2002) chỉ ra rằng
những ngƣời có độ tuổi càng cao thì càng tăng xác suất lựa chọn tự dùng thuốc để trị bệnh.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu Tran Van Long (2010) thực hiện khảo sát tại Cà Mau về việc
xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi tự dùng thuốc chữa bệnh lại cho thấy rằng khi
tuổi càng cao thì cá nhân có xu hƣớng đến bác sĩ khám bệnh. Bài nghiên cứu kỳ vọng rằng
tác động của yếu tố về tuổi tác lên lựa chọn tự dùng thuốc giống nhƣ kết quả Tran Van Long
vì có thể là khi con ngƣời tuổi càng cao thì tình trạng sức khỏe của họ suy giảm và bệnh tật
mức nghiêm trọng hơn nên họ có xu hƣớng đến bác sĩ khám thay vì tự dùng thuốc ở nhà.
Trình độ học vấn là yếu tố cũng thuộc đặc điểm dẫn dắt. Nghiên cứu Trivedi (2002) tìm thấy
rằng khi trình độ học vấn thấp hơn thì cá nhân có khuynh hƣớng lựa chọn tự dùng thuốc để
điều trị hơn vì khi trình độ cao hơn thì họ nhận thức tốt hơn về rủi ro trong việc tự dùng
thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Tran Van Long (2010) lại tìm ra mối quan
hệ đồng biến giữa trình độ học vấn và hành vi tự dùng thuốc chữa bệnh. Và trong nghiên cứu
của Okumura và đtg (2002) về việc xác định những yếu tố ảnh hƣởng đến tự dùng thuốc
kháng sinh tại Việt Nam cũng tìm ra mối quan hệ giữa tự dùng thuốc và trình độ học vấn là
đồng biến. Theo tác giả, kết quả nghiên cứu của Tran Van Long (2010) và của Okumura và
đtg (2002) có thể giải thích là vì những ngƣời có trình độ cao hơn đồng nghĩa kiến thức tự

lấy thang đo này làm chuẩn để phân tích.
Khả năng tiếp cận (Accessibility) đề cập đến vấn đề về mặt địa lý. Theo Shrestha (2010),
khả năng tiếp cận đƣợc đo lƣờng bởi các yếu tố: Khoảng cách, thời gian đi, phƣơng tiện di
chuyển. Các yếu tố này đƣợc xác định là rào cản cho ngƣời dân tiếp cận dịch vụ chăm sóc
sức khỏe chuyên nghiệp, bởi vì nó gây khó khăn cho ngƣời dân để đến các cơ sở y tế. Do
vậy, sự dễ dàng đến các cơ sở y tế là cách đo lƣờng thích hợp. Cụ thể là trong khảo sát hộ


13

dân Uganda về khả năng tiếp cận đến thuốc, Bộ y tế nƣớc này đã sử dụng thang đo là: “ Đến
phƣơng tiện y tế … là dễ dàng” và bài nghiên cứu sẽ sử dụng thang đo này để phân tích. Do
đó, thang đo về khả năng tiếp cận bao gồm: (i) Khả năng tiếp cận bệnh viện/PKĐK công, (ii)
Khả năng tiếp cận trạm y tế xã/phường, (iii) Khả năng tiếp cận hiệu thuốc tư nhân.
Khả năng sẵn có (Availability) đề cập đến quy mô về sản phẩm và dịch vụ mà các phƣơng
tiện y tế cung cấp. Theo Shrestha (2010), khả năng sẵn có đƣợc xác định bởi các yếu tố:
(1) Thời gian chờ làm thủ tục khám đƣợc xem nhƣ là một rào cản để họ tiếp cận một dịch

vụ chăm sóc sức khỏe không sẵn có. Trong khi đó, thủ tục hành chính trong khám chữa
bệnh tại các cơ sở y tế công tại Việt Nam còn nhiều rƣờm rà dẫn đến thời gian chờ đợi
khám lâu (Lý Ngọc Kính, 2007).
(2) Thời gian chờ đợi khám bác sĩ là khoảng thời gian chờ đợi để đƣợc đến lƣợt gặp bác sĩ.

Yếu tố này đo lƣờng sự sẵn có bác sĩ có đáp ứng đƣợc nhu cầu khám chữa bệnh của
ngƣời dân. Theo số liệu thống kê của Sở Y tế Tp.HCM thì tỷ lệ này vào năm 2008 là
8,2 bác sĩ trên 10.000 dân; trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 15,1 (2005), Philippines
là 11,6 (2002), Ý là 42 (2004) và ở Pháp là 33,7 (2004).6 Điều này cho thấy là nguồn
lực y bác sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh là không nhiều, thậm chí còn có thể xem là
thiếu. Việc không đủ nhân lực bác sĩ, cơ sở vật chất cho nhu cầu khám chữa bệnh của
ngƣời dân có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng quá tải dẫn đến thời gian chờ đợi



Khả năng chi trả giá thuốc



Khả năng chi trả dịch vụ y tế



Khả năng chi trả chi phí đi đƣờng



Khả năng chi trả tổng chi phí khám bệnh



Khả năng chi trả thuốc theo toa

Khả năng chấp nhận đƣợc (Acceptability) liên quan đến những yếu tố về văn hóa và tín
ngƣỡng. Cách thức tổ chức HTYT có thể gây khó khăn cho những nền văn hóa và tín
ngƣỡng khác nhau trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Theo Shrestha (2010), khả
năng chấp nhận đƣợc xác định bởi các yếu tố: (i) Tôn giáo, (ii) Sở thích chọn bác sĩ khám
theo giới tính. Nếu ngƣời dân không có sự tôn trọng về tôn giáo và quyền lựa chọn bác sĩ
theo giới tính trong việc khám chữa bệnh thì hai yếu tố trên có thể là rào cản để ngƣời dân
tiếp cận với dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp.
Sự phù hợp (Adequacy) dịch vụ chăm sóc sức khỏe đƣợc xác định bằng hai khía cạnh: chất
lƣợng kỹ thuật và chất lƣợng chức năng. Chất lƣợng kỹ thuật là chất lƣợng về chẩn đoán và
trị bệnh. Chất lƣợng chức năng là chất lƣợng cơ sở hạ tầng, thái độ phục vụ, v.v…Sự không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status