BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------
NGUYỄN BÁ HÒA
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP THÀNH PHỐ
GIAI ĐOẠN 2006-2010 TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
------------------------------------CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGUYỄN BÁ HÒA
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP THÀNH PHỐ
GIAI ĐOẠN 2006-2010 TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành:
Chính Sách Công
Mã số:
tại Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng, Sở Khoa học và công nghệ Thành phố Hồ Chí
Minh đã hỗ trợ, cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên
cứu, thu thập các thông tin, tài liệu để hoàn thành luận văn này.
Các bạn học viên lớp MPP3 đã có nhiều đóng góp, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học
tập cũng như thực hiện đề tài, đặc biệt có những động viên cho tôi trong những lúc cảm
thấy mệt mỏi, suy sụp tinh thần để vượt qua được khó khăn.
Trong quá trình hoàn tất đề tài, mặc dù đã cố gắng tham khảo tài liệu, tranh thủ ý
kiến đóng góp, nhưng do trình độ có hạn nên thiếu sót là điều không thể tránh khỏi. Rất
mong nhận những góp ý quý báu từ Quý Thầy, Cô, đồng nghiệp và bạn bè.
Xin chân thành cám ơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Bá Hòa
iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) là một chính sách được Đảng và nhà
nước Việt Nam quan tâm. Để thực hiện chính sách đó ở cấp địa phương, Thành phố Đà
Nẵng mỗi năm đều thực hiện nghiên cứu, kinh phí thực hiện nghiên cứu KH&CN được
trích từ ngân sách với định mức tối đa 2% tổng chi ngân sách của thành phố. Ủy ban nhân
dân (UBND) Thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày
18/3/2005 về việc “Quy định về cơ chế quản lý các nhiệm vụ KH&CN Thành phố Đà
Nẵng” quy định các bước thực hiện đề tài nghiên cứu cấp thành phố từ xây dựng danh mục
đề tài, tuyển chọn, xét chọn chủ thể thực hiện đề tài, xét duyệt, thẩm định đề tài, triển khai
thực hiện, đánh giá nghiệm thu, triển khai ứng dụng kết quả đề tài và xử lý, khen thưởng.
Dựa vào quy định đó nhiều đề tài cấp thành phố đã được tiến hành. Tuy nhiên kinh phí
thực hiện các đề tài còn thấp, việc tuyển chọn chủ thể thực hiện đề tài theo quy tắc “đấu
giá đề tài, chính sách khen thưởng- xử lý vi phạm và chính sách tài chính.
Với các chính sách kiến nghị của bài nghiên cứu, người viết mong muốn hoàn thiện
cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc quản lý nhà nước đối với các đề tài
nghiên cứu KH&CN nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu góp phần vào sự phát triển của
Thành phố Đà Nẵng.
v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................... i
LỜI CÁM ƠN ........................................................................................................................ ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN ........................................................................................................ iii
MỤC LỤC ............................................................................................................................. v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................................. viii
DANH MỤC HÌNH VẼ - BẢNG – PHỤ LỤC ...................................................................... ix
Chương 1 ............................................................................................................................... 1
GIỚI THIỆU CHUNG VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT .................................................................. 1
1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách công .............................................................................. 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................................... 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................................................... 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................................. 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 3
1.6 Chức năng và nhiệm vụ của Sở KH&CN Đà Nẵng ....................................................... 3
1.7 Một số khái niệm liên quan đến quản lý đề tài nghiên cứu KH&CN.............................. 4
1.8 Khung lý thuyết ............................................................................................................ 6
1.8.1 Lý thuyết Quản lý công với mô hình tam giác chiến lược “Giá trị - Năng lực- Sự
ủng hộ” để tạo ra giá trị công .......................................................................................... 6
1.8.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước các đề tài nghiên cứu KH&CN .......................... 8
1.8.3 Cơ sở pháp luật của công tác quản lý nhà nước về các nhiệm vụ KH&CN.............12
4.1 Kết luận .......................................................................................................................42
4.2 Kiến nghị .....................................................................................................................42
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................................44
PHỤ LỤC .............................................................................................................................48
Phụ lục 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Sở KH&CN Đà Nẵng..............................................48
Phụ lục 2: Sơ đồ tổ chức nghiên cứu KH&CN của Việt Nam.............................................49
Phụ lục 3: Kinh nghiệm quốc tế liên quan đến nghiên cứu KH&CN ..................................50
Phụ lục 4: Số lượng thành viên Hội đồng KH&CN Thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 20042009 ..................................................................................................................................57
Phụ lục 5: Danh sách một số các nhà Khoa học, nhà quản lý làm chủ trì đề tài KH&CN
cấp thành phố thực hiện trong giai đoạn 2006-2010 ...........................................................58
Phụ lục 6: Một số đề tài nghiên cứu giai đoạn 2006-2010 chưa đạt yêu cầu .......................59
Phụ lục 7: Quy trình xây dựng các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố ....................60
Phụ lục 8: Quy trình quản lý các đề tài KH&CN cấp thành phố .........................................61
Phụ lục 9: Ý kiến của Tiến sỹ Nguyễn Phú Thái, Giám đốc Trung tâm phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao Đà Nẵng (CPHUD)......................................................................62
vii
Phụ lục 10: Ý kiến của Thạc sỹ Lê Thị Thục, Trưởng phòng Quản lý Khoa học- Sở
Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng .....................................................................................64
viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ KH&CN:
Bộ Khoa học và Công nghệ.
R&D:
Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Sở KH&CN:
Sở Khoa học và Công nghệ.
UBND:
Ủy ban nhân dân.
ix
DANH MỤC HÌNH VẼ - BẢNG – PHỤ LỤC
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ chức năng, nhiệm vụ của Sở Khoa học và Công nghệ
4
Hình 1.2: Sơ đồ tạo lập giá trị công
7
Hình 2.1: Sơ đồ thực trạng quản lý đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố
16
Bảng 2.1: Tỷ lệ các đề tài đề xuất và được UBND thành phố phê duyệt giai đoạn
Phụ lục 4: Số lượng thành viên Hội đồng KH&CN thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ
57
2004-2009
Phụ lục 5: Danh sách một số nhà khoa học, nhà quản lý làm chủ trì đề tài KH&CN
58
cấp thành phố thực hiện giai đoạn 2006-2010
Phụ lục 6: Một số đề tài nghiên cứu giai đoạn 2006- 2010 chưa đạt yêu cầu
59
Phụ lục 7: Quy trình xây dựng các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố
60
Phụ lục 8: Quy trình quản lý các đề tài KH&CN cấp thành phố
61
Phụ lục 9: Ý kiến của Tiến sỹ Nguyễn Phú Thái về thực hiện đề tài nghiên cứu
62
Phụ lục 10:Ý kiến của Thạc sỹ Lê Thị Thục thực về hiện đề tài nghiên cứu
64
hợp lý và chưa giao quyền chủ động cho Sở KH&CN. Thủ tục thanh quyết toán tài chính
còn rườm rà. Chưa có chính sách huy động các nguồn tài chính để đầu tư cho KH&CN.
Chưa khuyến khích được các nhà khoa học trong và ngoài thành phố tham gia nghiên cứu
2
(nhằm đa dạng nguồn cung đề tài). Đồng thời, từ thực tế cũng cho thấy, môi trường pháp
lý thuận lợi là chưa đủ, để thúc đẩy hoạt động R&D, cần nhận thức và có biện pháp tổ chức
thực hiện đúng. Do đó, để thúc đẩy KH&CN thành phố phát triển cần nghiên cứu và cải
thiện quản lý các đề tài nghiên cứu cấp thành phố nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt.
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng quản lý nhằm đề xuất những chính sách đổi mới
quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố tại Đà Nẵng là việc làm rất cần thiết
trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, khi UBND thành phố đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể
phát triển KH&CN thành phố đến năm 2020, thì đổi mới cơ chế quản lý đề tài là một trong
những giải pháp quan trọng để thực hiện thành công Quy hoạch này.
Qua nhiều năm công tác thực tế, ý thức được tầm quan trọng của công tác quản lý
nhà nước về KH&CN trong việc tạo ra những đề tài nghiên cứu có chất lượng, tôi mong
muốn đóng góp hiểu biết và kinh nghiệm của mình để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý
nhà nước đối với đề tài KH&CN cấp thành phố tại Đà Nẵng.
Đề tài “Đánh giá thực trạng quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp
thành phố giai đoạn 2006-2010 tại Thành phố Đà Nẵng” được thực hiện nhằm lý giải
những vấn đề từ thực tế và kiến nghị chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của
công tác quản lý nhà nước về KH&CN tại Thành phố Đà Nẵng.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất chính sách hoàn thiện quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN
cấp thành phố của Thành phố Đà Nẵng.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn này có câu hỏi nghiên cứu là:
- Thực trạng quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố giai
nhiệm vụ KH&CN tại Website của Bộ KH&CN, Sở KH&CN Đà Nẵng và một số Sở
KH&CN của TP.Hồ Chí Minh, Quảng Nam, Bình Định. Đề tài sử dụng dữ liệu về số
lượng đề tài, kinh phí phê duyệt thực hiện các đề tài, chi ngân sách cho KH&CN của
Thành phố Đà Nẵng được khai thác tại cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Sở KH&CN Đà
Nẵng, các Website của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.6 Chức năng và nhiệm vụ của Sở KH&CN Đà Nẵng
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở KH&CN Đà Nẵng tuân
theo Thông tư số 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV ngày 18/6/2008 giữa Bộ KH&CN và Bộ
Nội vụ và được quy định tại Quyết định số 8144/QĐ-UBND ngày 03/10/2008 của UBND
Thành phố Đà Nẵng. Theo Điểm 6, Phần I của Thông tư 05, Sở KH&CN có chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn “Tổ chức tuyển chọn, xét chọn, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ
KH&CN; đẩy mạnh hoạt động ứng dụng, công bố, tuyên truyền kết quả nghiên cứu khoa
học, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và các hoạt động khác; quản lý các nhiệm
vụ KH&CN trọng điểm của tỉnh; phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước
tại địa phương”. Sở KH&CN là cơ quan chuyên môn, giúp việc thuộc UBND thành phố có chức
4
năng tham mưu, quản lý nhà nước về nghiên cứu KH&CN tại địa phương, trong đó có chức năng
sử dụng, phân bổ tiền ngân sách cấp cho việc nghiên cứu các đề tài thuộc danh mục UBND thành
phố phê duyệt (Đề tài nghiên cứu cấp thành phố).
Hình 1.1: Sơ đồ chức năng, nhiệm vụ của Sở KH&CN
UBND thành phố
Sở KH&CN
(Chức năng, nhiệm vụ)
Sở hữu
trí tuệ
a) Khái niệm đề tài nghiên cứu KH&CN
Theo Điều 2 QĐ30, “Đề tài nghiên cứu KH&CN là đề tài nghiên cứu khoa học và
triển khai thực nghiệm thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên,
khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, điều tra cơ bản và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên, cần được nghiên cứu để nắm được bản chất, nguyên lý, tìm ra giải pháp, tạo ra công
nghệ nhằm phục vụ cho mục tiêu cụ thể của kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng (sau đây
gọi tắt là Đề tài KH&CN)”. Theo Điều 14 Nghị định số 81/2002/NĐ-CP, “Đề tài KH&CN
có nội dung chủ yếu nghiên cứu về một chủ đề KH&CN. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc
dự án, chương trình KH&CN”.
b) Khái niệm đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố
Đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố là đề tài thuộc danh mục được UBND
thành phố phê duyệt và được cấp kinh phí từ nguồn ngân sách của thành phố để thực hiện.
c) Khái niệm quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN
Quản lý các đề tài là việc cơ quan thẩm quyền tổ chức và triển khai thực hiện hoạt
động nghiên cứu KH&CN bao gồm: xây dựng danh mục, thực hiện, kiểm tra, đánh giá
5
nghiệm thu, triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu, khen thưởng và xử lý vi phạm, quản
lý tài chính đối với đề tài KH&CN.
d) Khái niệm xây dựng nhiệm vụ đề tài
Xây dựng nhiệm vụ đề tài là việc cơ quan thẩm quyền tổ chức xây dựng Danh mục
đề tài hàng năm trình cơ quan cấp trên phê duyệt thực hiện.
đ) Ban chủ nhiệm các Chương trình KH&CN thành phố
Ban chủ nhiệm các Chương trình KH&CN thành phố do UBND thành phố thành
lập theo nhiệm kỳ 5 năm. Trong nhiệm kỳ 2006-2010 có tám Ban chủ nhiệm các Chương
trình KH&CN thành phố gồm 52 thành viên, có nhiệm vụ nghiên cứu các giải pháp và xây
dựng các luận cứ khoa học, đề xuất chính sách đối với các Chương trình KH&CN của
thành phố.
Theo Điều 2 Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN, “Tuyển chọn là việc lựa chọn tổ
chức/cá nhân có năng lực và kinh nghiệm tốt nhất để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN theo
đặt hàng của nhà nước thông qua việc xem xét, đánh giá các hồ sơ đăng ký tham gia tuyển
chọn theo những yêu cầu, tiêu chí quy định”.
Theo Điều 12 QĐ30, “Phương thức tuyển chọn được áp dụng đối với nhiệm vụ
KH&CN có quy mô lớn, phức tạp, có nhiều tổ chức/cá nhân có thể thực hiện được; hoặc
nhiệm vụ do các tổ chức/cá nhân đề xuất, nhưng không đủ các điều kiện tổ chức thực
hiện”.
- Xét chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN
Theo Điều 3 Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN, “Xét chọn là việc lựa chọn tổ
chức/cá nhân thực hiện các nhiệm vụ KH&CN theo đặt hàng của nhà nước thông qua việc xem
xét, đánh giá hồ sơ do tổ chức/cá nhân có năng lực và điều kiện cần thiết được giao trực tiếp
chuẩn bị, trên cơ sở những yêu cầu, tiêu chí theo quy định và được áp dụng đối với các nhiệm vụ
KH&CN như: Nhiệm vụ thuộc bí mật quốc gia, đặc thù của an ninh, quốc phòng, một số
nhiệm vụ KH&CN cấp bách, nhiệm vụ KH&CN mà nội dung chỉ có một tổ chức hoặc cá
nhân có đủ điều kiện về chuyên môn, trang thiết bị để thực hiện nhiệm vụ KH&CN đó, dự
án sản xuất thử nghiệm”.
1.8 Khung lý thuyết
1.8.1 Lý thuyết Quản lý công với mô hình tam giác chiến lược “Giá trị - Năng lực- Sự
ủng hộ” để tạo ra giá trị công
Sử dụng công cụ phân tích tạo lập giá trị công với mô hình tam giác “Giá trị- Năng
lực- Sự ủng hộ” 1 thấy bản chất quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN là việc chiến lược
1
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (2010-2012), Quản lý công “Ghi chú ngắn về xây dựng chiến
lược khu vực công”, Herman B.Leonard, biên dịch Châu Văn Thành, hiệu đính Nguyễn Hữu Lam.
8
sở, ban, ngành, doanh nghiệp). Do đó việc xây dựng và thực hiện chính sách quản lý tốt
các đề tài KH&CN dễ dàng nhận được sự ủng hộ từ phía của những người làm công tác
quản lý cũng như của tổ chức/cá nhân nghiên cứu và sử dụng kết quả đề tài nghiên cứu.
c) Công việc quản lý các đề tài KH&CN tạo ra giá trị công
Việc UBND thành phố thông qua Sở KH&CN quản lý các đề tài nghiên cứu nhằm
cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng cơ chế chính sách, xây dựng quy hoạch, phục vụ
quản lý đô thị, phục vụ công tác quản lý, đề xuất giải pháp phát triển KT-XH, giải pháp
đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ…không những tạo ra lợi ích giúp doanh nghiệp phát triển còn tạo
ra lợi ích chung góp phần vào sự phát triển KT-XH của thành phố. Vì vậy quá trình quản
lý các đề tài nghiên cứu là quá trình tạo ra giá trị công cho thành phố.
1.8.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước các đề tài nghiên cứu KH&CN
1.8.2.1 Xét theo quan điểm kinh tế học
Theo lý thuyết chung về kinh tế, hàng hóa và dịch vụ (gọi chung là hàng hóa) có 02
loại hàng hóa công và hàng hóa tư. Hàng hóa công có 02 đặc tính2: không mang tính cạnh
tranh và không mang tính loại trừ.
- Một hàng hóa không mang tính cạnh tranh nếu với một mức sản lượng đã cho, chi
phí biên của việc cung cấp hàng hóa đó cho một người tiêu dùng bổ sung bằng không hoặc
các hàng hóa đó có thể được cung cấp cho mọi người mà không ảnh hưởng đến cơ hội tiêu
dùng chúng của bất kỳ ai.
- Một hàng hóa không mang tính loại trừ nếu không thể loại trừ mọi người khỏi
việc tiêu dùng nó. Do đó, rất khó hoặc không thể thu tiền mọi người về việc sử dụng hàng
hóa không mang tính loại trừ, có thể hưởng thụ hàng hóa đó mà không phải trả tiền trực
tiếp.
Một hàng hóa công vừa không mang tính loại trừ vừa không mang tính cạnh tranh
đem lại lợi ích cho mọi người với chi phí biên bằng không và không ai có thể bị loại trừ
khỏi việc tiêu dùng chúng gọi là hàng hóa công thuần túy (ví dụ kinh điển về hàng hóa
công loại này là quốc phòng, ngọn hải đăng, pháo hoa...).Hàng hóa công thường có lợi ích
tài đó.
Những đặc tính quan trọng này dẫn đến sự thất bại thị trường trong việc cung cấp
đề tài nghiên cứu KH&CN. Sự thất bại thị trường trong việc cung cấp đề tài nghiên cứu
KH&CN xảy ra khi lợi ích cận biên của tổ chức/cá nhân không tương ứng với lợi ích cận
biên xã hội, tức là có sự khác biệt giữa giá trị cá nhân và giá trị xã hội. Đây là lý do quan
trọng để nhà nước(chính quyền thành phố) phải can thiệp vào việc cung cấp đề tài nghiên
cứu KH&CN cho xã hội. Sự can thiệp của nhà nước là cần thiết để đạt được hiệu quả kinh
tế khi ngoại ứng tác động đến số đông hoặc khi lợi ích cộng đồng bị đặt cược/xâm hại, sự
can thiệp của nhà nước vào việc cung cấp đề tài nghiên cứu KH&CN cho xã hội có nhiều
kiểu khác nhau:
Tạ Doãn Trịnh (2009), “Bản chất kinh tế tri thức khoa học và công nghệ”, Hoạt động khoa học, số 600,
tr.28-32.
3
10
- Đối với đề tài nghiên cứu cơ bản, có đặc tính công thuần túy thì nhà nước cần
phải đứng ra (thông qua Sở KH&CN) đảm nhiệm việc tài trợ và cung cấp dịch vụ công ích
này.
- Đối với đề tài nghiên cứu ứng dụng, sản phẩm đầu ra chủ yếu là các tri thức dạng
sáng chế, bên cạnh việc nhà nước đảm nhận việc tài trợ và cung cấp dịch vụ công ích này
thì còn có chính sách khuyến khích tổ chức/cá nhân đầu tư nghiên cứu tạo ra sáng chế bằng
cách cấp bảo hộ độc quyền.
- Đối với đề tài triển khai thực nghiệm, tùy theo mức độ công ích và mức độ tạo
ngoại ứng dương (hiểu trên góc độ tiêu dùng) sự can thiệp của nhà nước có thể là hỗ trợ
một phần chi phí cho các rủi ro trong nghiên cứu, hoặc ưu đãi thuế…
Ngoài ra, nhà nước cần phải can thiệp vào việc cung cấp đề tài nghiên cứu
KH&CN vì cá nhân, doanh nghiệp không có khả năng thâu tóm tất cả lợi ích mà họ có thể
mang lại cho xã hội thông qua hoạt động đổi mới của mình (ví dụ đầu tư nghiên cứu, triển
triển KT-XH Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020. Mặt khác, chính quyền thành phố đảm
bảo được nguồn lực (vốn đầu tư và có thể cả nguồn lực con người) cần thiết để thực hiện
các đề tài nghiên cứu.
Ngoài ra, chính quyền địa phương được giao quyền phải tổ chức quản lý nhà nước
việc nghiên cứu KH&CN tại địa phương.
Việc tổ chức nghiên cứu KH&CN của nước ta hiện nay được chia thành các cấp
4
như sau (Phụ lục 2):
- Tổ chức nghiên cứu cấp quốc gia (Bộ KH&CN giữ vai trò thường trực) do Chính
phủ thành lập, hàng năm tổ chức nghiên cứu KH&CN thông qua việc tổ chức 02 Giải
thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng nhà nước KH&CN.
- Tổ chức nghiên cứu cấp Bộ do Thủ tướng chính phủ thành lập gồm các cơ quan
nghiên cứu của các Bộ chuyên ngành. Bộ KH&CN là cơ quan chuyên môn giúp Chính phủ
tổ chức thực hiện việc nghiên cứu KH&CN thông qua nhiều giải thưởng khác nhau như:
Giải thưởng sáng tạo KH&CN Việt Nam; Giải thưởng kỹ thuật VIFOTEC dành cho sinh
viên; Giải thưởng WIPO dành cho doanh nghiệp; Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc;
Cuộc thi sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên- Nhi đồng toàn quốc. Đặc biệt việc tổ chức
nghiên cứu KH&CN hàng năm bằng ngân sách nhà nước, thông qua hình thức tuyển chọn,
xét chọn các tổ chức/cá nhân có đủ năng lực để thực hiện các đề tài nghiên cứu.
- Tổ chức nghiên cứu cấp địa phương do Thủ tướng chính phủ thành lập gồm
UBND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh giao cho các sở chuyên ngành và Sở KH&CN tổ chức
việc thực hiện nghiên cứu giống theo mô hình cấp Bộ.
Ngoài ra, ở Việt Nam còn có một số tổ chức nghiên cứu do doanh nghiệp, các
trường đại học thành lập. Hiện nay cả nước ta có khoảng 110 tổ chức nghiên cứu KH&CN
4
Theo khoản 3, Điều 10 của Luật KH&CN và điều 5 của Nghị định 81/2002/NĐ-CP.
- Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN về hướng dẫn định mức xây
dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách
nhà nước.
Hoạt động khoa học (2012), “Các cơ quan nghiên cứu và triển khai KH&CN”, truy cập lần cuối ngày
10/03/2012 tại địa chỉ />
5
13
b) Cơ sở pháp luật của công tác quản lý nhà nước về các nhiệm vụ KH&CN cấp địa
phương
Đối với Thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở cơ chế chính sách của trung ương, UBND
thành phố đã ban hành các văn bản pháp quy bao gồm:
- Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 18/3/2005 về việc“Quy định về cơ chế quản
lý các nhiệm vụ KH&CN Thành phố Đà Nẵng”.
- Quyết định số 51/2006/QĐ-UBND ngày 26/5/2006 về việc “Phê duyệt các
Chương trình KH&CN của thành phố giai đoạn 2006- 2010”.
- Quyết định số 03/2009/QĐ-UBND ngày 19/02/2009 về việc “Quy định về định
mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với đề tài, dự án KH&CN có sử dụng ngân
sách nhà nước của Thành phố Đà Nẵng”.
- Quyết định số 6211/QĐ-UBND ngày 18/8/2010 về việc “Phê duyệt Quy hoạch
tổng thể phát triển ngành KH&CN Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”.
Các Quyết định này bước đầu tạo được cơ chế quản lý và phương thức chi tài
chính của các nhiệm vụ KH&CN rõ ràng và phù hợp hơn. Quy định trách nhiệm cụ thể
cho các cơ quan quản lý, chủ trì nghiên cứu, các bước quy trình quản lý được thực hiện
đảm bảo theo quy định của nhà nước, vừa phù hợp với thực tế hoạt động nghiên cứu
khoa học, tạo thuận lợi cho công tác R&D trên địa bàn thành phố tại thời điểm ban
hành.
- Thành lập quỹ độc lập để tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học. Nguồn vốn đầu
tư cho nghiên cứu khoa học được “xã hội hóa” thu hút nhiều nguồn đầu tư của cả tư nhân,
doanh nghiệp và nhà nước.
- Các viện phục vụ việc nghiên cứu có thể thuộc nhà nước hoặc do doanh nghiệp
thành lập nhằm phục vụ thị trường.
- Các trường đại học giữ vai trò quan trọng trong hệ thống nghiên cứu và chuyển
giao những sáng chế và kết quả nghiên cứu nói chung vào đời sống.
Tóm lại, từ kinh nghiệm cách thức tổ chức thực hiện nghiên cứu KH&CN của một
số nước, có thể rút ra một số kinh nghiệm đối với Việt Nam và bài nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, nhà nước phải đầu tư ngân sách cho việc nghiên cứu KH&CN. Tỉ lệ đầu
từ của nhà nước cho nghiên cứu tùy thuộc từng nước ví dụ Trung Quốc đầu tư cho nghiên
cứu chiếm 30% tổng chi tiêu cho KH&CN, Úc và New Zealand vốn đầu tư nghiên cứu là
chiếm 50% (50% còn lại từ các nguồn khác), Hungary chiếm 1,15% GDP…Ở Việt Nam
đầu tư cho KH&CN cần đạt 2% tổng chi ngân sách tương đương khoảng 0,6 GDP (trích
dẫn tại trang 32).
Thứ hai, các nước đều thiết lập các thiết chế để thực hiện nghiên cứu và khuyến
khích nghiên cứu. Ví dụ: Trung Quốc giao việc nghiên cứu cho các bộ, viện, các trường
đại học và các địa phương (giống mô hình của Việt Nam hiện nay); ở Úc và New Zealand,