BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------
VŨ THỊ TỨ NỮ
ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN HỆ THỐNG Y TẾ CÔNG ẢNH
HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN TỰ DÙNG THUỐC
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011
BỘ
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
VŨ THỊ TỨ NỮ
ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN HỆ THỐNG Y TẾ CÔNG ẢNH
HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN TỰ DÙNG THUỐC
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Chính Sách Công
Mã số
thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến TS.Cao Hào Thi là ngƣời cũng cho tôi những ý kiến đóng góp có giá trị.
Nhân đây, tôi xin trân trọng cảm ơn các Giảng viên và Trợ giảng của Chƣơng trình Giảng
dạy Kinh tế Fulbright đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý
báu trong suốt khóa học thạc sĩ hai năm vừa qua.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè đã góp ý, cung cấp cho tôi một số tài liệu hữu
ích và giúp tôi rất nhiều trong quá trình thu thập số liệu.
Những lời cảm ơn chân thành gửi đến Gia đình đã tạo điều kiện, động viên và hỗ trợ cho tôi
trong suốt quá trình học tập.
TP.HCM, Tháng 06 năm 2011
Ngƣời thực hiện luận văn
Vũ Thị Tứ Nữ
iii
TÓM TẮT
Mục đích của bài nghiên cứu là xác định những nhân tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế
công tác động đến lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân Việt Nam, qua đó đề xuất những
kiến nghị chính sách nhằm hạn chế lựa chọn tự dùng thuốc này. Đối tƣợng nghiên cứu là
những ngƣời phụ nữ đã có gia đình đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Bài nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp định tính và định lƣợng để phân tích. Về phƣơng
pháp định tính, trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trƣớc, tác giả tổng hợp đƣợc các yếu tố
cơ bản có liên quan đến khả năng tiếp cận hệ thống y tế công ảnh hƣởng đến lựa chọn tự
dùng thuốc; sau đó sử dụng phỏng vấn nhóm để bổ sung các yếu tố và hiệu chỉnh thang đo,
bảng câu hỏi phỏng vấn. Dựa vào kết quả nghiên cứu định tính, tác giả đề xuất mô hình
nghiên cứu bao gồm 11 nhân tố tác động đến lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân với các
thang đo và giả thuyết về yếu tố đó. Mô hình nghiên cứu này có 5 nhân tố về điều kiện tiếp
nặng cho ngân sách Nhà nƣớc, (iii) tiếp tục thực hiện chƣơng trình BHYT toàn dân nhằm chia
sẻ gánh nặng rủi ro giữa ngƣời khỏe và ngƣời không may bị bệnh. Hơn nữa, để ngƣời dân giảm
xu hƣớng lựa chọn chỉ tự dùng thuốc chuyển sang lựa chọn tự dùng thuốc và đến bác sĩ thì chính
sách nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh cũng nhƣ giảm thời gian chờ đợi khám tại các cơ sở
y tế công cần đƣợc thực hiện nhƣ: (i) tăng đầu tƣ đào tạo nguồn nhân lực bác sĩ có chất lƣợng,
(ii) tiếp tục thực hiện cơ chế chỉ đạo tuyến (tuyến trên chỉ đạo tuyến dƣới), (iii) chỉ đạo thực hiện
công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh tại cơ sở y tế công,
(iv) tăng giờ mở cửa hoạt động ngoài giờ, (v) thực hiện cơ chế thi đua khen thƣởng về thái
độ phục vụ, (vi) xác định đƣợc khung giá phí một cách hợp lý để bảo vệ quyền lợi của
ngƣời bệnh và cả nhà cung cấp. Tất cả những chính sách trên nhằm hạn chế lựa chọn tự
dùng thuốc của ngƣời dân.
Tuy nhiên, hạn chế của bài nghiên cứu là sử dụng phƣơng pháp lấy mẫu thuận tiện nên chƣa
đảm bảo có một bộ số liệu khách quan để phục vụ tốt hơn cho công việc nghiên cứu.
v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN........................................................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................................................. ii
TÓM TẮT................................................................................................................................................... iii
MỤC LỤC.................................................................................................................................................... v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................................................... vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU....................................................................................................... viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ..................................................................................................................... ix
Chƣơng 1 GIỚI THIỆU............................................................................................................................ 1
1.1.
Bối cảnh chính sách................................................................................................................... 1
2.1.2.
Mô hình “Four As” của Good (1987)............................................................................ 8
2.1.3.
Mô hình sử dụng hình thức chăm sóc sức khỏe của Andersen (1995).................. 8
2.3.
Những nghiên cứu trƣớc và bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam........................... 11
2.3.1.
Các yếu tố về đặc điểm cá nhân................................................................................... 11
2.3.2.
Đo lƣờng nhóm nhân tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế................................ 12
Chƣơng 3 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU......................... 16
3.1.
Phƣơng pháp nghiên cứu....................................................................................................... 16
3.2.
Mô hình cho đề tài nghiên cứu.............................................................................................. 17
Mối quan hệ giữa điều kiện tiếp cận hệ thống y tế công và lựa chọn tự dùng
thuốc chữa bệnh............................................................................................................................... 30
4.4.3.
4.5.
Mối tƣơng quan giữa các biến độc lập trong mô hình............................................ 32
Hồi quy logistic đa thức:........................................................................................................ 32
4.5.1.
Lựa chọn biến đƣa vào mô hình.................................................................................. 32
4.5.2.
Phân tích kết quả hồi quy............................................................................................... 33
Chƣơng 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH.............................................................. 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................................... 42
PHỤ LỤC................................................................................................................................................... 46
Phụ lục 1: Tổng hợp thang đo cho các nhóm yếu tố......................................................................... 46
Phụ lục 2: Chi tiết mẫu thống kê........................................................................................................... 47
Phụ lục 3: Đánh giá độ tin cậy của thang đo về điều kiện tiếp cận HTYT................................. 48
Phụ lục 4: Phân tích nhân tố................................................................................................................... 50
Phụ lục 5: Kiểm định quan hệ giữa tuổi tác và lựa chọn tự dùng thuốc...................................... 53
Phụ lục 6: Kiểm định quan hệ giữa trình độ học vấn và lựa chọn tự dùng thuốc...................... 54
Phụ lục 7: Kiểm định quan hệ giữa thu nhập bình quân hộ và lựa chọn tự dùng thuốc...........55
Phụ lục 8: Kiểm định quan hệ giữa mức độ bệnh tật và lựa chọn tự dùng thuốc......................56
Phụ lục 9: Kiểm định quan hệ giữa sở hữu thẻ BHYT và lựa chọn tự dùng thuốc...................57
: Phòng khám đa khoa
TP.HCM
: thành phố Hồ Chí Minh
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Tỷ trọng các hình thức chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam năm 2002............................ 3
Bảng 1-2: Chi tiêu y tế Việt Nam so sánh với các nƣớc.................................................................... 4
Bảng 2-1: Tóm tắt các mô hình lý thuyết............................................................................................ 10
Bảng 3-1: Tổng hợp các yếu tố sử dụng thang đo Likert................................................................ 19
Bảng 4-1: Các mục hỏi đƣợc giữ lại sau kết quả đánh giá độ tin cậy....................................26
Bảng 4-2: Kết quả phân tích nhân tố.................................................................................................... 27
Bảng 4-3: Ma trận nhân tố...................................................................................................................... 28
Bảng 4-4: Tóm tắt kết quả hồi quy....................................................................................................... 34
ix
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình thực hiện sự lựa chọn của Young (1981).......................................................... 8
Sơ đồ 2.2: Lý thuyết sử dụng hình thức chăm sóc sức khỏe của Andersen (1995)..................9
Sơ đồ 3.1: Mô hình cho đề tài nghiên cứu.......................................................................................... 18
Sơ đồ 3.2: Các biến trong mô hình....................................................................................................... 22
Sơ đồ 4.1: Mạng lƣới bán lẻ thuốc tại TP.HCM năm 2008............................................................ 25
Sơ đồ 4.2: Mạng lƣới bán lẻ thuốc đạt GPP tại TP.HCM năm 2008............................................ 25
Sơ đồ 4.3: Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và lựa chọn tự dùng thuốc................................. 29
độc cao. Chính vì vậy, Bộ Y tế Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc khác trên thế giới đã chia
danh mục thuốc thành hai loại: danh mục thuốc không kê đơn (OTC) và danh mục thuốc kê
đơn. Theo quy định, ngƣời dân chỉ đƣợc mua thuốc kê đơn khi có toa thuốc của bác sĩ. Tuy
nhiên, vấn đề tồn tại ở Việt Nam trong nhiều năm nay là ngƣời dân có thể tự mua thuốc kê
đơn mà không có toa thuốc hay theo toa thuốc trƣớc của bác sĩ. Ví dụ nhƣ, thuốc kháng sinh
là thuốc nằm trong danh mục thuốc kê đơn, thế nhƣng mỗi khi bị bệnh mà nghi ngờ nhiễm
khuẩn là ngƣời dân Việt Nam tự đến các hiệu thuốc tƣ nhân mua thuốc kháng sinh về dùng
hay dùng thuốc kháng sinh dự trữ sẵn ở nhà trƣớc khi đƣợc kiểm tra chẩn đoán bệnh của bác
sĩ. Việc tự mua thuốc kháng sinh khi cần mà không có toa bác sĩ có thể gây ra hậu quả
nghiêm trọng không những cho ngƣời bệnh mà còn cho cộng đồng, bởi vì việc dùng kháng
2
sinh không đúng liều lƣợng có thể gây ra lờn thuốc. Theo Nguyễn Hữu Đức (2008) thì khi
lờn một loại thuốc nào thì phải tăng liều hay phải thay thuốc khác, nhƣng nếu tăng liều mãi
sẽ dẫn đến liều độc. Một khi ngƣời bệnh đã lờn với tất cả loại thuốc thì bệnh tật khó có thể
cứu đƣợc, siêu vi khuẩn kháng thuốc này có thể truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác và kết
quả là trở thành thảm họa của nhân loại.
Thực trạng về hành vi tự dùng thuốc chữa bệnh tại Việt Nam
Tự mua thuốc để chữa bệnh mà không qua khám bệnh là hành vi phổ biến ở các nƣớc đang
phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong một thống kê của Ngân hàng Thế giới từ số liệu
khảo sát y tế Việt Nam năm 2001–2002, sự lựa chọn tự dùng thuốc tự điều trị ở nông thôn và
thành thị đều tƣơng đƣơng nhau và chiếm tỷ lệ cao nhƣ là sự lựa chọn đầu tiên trong việc
tìm kiếm sức khỏe (Bảng 1-1). Ngay cả đối một thành phố đƣợc xem là trung tâm kinh tế,
văn hóa, xã hội của Việt Nam nhƣ thành phố Hồ Chí Minh thì tình hình tự dùng thuốc chữa
bệnh tại đây cũng đƣợc cho là hiện tƣợng phổ biến. Trong bài nghiên cứu của Le Van Thanh
(2007) thực hiện khảo sát về tình hình kinh tế xã hội ngoại thành của TP.HCM cho kết quả là
tỷ trọng ngƣời mua thuốc tại hiệu thuốc mà không có toa bác sĩ tại quận Gò vấp là 61%,
quận Bình Tân là 83,7%, quận 2 là 100%.
Vùng
Nông thôn
Thành thị
Việt Nam
Nguồn: World Bank (2008)
Thực trạng về điều kiện tiếp cận HTYT tại Việt Nam
Việc tiếp cận đến dịch vụ điều trị tác động quan trọng đến hành vi cá nhân trong sử dụng
hình thức chăm sóc sức khỏe [Young (1981), trích trong Nguma (2010)]. Nhận định mỗi cá
nhân về điều kiện tiếp cận HTYT hình thành từ yếu tố chủ quan (cá nhân ngƣời sử dụng) và
yếu tố khách quan (Nhà nƣớc và nhà cung cấp). Vai trò quản lý của Nhà nƣớc trong việc làm
cho ngƣời dân dễ dàng tiếp cận HTYT nhằm đảm bảo sức khỏe ngƣời dân, thúc đẩy phát
triển kinh tế là một trong những mục tiêu hàng đầu ở các quốc gia chứ không chỉ riêng tại
nƣớc Việt Nam ta. Tuy nhiên, chính sách y tế, các nguồn lực y tế và cách thức tổ chức hệ
thống y tế ở Việt Nam còn nhiều hạn chế dẫn đến ngƣời dân khó khăn trong việc tiếp cận
dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp nên họ có xu hƣớng lựa chọn việc tự dùng thuốc ở nhà thay
vì đến bác sĩ khám bệnh và kê toa.
Về tài chính y tế tại Việt Nam, theo dữ liệu thống kê năm 2008 của Tổ Chức Y tế Thế giới
cho thấy là phần trăm chi tiêu y tế trong tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam đƣợc so sánh
là cao nhất so với các nƣớc nhƣ: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và
Trung Quốc (Bảng 1-2); trong đó, nguồn chi từ túi hộ gia đình ở Việt Nam lại chiếm tỷ lệ
4
chủ yếu (55,5%) trong tổng chi tiêu y tế– tỷ lệ này thuộc loại cao so với một số nƣớc kể trên
trong khu vực. Số liệu này cho thấy là ngƣời Việt Nam đang phải gánh chịu chi phí y tế cao
so với thu nhập của họ nên chi phí y tế có thể trở thành rào cản đề ngƣời dân tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp.
Bảng 1-2: Chi tiêu y tế Việt Nam so sánh với các nƣớc
4
Nhƣ vậy, với những hạn chế về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế trên, việc nghiên cứu những
yếu tố này ảnh hƣởng tới hành vi tự dùng thuốc của ngƣời dân là vấn đề chính sách quan
trọng, đƣợc sự quan tâm của ban ngành trong lĩnh vực y tế nhằm nâng cao chất lƣợng sức
khỏe cho ngƣời dân.
1.2.
Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Những yếu tố nào về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế công ảnh hƣởng tới lựa
chọn tự dùng thuốc chữa bệnh của ngƣời dân?
Câu hỏi 2: Giải pháp chính sách can thiệp nào của Nhà nƣớc nhằm hạn chế lựa chọn tự dùng
thuốc chữa bệnh của ngƣời dân?
1.3.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này hƣớng đến mục tiêu là xác định yếu tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y
tế công tác động đến lựa chọn tự dùng thuốc chữa bệnh. Thông qua đó, nó giúp cho nhà
hoạch định chính sách đƣa ra chính sách nhằm hạn chế lựa chọn tự dùng thuốc này nhằm cải
thiện nâng cao sức khỏe của ngƣời dân.
1.4.
Đối tƣợng nghiên cứu
phố Hồ Chí Minh và xây dựng thang đo cũng nhƣ bảng hỏi điều tra cho các yếu tố này. Phần
phân tích định lƣợng nhằm phân tích khám phá các nhân tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y
tế công và đo lƣờng ảnh hƣởng các yếu tố này đến lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân
thành phố Hồ Chí Minh. Chi tiết về phƣơng pháp nghiên cứu sẽ đƣợc đề cập tiếp theo trong
Chƣơng 3.
1.6.
Kết cấu của bài nghiên cứu
Kết cấu của bài nghiên cứu gồm 5 chƣơng. Trong Chƣơng 1, bài viết phân tích bối cảnh
nghiên cứu và đƣa ra câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu. Kế
đến, Chƣơng 2 trình bày về cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trƣớc làm tiền đề
cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở Chƣơng 3. Tại Chƣơng 3, sau khi mô tả chi tiết
phƣơng pháp nghiên cứu và cách lấy dữ liệu, bài viết đƣa ra mô hình nghiên cứu cũng nhƣ
thang đo và giả thuyết của các yếu tố trong mô hình. Trong Chƣơng 4, tác giả kiểm định độ
tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) và sau
đó đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố về điều kiện tiếp cận hệ thống y tế công lên sự
lựa chọn tự dùng thuốc của ngƣời dân dựa trên kết quả hồi qui logistic đa thức. Cuối cùng,
trong Chƣơng 5, tác giả đƣa ra kết luận và kiến nghị chính sách.
5 Năm 2008, tỷ lệ bất bình đẳng giữa nữ với nam ( Gender Gap Index 2008) là 0,678. Việt Nam xếp hạng thứ
68 trong số 130 nƣớc về chỉ số bất bình đẳng giữa nam và nữ về kinh tế, giáo dục, sức khỏe, quyền lực chính
trị. (Truy cập ngày 07/02/2011 tại địa chỉ: )
7
Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
8
đặc điểm tổ chức hệ thống y tế tác động thế nào đến hành vi tìm kiếm sức khỏe của ngƣời
dân.
Sơ đồ 2.1: Mô hình thực hiện sự lựa chọn của Young (1981)
Mức độ
bệnh tậ
Nguồn: Nguma (2010), trang 70
2.1.2. Mô hình “Four As” của Good (1987)
Mô hình này xác định bốn nhóm nhân tố chính ảnh hƣởng đến hành vi chăm sóc sức khỏe
bao gồm khả năng sẵn có (availbility), khả năng tiếp cận (accessibility), khả năng chi trả
(affordability), khả năng chấp nhận đƣợc (acceptability). Cụ thể, khả năng sẵn có đề cập đến
quy mô về cấu trúc hệ thống và quy trình xử lý dịch vụ y tế; khả năng tiếp cận liên quan đến
việc phân bổ về mặt địa lý đối với các cơ sở y tế; khả năng chi trả đề cập đến những yếu tố
về mặt tài chính và khả năng chấp nhận đƣợc liên quan đến yếu tố về văn hóa và tín ngƣỡng.
Những nhóm nhân tố này phản ánh điều kiện tiếp cận cá nhân đến các hình thức chăm sóc
sức khỏe. Đặc điểm tích cực của mô hình này là dễ dàng xác định các rào cản tiềm tàng cốt
yếu cho điều trị thích hợp. Tuy nhiên, mô hình này không đề cập đến chất lƣợng dịch vụ y tế
ảnh hƣởng thế nào đến tiếp cận tới việc điều trị. Bên cạnh đó, mô hình này cũng không cho
thấy đƣợc sự khác biệt về đặc điểm cá nhân ảnh hƣởng nhƣ thế nào việc tiếp cận dịch vụ y
tế.
2.1.3. Mô hình sử dụng hình thức chăm sóc sức khỏe của Andersen (1995)
Theo mô hình của Anderson thì những nhân tố tác động trực tiếp đến sử dụng hình thức
chăm sóc sức khỏe của con ngƣời bao gồm hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố về đặc điểm cá
nhân (Population Characteristics) và nhóm nhân tố đặc điểm hệ thống chăm sóc sức khỏe
(Health Care System). Sử dụng hình thức chăm sóc sức khỏe bao gồm thực hành sức khỏe cá
nhân (ăn kiêng, tập thể dục) và lựa chọn hình thức chăm sóc sức khỏe.
Nhóm yếu tố này ảnh hƣởng khả năng sẵn có, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của ngƣời dân.
Về cách thức tổ chức, nó đề cập đến cách thức mà HTYT quản lý nguồn lực. Nó phản ánh
khả năng chấp nhận đƣợc và sự phù hợp của chất lƣợng dịch vụ y tế của ngƣời dân ở các
mặt nhƣ: tiêu chuẩn thuốc, tiêu chuẩn trang thiết bị, năng lực cán bộ, thái độ của cán bộ, quy
trình liên cá nhân…
10
Ngoài ra, một cá nhân sử dụng nhiều hay ít một dịch vụ chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào
đặc điểm dẫn dắt (predisposing characteristics), đặc điểm cho phép (enabling characteristics)
và nhận thức nhu cầu sử dụng (need factors). Sự khác nhau về đặc điểm cá nhân này tác
động đến lựa chọn hình thức chăm sóc sức khỏe của ngƣời dân. Đặc điểm dẫn dắt bao gồm
đặc điểm nhân khẩu học, vị trí cá nhân trong xã hội, kiến thức và kinh nghiệm trƣớc về bệnh
tật hay dịch vụ y tế. Đặc điểm cho phép bao gồm các nguồn lực của gia đình. Nguồn lực của
gia đình chính là tình trạng kinh tế và nơi cƣ trú. Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế là nhận thức
mức độ nghiêm trọng của bệnh tật, số ngày bệnh…
Nhƣ vậy, trong ba mô hình trên, mô hình hành vi chăm sóc sức khỏe Andersen (1995) là mô
hình toàn diện nhất (Bảng 2-1). Về đặc điểm cá nhân, nó bao quát hết tất cả những yếu tố về
nhân khẩu học, đặc điểm kinh tế xã hội của cá nhân và vấn đề về nhận thức bệnh tật. Sự khác
biệt về đặc điểm cá nhân góp phần ảnh hƣởng đến nhận thức về tiếp cận dịch vụ chăm sóc
sức khỏe của họ bên cạnh sự tác động về mặt chính sách, phân bổ vốn và lao động, cách thức
tổ chức HTYT. Ba đặc điểm của hệ thống y tế này ảnh hƣởng tới việc tiếp cận dịch vụ y tế
thông qua năm nhóm yếu tố nhƣ: khả năng sẵn có, khả năng tiếp cận, khả năng chi trả, khả
năng chấp nhận đƣợc và sự phù hợp của dịch vụ chăm sóc sức khỏe.Thông qua đặc điểm cá
nhân và đặc điểm của hệ thống y tế tác động đến hành vi lựa chọn hình thức chăm sóc sức
khỏe của ngƣời dân.
Bảng 2-1: Tóm tắt các mô hình lý thuyết
N
Nguồn: tác giả tổng hợp
11
2.3.
Những nghiên cứu trƣớc và bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
2.3.1. Các yếu tố về đặc điểm cá nhân
Đặc điểm cá nhân bao gồm ba đặc điểm chính nhƣ: đặc điểm dẫn dắt, đặc điểm cho phép và
nhận thức tình trạng bệnh tật. Trong khuôn khổ phân tích các yếu tố về đặc điểm cá nhân ảnh
hƣởng tới lựa chọn tự dùng thuốc chữa bệnh, bài viết sử dụng các yếu tố từ mô hình của
nghiên cứu Trivedi (2002) về vai trò của thu nhập và bảo hiểm y tế lên việc mua thuốc tự
chữa bệnh với dữ liệu lấy từ cuộc điều tra mức sống ngƣời Việt Nam 1997-1998 từ Ngân
hàng Thế giới. Mô hình này bao gồm những yếu tố cơ bản về đặc điểm cá nhân nhƣ:
Tuổi tác là một yếu tố thuộc đặc điểm dẫn dắt. Nghiên cứu của Trivedi (2002) chỉ ra rằng
những ngƣời có độ tuổi càng cao thì càng tăng xác suất lựa chọn tự dùng thuốc để trị bệnh.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu Tran Van Long (2010) thực hiện khảo sát tại Cà Mau về việc
xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi tự dùng thuốc chữa bệnh lại cho thấy rằng khi
tuổi càng cao thì cá nhân có xu hƣớng đến bác sĩ khám bệnh. Bài nghiên cứu kỳ vọng rằng
tác động của yếu tố về tuổi tác lên lựa chọn tự dùng thuốc giống nhƣ kết quả Tran Van Long
vì có thể là khi con ngƣời tuổi càng cao thì tình trạng sức khỏe của họ suy giảm và bệnh tật
mức nghiêm trọng hơn nên họ có xu hƣớng đến bác sĩ khám thay vì tự dùng thuốc ở nhà.
Trình độ học vấn là yếu tố cũng thuộc đặc điểm dẫn dắt. Nghiên cứu Trivedi (2002) tìm thấy
rằng khi trình độ học vấn thấp hơn thì cá nhân có khuynh hƣớng lựa chọn tự dùng thuốc để
điều trị hơn vì khi trình độ cao hơn thì họ nhận thức tốt hơn về rủi ro trong việc tự dùng
thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Tran Van Long (2010) lại tìm ra mối quan
hệ đồng biến giữa trình độ học vấn và hành vi tự dùng thuốc chữa bệnh. Và trong nghiên cứu
của Okumura và đtg (2002) về việc xác định những yếu tố ảnh hƣởng đến tự dùng thuốc
cơ bản tại Indonesia. Theo nhận xét của tác giả, bài nghiên cứu Shrestha (2010) đã tổng hợp
tƣơng đối đầy đủ các thang đo liên quan đến từng nhân tố ảnh hƣởng điều kiện tiếp cận dịch
vụ y tế từ nhiều bài nghiên cứu khác nhau (Phụ lục 1). Do vậy, bài nghiên cứu của tác giả sẽ
lấy thang đo này làm chuẩn để phân tích.
Khả năng tiếp cận (Accessibility) đề cập đến vấn đề về mặt địa lý. Theo Shrestha (2010),
khả năng tiếp cận đƣợc đo lƣờng bởi các yếu tố: Khoảng cách, thời gian đi, phƣơng tiện di
chuyển. Các yếu tố này đƣợc xác định là rào cản cho ngƣời dân tiếp cận dịch vụ chăm sóc
sức khỏe chuyên nghiệp, bởi vì nó gây khó khăn cho ngƣời dân để đến các cơ sở y tế. Do
vậy, sự dễ dàng đến các cơ sở y tế là cách đo lƣờng thích hợp. Cụ thể là trong khảo sát hộ
13
dân Uganda về khả năng tiếp cận đến thuốc, Bộ y tế nƣớc này đã sử dụng thang đo là: “ Đến
phƣơng tiện y tế … là dễ dàng” và bài nghiên cứu sẽ sử dụng thang đo này để phân tích. Do
đó, thang đo về khả năng tiếp cận bao gồm: (i) Khả năng tiếp cận bệnh viện/PKĐK công, (ii)
Khả năng tiếp cận trạm y tế xã/phường, (iii) Khả năng tiếp cận hiệu thuốc tư nhân.
Khả năng sẵn có (Availability) đề cập đến quy mô về sản phẩm và dịch vụ mà các phƣơng
tiện y tế cung cấp. Theo Shrestha (2010), khả năng sẵn có đƣợc xác định bởi các yếu tố:
(1) Thời gian chờ làm thủ tục khám đƣợc xem nhƣ là một rào cản để họ tiếp cận một dịch
vụ chăm sóc sức khỏe không sẵn có. Trong khi đó, thủ tục hành chính trong khám chữa
bệnh tại các cơ sở y tế công tại Việt Nam còn nhiều rƣờm rà dẫn đến thời gian chờ đợi
khám lâu (Lý Ngọc Kính, 2007).
(2) Thời gian chờ đợi khám bác sĩ là khoảng thời gian chờ đợi để đƣợc đến lƣợt gặp bác
sĩ. Yếu tố này đo lƣờng sự sẵn có bác sĩ có đáp ứng đƣợc nhu cầu khám chữa bệnh của
ngƣời dân. Theo số liệu thống kê của Sở Y tế Tp.HCM thì tỷ lệ này vào năm 2008 là
8,2 bác sĩ trên 10.000 dân; trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 15,1 (2005), Philippines
6