VAT
2.3. Đánh giá thực trạng Quản lý Thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay:
2.3.1. Kết quả đạt được:
Thuế gia trị gia tăng ngày càng khẳng định được đây là loại thuế tiên tiến nhằm tạo ra sự công bằng và
tiến bộ. Thuế GTGT đã góp phần làm tăng ngân sách nhà nước, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Sự đóng
góp của Thuế GTGT tăng liên tục qua các năm. Năm 2010, Thuế GTGT đóng góp 158,661 tỷ đồng (chiếm 33%
tổng thu từ Thuế) vào ngân sách nhà nước.
Hệ thống Thuế GTGT cũng tạo ra môi trường kinh doanh hơn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận
lợi, ưu tiên cho hàng hóa được khuyến khích phát triển. Đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu, không chỉ áp dụng mức
thuế suất ưu đại mà chính việc sử dụng thuế GTGT cũng giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hội nhập với thị
trường thế giới do cùng được áp dụng bởi một sắc thuế chung.
Với bước đi đột phá trong ngành thuế thông qua việc ban hành những quy định mới về kê khai, nộp thuế
và quản lý thuế đã tạo ra môi trường mới thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình.
Hệ thống quản lý Thuế nói chung và Thuế GTGT nói riêng đang ngày càng hướng tới sự chủ động và tiết kiệm
hơn cho cả hai phía doanh nghiệp và Nhà nước. Hệ thống thuế GTGT đã bớt rườm rà trong các khâu thủ tục
hành chính với việc trao cho DN quyền tự chủ hơn trong việc kê khai, nộp thuế. Năm 2009, số giờ thủ tục hành
chính về thuế kỷ lục lên đến 1050h cho việc nộp thuế ở nước ta thì hiện nay với cơ chế mới DN đã chủ động
hơn về thời gian, thủ tục và hình thức nộp thuế. Đội ngũ cán bộ thuế ngày càng được nâng cao về nghiệp vụ và
trình độ đã giúp cho hệ thông thuế được vận hành trơn chu. Sự đánh giá về tính thân thiện của hệ thống quản lý
với đối tượng ngày càng được cải thiện.
Một điểm sáng nữa của hệ thống thuế là việc tiến hành áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế.
Công tác quản lý thuế ngày càng sâu sát hơn, tạo sự liên kết giữa các cơ quan có cung chức năng quản lý thuế
trên cơ sở dữ liệu chung, nâng cao chất lượng quản lý tránh tình trạng các doanh nghiệp cố tình trốn thuế.
Đồng thời về mặt xã hội thì Thuế GTGT tăng cũng cải thiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập
người dân.
Hạn chế trong quản lý thuế:
2.3.2.1 Hạn chế trong chính sách thuế:
Hệ thống pháp luật ban hành chưa được thống nhất giữa các cơ quan, ban ngành, còn nhiều bất cập,
thiếu tính cụ thể gây khó khăn, trở ngại trong quá trình triển khai áp dụng luật cho các doanh nghiệp, cũng như
không đảm bảo tính trung lập của thuế.
+ Về đối tượng không chịu thuế: Điều 5 luật thuế GTGT quy định có 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc
thông tin và căn cứ để thực hiện các biện pháp quản lý thuế (thu nợ, cưỡng chế…) đối với các hoạt động vãng
lai.
- Xử lý hoàn thuế:
+ Quá trình thủ tục xin hoàn thuế khá rắc rối, mất nhiều thời gian và công sức của các doanh nghiệp.
Để được hoàn thuế, các doanh nghiệp phải nộp hồ sơ và toàn bộ hoá đơn, chứng từ lên cơ quan thuế rồi chờ
nhân viên thuế xuống đơn vị kiểm tra, đối chiếu hoá đơn thực hiện băng phương pháp thủ công, kéo dài thời
gian kiểm tra làm chậm việc hoàn thuế, bên cạnh đó còn nhiều hiện tượng tiêu cực khác cũng gây thêm khó
khăn cho doanh nghiệp.
+ Việc các cơ sở xuất khẩu nhưng có số thuế đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng
chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì không được hoàn thuế theo tháng, điều này sẽ làm cho vốn của
các doanh nghiệp bị lưu lại khá lâu gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh tiếp theo của họ.
+ Các cơ sở kinh doanh không có hoạt động xuất khẩu hoặc có nhưng giá trị thấp, thì dù số thuế đầu
vào trong tháng phát sinh cao đến mấy vẫn không được hoàn theo tháng mà phải chờ đủ 3 tháng. Đây là hạn chế
rất lớn của quy định về hoàn thuế.
+ Trong quá trình thực hiện hoàn thuế GTGT đối với các nhà thầu chính của dự án ODA, cơ quan
thuế rất khó xác định chính xác số thuế GTGT đầu vào của nhà thầu chính, vì họ chỉ được hoàn thuế GTGT đầu
vào của hàng hóa, dịch vụ mua vào để thực hiện hợp đồng ký với chủ dự án, nhưng trên thực tế có nhiều hàng
hóa nhà thầu chính mua vào phục vụ cho nhiều dự án ngoài hợp đồng đã ký cho dự án ODA.
2.3.3.3 Hạn chế trong bộ máy quản lý thuế:
- Hệ thống cơ quan hành thu còn quá cồng kềnh, số lượng cán bộ thuế nhiều mà tỷ lệ thanh tra thuế lại
không đáng kể,… Các khâu hành thu phức tạp, một số trường hợp còn xảy ra hiện tượng chồng chéo.
- Bộ máy tổ chức ngành thuế chưa hoàn thiện: Hiện nay bộ máy quản lý thuế của nước ta được tổ chức
theo ngành dọc từ Trung ương tới cấp huyện. Hệ thống này được phân chia vừa theo sắc thuế vừa theo đối
tượng nộp thuế. Một cán bộ thuế phải đảm nhiệm nhiều chức năng từ thông báo thuế, thu thuế, kiểm tra thuế do
đó không có điều kiện chuyên sâu vào một nghiệp vụ nhất định. Khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT, quy trình
quản lý thuế phải thay đổi, cơ quan thuế phải tổ chức thu thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế,… trình độ của một số
cán bộ còn thấp do đó không đáp ứng yêu cầu của công việc.
- Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ còn nhiều hạn chế. Công chức thuế nói chung còn thiếu kiến
thức chuyên sâu, kỹ năng quản lý thuế quốc tế, cán bộ lãnh đạo một số còn yếu về kiến thức quản lý kinh tế,
quản lý vĩ mô và quản lý hành chính nhà nước.
+ Đối với kinh doanh hàng hoá: 1%;
+ Đối với hoạt động khác (bao gồm cả hoạt động giáo dục, y tế, biểu diễn nghệ thuật): 2%;
Ví dụ: Đơn vị sự nghiệp A có phát sinh hoạt động cho thuê nhà, doanh thu cho thuê nhà 1 năm là 100 triệu
đồng, đơn vị không hạch toán và xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động cho thuê nhà nêu trên do vậy
đơn vị lựa chọn kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ
như sau:
Số thuế TNDN phải nộp = 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000 đồng.
• Các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Hàng hoá bị hư hỏng do hết hạn sử dụng, bị hư hỏng do thay đổi quá trình sinh hoá tự nhiên không được bồi
thường và nằm trong định mức do doanh nghiệp xây dựng thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu
nhập chịu thuế. Trường hợp hàng hoá bị hư hỏng do hết hạn sử dụng, bị hư hỏng do thay đổi quá trình sinh hoá
tự nhiên vượt quá định mức do doanh nghiệp xây dựng thì phần vượt định mức sẽ không được tính vào chi phí
được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Trường hợp TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đang dùng cho SXKD nhưng phải tạm thời dừng
do sản xuất theo mùa vụ với thời gian dưới 9 tháng; tạm thời dừng để sửa chữa, để di dời di chuyển địa điểm, để
bảo trì, bảo dưỡng theo định kỳ, với thời gian dưới 12 tháng, sau đó TSCĐ tiếp tục đưa vào phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh thì trong khoảng thời gian tạm dừng đó doanh nghiệp được trích khấu hao và khoản
chi phí khấu hao TSCĐ trong thời gian tạm dừng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu
thuế.
Quyền sử dụng đất lâu dài không được trích khấu hao vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế;
quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đầy đủ hoá đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của
pháp luật, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được phân bổ dần vào chi phí được trừ theo thời
hạn được phép sử dụng đất theo quy định
Không tính vào chi phí được trừ: Các khoản tiền thưởng cho người lao động không được ghi cụ thể điều
kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thoả ước lao động tập
thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị,
Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.
Không tính vào chi phí được trừ: Phần chi trang phục bằng hiện vật cho người lao động không có hoá đơn,
chứng từ; phần chi trang phục bằng tiền, bằng hiện vật cho người lao động vượt quá 05 (năm) triệu
đồng/người/năm.
- Thuế TNDN góp phần kích thích tăng trưởng, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, Ngoài ra còn khuyến
khích miễn, giảm thuế đối với các trường hợp đầu tư dây chuyền sản xuất mới mở rộng quy mô, đổi mới công
nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, di chuyển cơ sở kinh doanh, khuyến khích đối
với doanh nghiệp xuất khẩu.
(- Thuế TNDN góp phần tăng cường mở rộng quy mô vốn của doanh nghiêp)
- Thuế TNDN góp phần bình ổn thị trường giá cả: Với cơ chế điều chỉnh của mình thuế TNDN không điều
chỉnh qua giá mà điều chỉnh sau khi có thu nhập, vì vậy dù có nhiều quy định ưu đãi, miễn giảm thuế cũng
không gây ảnh hưởng đến cơ chế giá của thị trường, đảm bảo không có sự biến động hàng hóa thiết yếu trên thị
trường, gia tăng lưu thông hàng hóa, hỗ trợ cho những địa bàn kinh tế khó khăn .
- Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước.
- Thực hiện thuế TNDN với đảm bảo công bằng xã hội và hoàn thiện chế độ hóa đơn chứng từ: Để từng bước
thực hiện chính sách công bằng về thuế, việc kê khai và tính đúng thuế TNDN trên nguyên tắc phải có hóa đơn
chứng từ đầy đủ để xác định chi phí được khấu trừ. Từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế chú
trọng tốt hơn công tác mở sổ sách kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hóa đơn chứng từ.
Hạn chế
- Thuế tndn ở việt nam hiện nay đang ngang bằng với tq, nhưng cao hơn singapo, hàn quốc, đài loan…
nên chưa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tích tụ vốn để tái đầu tư, mở rộng sxkd.
- Quy định hạch toán tiền lương tiền thưởng cũng có nhiều điểm chưa rõ ràng dẫn đến thiếu công bằng:
như tiền lương tiền công của chủ dn tư nhân, công ty TNHH 1 thành viên không được hạch toán vào chi
phí ( Trường hợp DN ký hợp đồng với lao động là người nước ngoài có ghi khoản chi về tiền học cho
con tại vn theo bậc học phổ thông thì được tính vào chi phí trong khi đó cũng là tiền học cho con, nếu là
dn trả tiền cho người lao động tự tìm nhà ở , tự trả tiền học phí lại không được tính vào chi phí ).
- Đại diện tập đoàn viettel: thuế suất 25% như hiện nay được cho là dễ dàng hơn với ngành thuế nhưng lại
gây khó khăn cho dn nhất là trong bối cảnh tác động từ khủng hoảng kttg, cũng như chính sách thắt chăt
tiền tệ, tai chính ở trong nước tác động đến các dn không giống nhau. Thuế suất cao sẽ dễ dàng tăng điều
tiết tập trung cho NSNN, tuy nhiên sẽ khiến nhiều dn gặp khó khăn, về lâu dài Nhà nước không đc lợi.
- Bên cạnh đó quy định chi phí khánh tiết, tiếp thị, quảng cáo,,, chỉ được giới hạn trong 10% doanh thu là
không hợp lý. Thực tế hầu hết các dn đều vấp phải quy định này và phải tìm cách che giấu lách luât.
Việc khống chế mức trả tối đa để ngăn ngừa hiện tượng tránh thuế đối với một số khoản chi là không
cần thiết. Ví dụ như chi phí quảng cáo, tiếp thị, ăn giữa ca, trang phục, trả lãi vay, hoa hồng môi giới và
chi.
2. Quản lý thuế
a. Ưu điểm
• Thủ tục hành chính về thuế TNDN được đơn giản hóa
Các thủ tục hành chính được đơn giản hóa nhằm đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh
bạch, tạo sự thuận lợi, giảm chi phí, phiền hà cho các doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủ tục hành
chính. Nó cũng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần
phòng chống tham nhũng và lãng phí.
Thủ tục đăng kí thuế cũng được triển khai theo cơ chế liên thông một cửa, thống nhất áp dụng chung mã số
thuế với đăng ký kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp, rút ngắn thời gian giải quyết đối với thủ tục đăng ký
kinh doanh và đăng ký thuế từ 15 ngày xuống còn 5 ngày làm việc. Cũng theo quyết định mới này thì sở kế
hoạch đầu tư tỉnh thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan đầu mối tiếp nhận hồ sơ và trả lời giải quyết các
thủ tục hành chính về đăng kí thuế cũng như đăng kí kinh doanh. Điều này rất thuận lợi cho các doanh nghiệp
mới thành lập, làm cho thủ tục thành lập doanh nghiệp nhanh chóng hơn, đỡ mất thời gian cho các doanh
nghiệp.
Các mẫu biểu hồ sơ khai thuế được thiết kế, ban hành đồng bộ với các quy định của Luật quản lý thuế. Các
văn bản pháp luật, mẫu biểu và quy trình thủ tục thực hiện đều được công khai và cung cấp cho người nộp thuế
qua bộ phận tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế tại cơ quan thuế địa phương và thông qua trang Web ngành thuế
,trang web Bộ Tài chính và các trang thông tin điện tử của chính quyền địa phương. Nhờ đó, việc tiếp cận thông
tin và thực hiện pháp luật về thuế của người dân và doanh nghiệp đã được thuận lợi, ý thức tuân thủ pháp luật
thuế ngày càng nâng cao.
Thủ tục thu nộp thuế, hoàn thuế được đơn giản hoá tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế.
• Đối mới phương pháp quản lý việc nộp thuế của doanh nghiệp
Doanh nghiệp tiến hành nộp thuế TNDN sẽ tiến hành tự tính- tự kê khai- tự nộp. Theo phương pháp mới này thì
ngành thuế đề cao nghĩa vụ của các doanh nghiệp khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngành thuế cũng thực hiện chế độ một cửa cung cấp dịch vụ tập trung hoàn toàn phù hợp với xu hướng hiện
đại, chuyên nghiệp, chuyên sâu của cơ quan thuế, cụ thể đảm bảo sự chuyên nghiệp theo đúng các chức năng
quản lý thuế; giảm đầu mối tiếp xúc trực tiếp giữa người nộp thuế và công chức thuế. Đồng thời, thông qua cơ
chế “một cửa”, cơ quan thuế có được đầu mối theo dõi, đánh giá và đôn đốc việc giải quyết thủ tục hành chính
thuế ở các bộ phận chức năng, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan thuế.
và số liệu khai thuế của DN gửi đến cơ quan thuế một cách nhanh chóng, chính xác và đảm bảo, không sai sót,
nhầm lẫn do phần mềm hỗ trợ kê khai thuế HTKK đã hỗ trợ tính toán, kiểm tra lỗi không cố ý khi khai thuế.
Cũng tạo nhiều thuận lợi cho cơ quan thuế khi giảm tình trạng quá tải, áp lực cho các cơ quan thuế mỗi khi
đến kỳ hạn nộp hồ sơ khai thuế. Giảm thời gian, nhân lực tiếp nhận tờ khai, đặc biệt là giảm rất nhiều chi phí
cho việc lưu trữ hồ sơ khai thuế cũng như tìm kiếm thông tin.
Ngành thuế đang có kế hoạch triển khai nộp thuế qua mạng. Hiện nay thì ngành thuế đang thực hiện Dự án
hiện đại hóa thu ngân sách Nhà nước giữa các cơ quan thuế – kho bạc – hải quan – tài chính; phối hợp KBNN
và một số ngân hàng thương mại thực hiện dự án ‘Nộp thuế qua ngân hàng’, giúp người nộp thuế giảm chi phí
về thời gian, giấy tờ, bảo đảm tính chính xác trong quá trình thu thuế vào ngân sách Nhà nước.
Tính đến hết năm 2011, cả nước đã có hơn 65000 doanh nghiệp đăng kí khai thuế qua mạng. Kế hoạch năm
2012 là tiếp tục mở rộng triển khai nộp thuế qua mạng; Triển khai thí điểm hệ thống cung cấp dịch vụ thuế điện
tử e-Tax service; Triển khai mở rộng hệ thống cung cấp thông tin thuế cho người nộp thuế qua điện thoại,
email…; Phối hợp với ngân hàng xây dựng một số ứng dụng hỗ trợ thực hiện nộp thuế điện tử; Duy trì hệ thống
ứng dụng phục vụ nộp thuế, nộp tờ khai qua mạng và trang web ngành Thuế.
Năm 2013, triển khai mở rộng hệ thống ứng dụng cung cấp dịch vụ thuế điện tử, bảo đảm 50% doanh
nghiệp kê khai qua mạng và 30% nộp thuế qua mạng; Triển khai mở rộng và duy trì các ứng dụng đã triển khai
trong năm trước; Tích hợp các dịch vụ thuế vào một Cổng điện tử ngành Thuế thống nhất toàn quốc.
• Nâng cao chất lượng công tác thanh tra và kiểm tra
Với nội bộ ngành thuế việc áp dụng quản lý thuế đã tạo điều kiện để cơ quan quản lý thuế quản lý lại theo
mô hình chức năng. Cán bộ công chúc được bố trí sắp xếp lại đc đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên sâu
trong lĩnh vực. thanh tra thuế đã dựa trên cơ sở thu nhập và phân tích thông tin, đánh giá mức độ tuân thủ và xác
định rủi ro phân loại doanh nghiệp để để quyết định thanh tra thuế với những trường hợp có vi phạm luật thuế
hay có rủi ro về thuế. Do đó đã tập trung được nguồn lực để thực hiện công tác thanh tra đúng theo đối tượng
nhằm chống thất thu có hiệu quả hơn, và đặc biệt là không làm phiền những doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa
vụ thuế.( số liệu về thanh tra thuế 2011)
• Kịp thời xử lý các khoản nợ thuế.
Đối với chức năng quản lý nợ , trên cơ sở những điều chỉnh của luật quản lý thuế, nghành thuế đã xây dựng
được bộ máy quản lý nợ và tình trạng nơ trong toàn ngành từ đó xử lý dứt điểm nợ cũ, giảm thiểu nợ mới phát
sinh. Bằng những biện pháp nghiệp vụ có hiệu quả, tỷ trọng nợ thuế nội địa trên tổng thu ngân sách nhà nước
(trừ dầu): có xu hướng giảm dần qua các năm: năm 2007 là 7%, năm 2010 là 5,5%. Tỷ trọng nợ thuế đối với
có một số trường hợp khác phát sinh như có nhiều trường hợp nợ thuế, nợ phạt không phải do chủ quan của
doanh nghiệp mà do nguyên nhân khách quan (các thay đổi trong hệ thống chính sách thuế, hải quan, cải
cách doanh nghiệp từ 1990 đến nay, tác động của khủng hoảng kinh tế vào các năm 1998- 1999 và năm
2008- 2009), gây khó khăn cho việc xác định số tiền thuế phải nộp, tạo gánh nặng cho doanh nghiệp với các
khoản nợ phát sinh do lịch sử để lại chưa được xử lý. Do vậy, trên thực tế hiện còn tồn tại những khoản nợ
thuế đang thuộc diện khoanh nợ cần được xem xét để xử lý xoá nợ nhưng chưa có quy định để xử lý.
Tại điều 8 của Luật QLT quy định cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm " Giải thích, cung cấp thông tin liên
quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế". Luật cũng quy định các tổ chức , cá nhân có trách
nhiệm tự kê khai, tính thuế , nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
Nhưng luật lại không quy định trường hợp cơ quan quản lý thuế giải thích, hướng dẫn sai, dẫn đến người nộp
thuế kê khai, tính thuế sai thì trách nhiệm của cơ quan thuế phải xác định và xử lý như thế nào. Thực tế đã cho
thấy, có một số trường hợp DN đã khởi kiện cơ quan thuế ra tòa vì hướng dẫn sai, rồi sau đó lại xử phạt DN.
• Chưa thu đúng và kịp thời số thuế TNDN vào NSNN:
Do các quy định chính sách thuế TNDN con chưa đồng bộ và chưa theo kịp thực tế phát triển kinh tế, vì
vậy nhiều trường hợp mặc dù chính sách thuế đã ban hành nhưng lại không được quy định rõ ràng dẫn đến còn
nhiều cách hiểu khác nhau nên trong thực tế quản lý thuế TNDN bộ tài chính, tổng cục thuế và một số cục thuế
địa phương đã ban hành văn bản không đúng quy định của pháp luật về thuế TNDN đz dẫn đến thất thu thuế
TNDN và trược tiếp ảnh hưởng tiêu cực đên môi trường đầu tư kinh doanh. Riêng trong năm 2011 ngành thuế
đã tiến hành thanh tra, kiểm tra tại 45 939 doanh nghiệp, đã xử lý truy thu 7683 tỷ đồng, giảm lô trên 8400 tỷ
đồng.
Thất thu thuế xuất phát trước hết là từ sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan chức năng. Trong năm 2010
và 2011, tổng cục thuế đã thanh tra, kiểm tra nhiều lần và phát hiện nhiều sai phạm từ những năm trước đó với
số thuế thất thu rất lớn. Như sai phạm từ hướng dẫn miễn giảm thuế TNDN, hạch toán các chi phí được trừ khi
xác định thu nhập chịu thuế TNDN …đã làm thất thu ước tính khoảng 233.4 tỷ đồng. Ngoài ra, việc xử lý kết
quả thanh tra của tổng cục thuế như đối với cục thuế Hà Tây, công ty TNHH Ford Việt Nam, công ty
Vinacomin…cũng chưa thỏa đáng dẫn tới không thu thuế kịp thời, không bình đẳng trong thực thi pháp luật về
thuế.
Cũng quan trọng không kém là ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế còn hạn chế, nhiều
trường hợp tìm mọi cách để chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước nên tình trạng thất thu thuế từ những vi phạm
pháp luật về hóa đơn như khai khống, khai không trung thực với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh. Không chỉ khó khăn về tiêu thụ hàng hóa, việc thiếu vốn khiến DN không chỉ chậm nộp thuế mà còn
“chây ì” thanh toán tiền hàng trong giao dịch mua bán nhằm chiếm dụng vốn lẫn nhau, dẫn đến tình trạng nợ
đọng thuế trầm trọng thêm. Số tiền thuế nợ của nhóm này (không kể nhóm DN phá sản, bỏ trốn… - NV) đã
chiếm tới 72% tổng số nợ thuế, trong đó, nợ trên 90 ngày đã chiếm 63%. Đặc biệt, một số DN đã nợ từ hàng
chục đến hàng trăm tỉ đồng tiền thuế và nợ kéo dài. Trong số này có nhiều DN tên tuổi như Hoàng Anh Gia Lai,
Vinashin, Công ty Cổ phần Tập đoàn Thành Công, Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội, Công ty Cổ phần Cavico
Xây dựng cầu hầm, Công ty Cổ phần Bia rượu và nước giải khát Phú Yên. Riêng Hoàng Anh Gia Lai nợ thuế
lên đến hàng trăm tỉ đồng do tình trạng “đóng băng” ở thị trường bất động sản.
• Số lượng doanh nghiệp khai thuế qua mạng còn khá khiêm tốn do các doanh nghiệp chưa mấy mặn mà
Tính đến hết năm 2011 số doanh nghiệp đã đăng kí khai thuế điện tử là 65000 doanh nghiệp nhưng theo đánh
giá của Tổng cục Thuế, con số này vẫn còn quá khiêm tốn nếu so với khoảng 500.000 DN vừa và nhỏ và
280.000 DN siêu nhỏ trên phạm vi cả nước. Bởi vẫn còn trên 20% DN “trung thành” với phương thức kê khai
thuế thủ công truyền thống. Do vậy, tính đến thời điểm này, có thể khẳng định phương thức kê khai thuế bằng
hồ sơ giấy truyền thống vẫn đang chiếm “ưu thế” so với khai thuế qua mạng.
Nguyên nhân của những vấn đề tồn tại trong việc kê khai thuế qua mạng là do:
- Ngành thuế chưa nhận được sự đồng tâm, hiệp lực từ phía DN. Nhiều DN vẫn còn e dè chưa muốn thay đổi thói
quen kê khai bằng giấy; trình độ và hạ tầng về CNTT (thiết bị máy tính, đường truyền, ) tại một số DN còn
thấp nên việc thực hiện khai thuế qua mạng còn nhiều lúng túng. Nhiều DN còn e ngại thay đổi phương thức kê
khai theo cách thức hiện tại và có ý nghĩ là khi nào bắt buộc thì mới thực hiện.
- Tổng cục Thuế cũng thừa nhận còn một số lỗi từ phía cơ quan Thuế như: Hệ thống khai thuế qua mạng cho nội
bộ cơ quan Thuế và cho DN hoạt động chưa ổn định, hay bị quá tải, nghẽn mạng vào thời điểm đến hạn nộp tờ
khai thuế cuối tháng.
- Nhiều khi dữ liệu khai thuế không chuyển được vào ứng dụng quản lý thuế dẫn tới việc cán bộ thuế vẫn phải in
ra để nhập số liệu bằng tay. Về mặt cơ chế, chính sách, hiện vẫn chưa có văn bản pháp lý quy định rõ trách
nhiệm sử dụng, bảo quản chứng thư số, hoặc lưu trữ hồ sơ khai thuế điện tử khi khai thuế qua mạng. Cơ quan
Thuế chưa chủ động trong triển khai do còn phải phụ thuộc vào các đơn vị cung cấp chứng thư số.
Bộ tài chính đang lên kế hoạch để đến năm 2015 cải cách hệ thống thuế cũng như thủ tục hành chính,
phấn đấu tối thiểu có 60% doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ thuế điện tử; 50% doanh nghiệp đăng ký thuế,
khai thuế qua mạng Internet; tỷ lệ khai thuế đã nộp trên tổng số tờ khai thuế phải nộp tối thiểu là 90%; tỷ lệ tờ
khai thuế đúng hạn đạt tối thiểu là 85%; tỷ lệ tờ khai thuế được kiểm tra tự động qua phần mềm ứng dụng của
ngữ kém nên không chú ý nhiều đến mảng có vốn đầu tư nước ngoài. Số lượng cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm
thanh tra, kiểm tra lớn (do chiến lược cải cách ngành thuế, những năm vừa qua ngành đã tuyển dụng hơn 1.000
cán bộ trẻ).
Thậm chí một số cán bộ thanh tra, kiểm tra còn chưa nắm vững chính sách thuế, chưa thành thạo về kế
toán doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp để phát hiện các gian lận về thuế.
Ngoài ra, phong cách ứng xử của một số cán bộ thanh tra, kiểm tra chưa văn minh, lịch sự, cách thức
làm việc thiếu tính khoa học và chuyên nghiệp.
Ví dụ: thanh tra DN chuyển giá, cán bộ thuế phải có trình độ nghiệp vụ chuyên môn giỏi, ngoại ngữ giỏi, nắm
chắc quy trình kiểm tra, giá bán, hoạt động DN. Hiện nay, ở Việt Nam, kinh nghiệm đó chưa nhiều, cần thời gian
để cán bộ học tập, trau dồi.
• Tình trạng tiêu cực, tham nhũng quan liêu của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế
Những tiêu cực như đưa và nhận hối lộ, cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế thông đồng với doanh nghiệp để gian
lận thuế vẫn còn xảy ra. Những tiêu cực này đã dẫn đến những quyết định trái pháp luật, xâm hại đến quyền và
lợi ích hợp pháp của những chủ thể khác nên thường gây ra tình trạng khiếu kiện, tố cáo và thất thoát cho ngân
sách nhà nước. Mặc dù trong thời gian vừa qua, công tác phòng và chống tham nhũng được đẩy mạnh, nhưng
nhiều vụ việc trốn lậu thuế bị phát hiện thường có liên quan đến công chức quản lý thuế. Từ những phản ánh
trên các phương tiện thông tin đại chúng và các vụ việc đã được cơ quan chức năng phát hiện và xử lý, thì có
thể khẳng định rằng, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động quản lý thuể còn khá phổ biến như
đưa và nhận tiền hối lộ, hoặc đòi được hối lộ bằng nhiều hình thức tinh vi khác.
• Điều kiện hỗ trợ cho công tác quản lý thuế TNDN chưa thỏa đáng
Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu còn hạn chế: mặc dù thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
công tác quản lý thuế được triển khai với quy mô toàn quốc nhưng vẫn còn cần nhiều thời gian để hệ thống thuế
thực sự có được công nghệ quản lý phù hợp có thể tổng hợp và đưa ra những số liệu thống kê một cách chi tiết
và đáng tin cậy về đối tượng nộp thuế, về quản lý hóa đơn chứng từ và các thông tin tại doanh nghiệp…việc
thiếu các số liệu chi tiết tin cậy và không kịp thời làm cho những người ra quyết định chính sách thuế TNDN
gặp phải nhiều khó khăn trong việc đánh giá anh hưởng tiềm năng cả những thay đổi cơ bản đến hệ thống thuế
hiện hành.
Đối với đối tượng nộp thuế do kiến thức hạn chế, lại phân tán rộng trên địa bàn khác nhau nên việc tiếp cận
theo phương thức quản lý thuế mới còn nhiều khó khăn. Mặt khác, việc xử lý vi phạm páp luật về thuế có nơi,
có luc còn gặp khó khăn như người nộp thuế vi phạm nhưng không để số dư tiền gửi ngân hàng không thực hiện
triển của các tập đoàn kinh tế, hiện tượng "vốn mỏng" khi xác định chi phí, đặc biệt là chi phí lãi vay,
điều chuyển hoặc đánh giá lại tài sản khi tái cơ cấu doanh nghiệp, thỏa thuận trước về giá của các doanh
nghiệp liên kết).
2 . Giải pháp quản lý thuế.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về thuế:
Đẩy nhanh, đẩy mạnh thanh tra đến các đơn vị lớn ,có rủi ro về thuế. Tập trung đào tạo cán bộ ngành thuế, và
cần phân loại đối tượng nộp thuế trong thanh tra,kiểm tra của mình theo mức độ rủi ro về thất thu thuế và độ tín
nhiệm của các ĐTNT, theo đó những đối tượng chấp hành tốt thì cần hạn chế thanh tra, ngược lại những đối
tượng có biểu hiện vi phạm thì lập kế hoạch thạnh tra kiểm tra, áp dụng chế tài nghiêm khắc để răn đe.
Mặt khác để khắc phục tình trạng thanh tra kiểm tra chồng chéo như hiện nay, nhà nước nên quy định rõ trách
nhiệm thanh tra, kiểm tra, để tránh tình trạng làm phiền hà, khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Quản lý chặt chẽ chế độ sử dụng hóa đơn, chứng từ tại doanh nghiệp.
Việc thực hiện các quy định về hóa đơn không chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp mà đòi hỏi các nghành, các
cấp phải đặc biệt quan tâm. Trong những năm qua đại đa số các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh đều chấp
hành chế độ in , quản lý,sử dụng hóa đơn, và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho NSNN. Tuy nhiên, đã
có một bộ phận doanh nghiệp kinh doanh đã có hành vi vi phạm quy định về in, phát hành, sử dụng và in hóa
đơn. Nghiêm trọng là các hành vi mua bán hóa đơn bất hợp pháp, lập hóa đơn khống. đặc biệt có một số tổ chức
cá nhân việc cấp giấy phép đăng ký kinh doanh thủ tục đơn giản lý lịch nhân thân của chủ doanh nghiệp chưa
xác định rõ ràng, có hàng nghìn doanh nghiệp đã thành lập nhưng không kinh doanh mà chỉ mua hóa đơn để
bán kiếm lời rồi bỏ trốn không rõ địa chỉ kinh doanh.
XNK
I.1. Chính sách thuế XNK của Việt Nam hiện nay
Các văn bản pháp luật chính liên quan đến thuế XNK hiện hành bao gồm:
- Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005;
- Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29 tháng 06 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005;
- Nghị định số 87/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập
khẩu 2005;
- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006.
tự do ASEAN (CEPT/AFTA) đều được hưởng mức thuế suất CEPT/AFTA.
Sau nhiều vòng đàm phán căng thẳng, cuối cùng ngày 11/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của WTO. WTO là một sân chơi lớn, đề cao sự tự do thương mại giữa các quốc gia vì vậy trở
thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam phải thay đổi rất nhiều các quy
định về luật thuế, trong đó thuế xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng mạnh nhất.
Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành gồm 10600 dòng
thuế.Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mức thuế bình quân hiện hành (thuế
suất MFN) của biểu thuế (từ 17,4% xuống còn 13,4%) thời gian thực hiện sau 5-7 năm.
Trong toàn bộ biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của
Biểu thuế ); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3700 dòng thuế (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế );
ràng buộc theo mức thuế trần – cao hơn mức thuế hiện hành 3170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế
), chủ yếu là đối với nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất và một số phương tiện vận tải.
Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi gia nhập. Những
nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác,
máy móc thiết bị điện - điện tử.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập và 21,0% sẽ là mức cắt
giảm cuối cùng. Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia nhập là 16.1%, và
mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12.6%. So sánh với mức thuế MFN bình quân của hàng công nghiệp hiện nay là
16.6% thì mức cắt giảm đi sẽ là 23.9%.
I.2. Nhận xét về chính sách thuế của Việt Nam hiện nay
Ưu điểm:
Thứ nhất, biểu thuế XNK hiện hành được xây dựng trên cơ sở danh mục điều hòa của hội đồng hợp tác hải
quan thế giới (HS 1996) đã bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại hàng hóa dựa trên cấu tạo, đặc
điểm của hàng hóa… góp phần làm cho chính sách thuế xuất nhập khẩu dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế.
Biểu thuế xuất nhập khẩu thường xuyên được thay đổi phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội.
Năm 2010, Việt Nam phải tiếp tục thực hiện các mức cắt giảm thuế theo cam kết WTO. Bộ Tài chính ban hành
biểu thuế mới theo Thông tư 216/2009/TT-BTC ngày 12/11/2009 của Bộ Tài chính là thực hiện cắt giảm thuế
theo lộ trình đã cam kết, trong đó mặt hàng ôtô thuộc lộ trình cắt giảm hàng năm này. Biểu thuế mới còn cập
nhật các thông tư đã điều chỉnh trong năm 2008, 2009 do lạm phát kinh tế. Để thực hiện cam kết với Tổ chức
Hải Quan Thế giới năm 2012 (gọi tắt là HS 2012), cam kết với các nước ASEAN về việc thực hiện Danh mục
Cụ thể là:
a. Biểu thuế bất hợp lý
Việc ban hành biểu thuế XNK hiện hành là chưa phù hợp: thuế suất dàn trải quá rộng, thuế XNK do gánh chịu
nhiều mục tiêu bao gồm cả kinh tế, văn hóa và xã hội, chính sách thuế XNK nằm trong hệ thống thuế với tính
chất là công cụ điều tiết trong tay nhà nước. Do vậy, cơ cấu thuế trở nên phức tạp, trùng lặp và nhiều mức thuế
quy định quá chi tiết. Một vài mức thuế rất sát nhau, đặc biệt là thuế nhập khẩu: 0,5%; 1%; 2%; 3%; 4% Có
thể hiểu có nhiều mức thuế chi tiết như thế là do phải thực hiện nhiều nhiệm vụ mục tiêu kinh tế- xã hội, nhiều
trường hợp bảo hộ đến từng doanh nghiệp sản xuất trong từng nhóm doanh nghiệp trong nước. Điều này làm
cho biểu thuế mất tính tập trung, quá nhiều mức thuế làm cho cơ cấu thuế phức tạp một cách không cần thiết.
Thuế dàn trải là có hại- thậm chí tai hại hơn mức thuế suất cao nhưng không thống nhất vì chúng làm nguồn
vốn đưa vào hoạt động không có hiệu quả.
Việc ban hàng biểu thuế NK hiện nay có quá nhiều mức thuế suất dưới 5% làm cho kết qua thu vào ngân sách bị
hạn chế, đông thời gánh nặng về yêu cầu động viên ngân sách nhà nước cho các mặt hàng. Biểu thuế nhập khẩu
mặc dù quy định theo khung thuế suất tạo điều kiện cho việc quy định mức thuế suất được linh hoạt nhưng lại
dẫn đến thiếu ổn định, làm cho doanh nghiệp thiếu yên tâm trong việc đầu tư phát triển sản xuất và nhập khẩu.
Việc thực hiện cam kết WTO trên lĩnh vực thuế nhập khẩu được Việt Nam chấp hành một cách nghiêm túc. Tuy
nhiên, điều nổi cộm rất đáng chú ý là: i) mức thuế cắt giảm thấp hơn khá nhiều so với cam kết, có khá nhiều mặt
hàng cắt giảm thấp hơn cả cam kết; ii) mặc dù chưa đến thời điểm thực hiện, nhưng chúng ta đã cắt
giảm thuế suất của khá nhiều mặt hàng (thực hiện trước lộ trình cam kết). Trong khi đó, Việt Nam đã mất
khá nhiều thời gian để đàm phán được mức thuế cao khi gia nhập.
b. Thuế nhập khẩu bao gồm nhiều thứ thuế cả thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị
gia tăng nên thuế suất rất cao (như rượu, bia từ 100-150%, ôtô từ 50%-200% ). Tuy có thuận tiện là tập trung
nhưng không phù hợp với thông lệ quốc tế, dễ bị hiểu lầm là hạn chế hàng nước ngoại nhập khẩu vào Việt Nam.
c. Thuế suất cao và quá cao đánh vào một số mặt hàng tiêu dùng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất
chưa đủ đáp ứng khuyến khích tình trạng buôn lậu và trốn thuế của các doanh nghiệp. Nhiều phương thức trốn
thuế được sử dụng kể cả hối lộ cán bộ hải quan và kết hợp với nhiều hiện tượng tiêu cực khác. Biểu thuế suất
càng nhiều tầng, nhiều sự phân biệt theo mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế hay hạn chế tiêu thụ đều là chỗ dựa
cho hiện tượng tiêu cực. Việc giảm xuất nhập khẩu tiểu ngạch đã phần nào hạn chế hiện tượng tiêu cực theo các
cửa khẩu biên giới rất khó kiểm soát.
d. Việc ban hành biểu thuế với nhiều thứ thuế suất cao, thấp còn căn cứ vào mục đích sử dụng chứ không
a. Tiêu cực từ phía người nộp thuế
Khai sai giá là chiêu thức được nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng dể gian lận thuế và nếu “thoát”, số
thuế trốn được rất lớn.
• Gian lận giá nhập khẩu:
Tháng 3/2009, một doanh nghiệp ở TPHCM làm thủ tục nhập khẩu lô hàng qua Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn
khu vực 1 (SGKV1). Lô hàng gồm 520 chiếc ghế ngồi dùng để sửa xe ô tô, khung nhôm có đệm và 70 chiếc
ghế nằm dùng để sửa xe ô tô khung nhôm có đệm, mới 100%, xuất xứ từ Trung Quốc. Đây là mặt hàng mới.
Theo giá khai báo nhập khẩu, giá mỗi chiếc ghế nêu trên chỉ có 2 USD, theo đó số thuế phải nộp chỉ khoảng 9,2
tỷ đồng. Nghi ngờ về giá khai báo quá rẻ của doanh nghiệp, hải quan tiến hành tham vấn xác định trị giá tính
thuế. Kết quả giá tính thuế ghế ngồi dùng để sửa xe ô tô được xác định là 138 USD/chiếc (tăng 69 lần so với giá
khai báo) và ghế nằm dùng để sửa xe ô tô giá 124 USD/chiếc (tăng 62 lần so với giá khai báo của doanh
nghiệp).
Như vậy, với mức thuế suất thuế nhập khẩu 33% và thuế giá trị gia tăng 10%, với lô hàng gần 600 chiếc ghế
chuyên dùng nêu trên, số thuế doanh nghiệp phải thực nộp tăng thêm hơn 623 tỷ đồng so với mức 9,2 tỷ đồng
theo khai báo ban đầu.
Hành vi gian lận qua giá đang xuất hiện ngày một nhiều, ngày một phức tạp, đặc biệt đối với những mặt hàng
có thuế suất cao, giá trị lớn như điện thoại, ô tô, linh kiện điện tử, vi tính, rượu…
• Gian lận giá xuất khẩu:
Tháng 3/2009, Đội Kiểm soát Hải quan (Cục Hải quan TPHCM) phối hợp với Chi cục Hải quan Cảng Sài Gòn
khu vực 1 kiểm tra 2 lô hàng phế liệu xuất khẩu của Công ty QPH (quận 8 -TPHCM) và Chi nhánh Công ty Y
(quận 4 TPHCM), phát hiện 2 doanh nghiệp này khai giá hàng xuất khẩu bất hợp lý, chỉ bằng 1/120 lần so với
giá thị trường. Theo tờ khai số 12006/XK/KD/KV1 ngày 2 - 3 - 2009 của Công ty QPH, giá đồng phế liệu xuất
khẩu chỉ 22 USD/tấn (tính ra 1 kg đồng phế liệu chỉ có giá 374 đồng).
Tương tự, doanh nghiệp khai giá xuất khẩu nhôm 20 USD/tấn (khoảng 234 đồng/kg). Như vậy, trị giá lô hàng
gồm 20,3 tấn đồng phế liệu và 33 tấn nhôm phế liệu chỉ vỏn vẹn 660 USD. Cũng chiêu thức tương tự, lô hàng
phế liệu xuất khẩu của Chi nhánh Công ty Y được khai mức 25 USD/tấn đồng và 10 USD/tấn nhôm (170
đồng/kg).
Trị giá 26 tấn hàng chỉ 400 USD. Trên thực tế giá hai mặt hàng này trên thị trường (qua khảo sát tại các đại lý
thu mua phế liệu) là đồng dao động từ 50.000 - 60.000 đồng/kg; giá nhôm phế liệu từ 17.000 - 20.000 đồng/kg.
Còn giá phế liệu nhôm và đồng nhập khẩu thì cao gấp hàng trăm lần khoảng 4,4 USD/kg đồng; 1,59 USD/kg
chây ì, chiếm dụng thuế rồi bỏ trốn hoặc chỉ thực hiện một vài hợp đồng nhập khẩu rồi giải thể doanh nghiệp
hoặc chuyển sang lĩnh vực khác; Trốn thuế qua việc khai sai xuất xứ hàng hóa, xuất trình giấy xuất xứ giả,
không đúng xuất xứ hàng hóa để được áp mã số thuế thấp hơn để trốn thuế XNK; Trốn thuế qua chính sách
hàng đổi hàng hoặc việc kinh doanh hàng tạm nhập tái xuất, kinh doanh hàng miễn thuế, kho ngoại quan
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng việc góp vốn liên doanh bằng vật tư, thiết bị máy móc để
tạo tài sản cố định đã đưa thêm vật tư thiết bị, máy móc vào Việt Nam rồi bán ra thị trường nội địa để trốn thuế
nhập khẩu. Các doanh nghiệp cũng thường kê khai nguyên phụ liệu nhập khẩu để gia công hàng cho nước ngoài
và sản xuất hàng xuất khẩu cao hơn thực tế tiêu hao đều tạo ra dư thừa nguyên liệu bán ở thị trường trong nước
nhằm trốn thuế.
b. Những hạn chế về chính sách và đội ngũ cán bộ thuế
Không thống nhất trong văn bản dẫn đến thất thu thuế.
Trong quá trình hoạt động nghiệp vụ, Hải quan một số địa phương phát hiện giữa Tổng cục Hải quan và Bộ Tài
chính có sự vênh nhau trong quy định áp thuế nhập khẩu đối với mặt hàng hạt lúa mì. Văn bản số 836/TCHQ-
GSQL ngày 7/3/2005 hướng dẫn phân loại, áp mã số hàng hóa nhập khẩu đối với lùa mì, nhóm 1104, thuế suất
nhập khẩu là 20%. Nhưng ngày 11/5/2006, ông Nguyễn Ngọc Túc, Phó Tổng cục trưởng (nay là Tổng cục
trưởng) Tổng cục Hải quan lại ban hành văn bản hướng dẫn áp thuế suất nhập khẩu mặt hàng này là 5%
Sau khi trao đổi với Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính, Tổng cục hướng dẫn: Mặt hàng lúa mì dạng hạt, đã tách
phần vỏ ngoài còn vỏ lụa bên trong, chưa xát vỏ hoặc sơ chế thuộc chương 10, nhóm 1001". Như vậy, thuế nhập
khẩu với mặt hàng lúa mì theo văn bản hướng dẫn này là 5%.
Tại sao cùng hướng dẫn phân loại mặt hàng hạt lúa mì, hai lãnh đạo Tổng cục Hải quan lại có hai câu trả lời
khác nhau? Đáng chú ý là cả hai văn bản trả lời đều dẫn những căn cứ đã quy định trong cùng một quyết định,
thông tư, biểu thuế của Bộ Tài chính. Phải chăng là do cách hiểu, cách áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của
những người ra văn bản này là khác nhau? Vậy thì ai đúng, ai sai? Và sự khác nhau này dẫn đến chênh lệch
15% thuế suất nhập khẩu đối với mặt hàng hạt lúa mì. Từ việc này sẽ kéo theo số tiền thuế chênh lệch cũng rất
lớn. Nếu việc áp thuế nhập khẩu mặt hàng này sai đương nhiên dẫn đến việc Nhà nước thất thu số tiền thuế rất
lớn.
Cán bộ hải quan làm việc thiếu liêm khiết, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trốn thuế.
Ngày 6/7/2007, lô hàng của Công ty Hàn Việt, địa chỉ tại Khu công nghiệp Thuỵ Vân, Việt Trì, Phú Thọ đã bị
Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng - khu vực II kiểm tra thực tế.
Kết quả cho thấy, Hàn Việt đã nhập lậu 5 tấn giấy cacton krap dạng cuộn, khổ 1,2 m; gần 1 tấn giấy bao gói
Nam; của tổ chức, cá nhân ở Việt Nam gửi cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài” và “hàng hóa phi mậu dịch
khác” không bị giới hạn về số lượng, trị giá của hàng hóa. Mặt khác theo quy định tại Thông tư 24/2010/TT-
BCT quy định về việc áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số mặt hàng thì hàng nhập
khẩu phi mậu dịch không thuộc đối tượng điều chỉnh của Thông tư này.
Hiện nay nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đã biết về kẽ hở khi thực hiện 02 văn bản pháp luật trên nên đã
chuyển loại hình nhập khẩu hàng hóa theo các loại hình khác sang loại hình phi mậu dịch với số lượng và trị giá
cao mà không cần giấy phép nhập khẩu tự động. Tuy nhiên, cơ quan Hải quan không có cơ sở để xác định
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sai phạm vì pháp luật chưa quy định
• Trốn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo hình thức phi mậu dịch
Hàng phi mậu dịch không phải là hàng để kinh doanh, chỉ là để tặng, biếu nên có khá nhiều ưu đãi. Và đây
chính là kẽ hở lách thuế cho nhiều doanh nghiệp lợi dụng. Đây là mánh khoé mới của doanh nghiệp nhập khẩu
lượng hàng có giá trị cao mà không cần giấy phép nhập khẩu tự động.
Theo quy định tại Thông tư 194/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính thì hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không
nhằm mục đích thương mại là “quà biếu,tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài gửi cho tổ chức, cá nhân
ViệtNam; của tổ chức, cá nhân ở Việt Nam gửi cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài” và “hàng hóa phi mậu dịch
khác” không bị giới hạn về số lượng, trị giá của hàng hóa. Mặt khác theo quy định tại Thông tư 24/2010/TT-
BCT quy định về việc áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số mặt hàng thì hàng nhập
khẩu phi mậu dịch không thuộc đối tượng điều chỉnh của Thông tư này.
• Chính sách tạm nhập tái xuất còn nhiều bất cập
Quy định cho phép hàng tạm nhập tái xuất được lưu lại tới 180 ngày kèm theo những kẽ hở về pháp lý đã khiến
nhiều sai phạm có cơ hội nảy sinh: với hàng kinh doanh thông thường, doanh nghiệp có thể mang về bảo quản
sẽ dễ dẫn đến rủi ro cho cơ quan hải quan trong việc giám sát, quản lý tính nguyên trạng của lô hàng, cho phép
doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập tái xuất đối với hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập
khẩu và không cho phép hàng tạm nhập tái xuất được tiêu thụ nội địa.
Hàng loạt vụ vi phạm liên quan đến hàng tạm nhập tái xuất mà cơ quan hải quan phát hiện trong thời gian gần
đây cho thấy loại hình kinh doanh này đang bị lợi dụng để thẩm lậu hàng cấm nhập khẩu, hàng không bảo đảm
chất lượng vào thị trường Việt Nam.
II. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP
KHẨU CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong điều kiện hiện nay, việc hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu nên thực hiện theo những mục tiêu,
thuế suất tạm thời áp dụng trong các trường hợp nước nào đó sử dụng những biện pháp cạnh tranh không lành
mạnh, hoặc có những phân biệt đối xử trong buôn bán với Việt Nam.
Từ những mục tiêu, phương hướng cơ bản nêu trên, việc hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu cần phải tập
trung vào cả nội dung, tổ chức thực hiện và áp dụng đồng bộ các loại thuế khác nhau:
Đối với thuế xuất khẩu
Trong việc hoàn thiện, sửa đổi biểu thuế xuất nhập khẩu hiện hành thì chính phủ nên bỏ việc thu thuế xuất khẩu.
Bỏ thuế xuất khẩu sẽ hỗ trợ cho hàng hoá Việt Nam khả năng cạnh tranh tại thị trường nước ngoài. Mặc dù bỏ
thuế sẽ giảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước , nhưng bù lại chính phủ sẽ thu được các khoản thuế khác do
phát triển sản xuất và mở rộng xuất khẩu. Hoặc ít ra cũng nên thu hẹp diện các mặt hàng chịu thuế. Nếu có đánh
thuế xuất khẩu thì chỉ nên đánh thuế đối với các sản phẩm thật cần thiết, thuế có khả năng hạn chế hoặc có khả
năng thu được như: những mặt hàng là nguyên liệu sản xuất trong nước, những tài nguyên khoáng sản không
khuyến khích xuất khẩu, những sản phẩm có thị trường ổn định. Trước mắt xin bỏ thuế xuất khẩu đối với nhóm
mặt hàng thuỷ hải sản để hỗ trợ thêm trong xuất khẩu và phát triển nghành nghề khai thác, đánh bắt, nuôi trồng
thuỷ hải sản, tăng kim ngạch xuất khẩu.
Trong tương lai, cùng với việc đẩy mạnh quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế Việt Nam thì số mặt
hàng bị đánh thuế xuất khẩu còn tiếp tục giảm.
Đối với thuế nhập khẩu
Việc hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu cần hướng vào những vấn đề sau:
Một là, xây dựng các mức bảo hộ khác nhau cho các nghành sản xuất trong nước, nhằm bảo vệ, hỗ trợ tối đa
cho các nghành có khả năng cạnh tranh và xuất khẩu, khắc phục tình trạng bảo hộ tràn lan làm cho nền kinh tế
hoạt động kém hiệu quả.
Hai là, giảm mức thuế nhập khẩu hiện nay xuống còn bốn hoặc năm mức. Sự chênh lệch giữa các mức là do
yêu cầu bảo hộ đối với từng nghành sản xuất. Nếu bảo hộ ở mức 1 là dưới 10% thì mức 2 là 20%, mức 3,4,5
tương ứng là 30%, 40%, 50%. Thuế suất cao tối đa chỉ nên chiếm khoảng trên dưới 10% tổng danh mục hàng
nhập khẩu chịu thuế. Và để phù hợp với yêu cầu hội nhập ta phải giảm dần mức thuế cao nhất và giảm số lượng
mức thuế. Về lâu dài mức thuế phù hợp với yêu cầu của AFTA là từ 0-5%, nhưng trước mắt ta phải giảm dần.
Đối với các mặt hàng mà chúng ta không có tiềm năng lợi thế và chưa có khả năng sản xuất trong những năm
sắp tới, những mặt hàng là nguyên liệu vật tư quan trọng và chủ yếu cho sản xuất của các ngành có thể nhấn
mạnh cạnh tranh và xuất khẩu hoặc là thiết bị đặc biệt chuyên dùng cho các ngành quốc phòng, an ninh, ytế,
giao thông, nông nghiệp, cần xây dựng các mức thuế nhập khẩu từ 0%-5%. Cùng với việc thu hẹp đến mức tối
quan tới khuyến đầu tư nước ngoài, phục vụ liên doanh liên kết.
Thực hiện đồng bộ thuế xuất nhập khẩu với thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt và các loại thuế khác
Cho đến nay, do trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta ở mức độ thấp, các ngành kinh tế chưa đạt được
trình độ phát triển đồng đều thể hiện ở những mức độ khác nhau về hiệu quả sản xuất và tỷ lệ lợi nhuận, đòi hỏi
những mức độ khác nhau về sự trợ giúp của Nhà nước, về bảo hộ, về điều tiết. Trong điều kiện như vậy, chính
sách thuế bị chi phối và chưa thể tính toán về các mức thuế suất dựa trên mức lợi nhuận bình quân trong các
ngành. Việc tham gia vào quá trình hội nhập đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một hệ thống thuế trung lập thể
hiện rõ nhất ở việc đơn giản các mức thuế để tạo điều kiện phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý, khuyến
khích các nhà sản xuất đầu tư vào các lĩnh vực có lợi thế so sánh, có thể đạt được hiệu quả sản xuất cao, có khả
năng cạnh tranh được với hàng hoá các nước. Một hệ thống thuế trung lập và rõ ràng sẽ tạo điều kiện thu ngoài,
khơi trong. Việc đơn giản các mức thuế suất này cần được thực hiện cụ thể với từng sắc thuế.
Cùng với việc giảm số lượng các mức thuế suất và giảm dần thuế suất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như
đã trình bày ở trên đây, cần nhanh chóng mở rộng thuế tiêu thụ đặc biệt, áp dụng thuế giá trị gia tăng, thuế thu
nhập doanh nghiệp và tiến tới áp dụng thuế thu nhập dân cư Với các biện pháp như vậy, thì nguồn thu của
ngân sách Nhà nước bị giảm sút do giảm thuế suất nhập khẩu sẽ phần nào được bù bằng các loại thuế khác.
Đổi mới công tác tổ chức, quản lý thi hành chính sách thuế xuất nhập khẩu
Những nội dung về chính sách thuế xuất nhập khẩu nêu trên không thể thực hiện tốt nếu công tác tổ chức, kiểm
tra việc thi hành các chính sách, luật pháp về thuế xuất nhập khẩu không được đổi mới hoàn thiện. Vì vậy, trong
việc xây dựng luật thuế xuất nhập khẩu, cần giảm tối đa việc giao cho các bộ chức năng đưa ra những quy định
hướng dẫn việc thực hiện luật. Việc sửa đổi, bổ xung hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu một cách
thường xuyên kịp thời là cần thiết, để phù hợp với tình hình thay đổi của thị trường trong và ngoài nước. Tuy
nhiên cần có thời gian cho các doanh nghiệp thích ứng kịp thời, tránh gây ra cho doanh nghiệp, sự thiếu hiểu
biết về những chính sách mới. Nhà nước cần làm một cách kiên quyết hơn nữa việc cải cách hành chính để đảm
bảo những chính sách đúng đã có trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nói chung, chính thuế xuất nhập khẩu nói riêng
được thực hiện một cách nghiêm minh.
Tóm lại, thuế xuất nhập khẩu là một phạm trù kinh tế lịch sử. Sự ra đời và phát triển của sắc thuế này gắn liền
với quá trình phát triển của hoạt động ngoại thương và Nhà nước. Quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển sẽ thúc
đẩy sự hoàn thiện của các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này. Do đó, cùng với sự tiến bộ của hoạt động
ngoại thương Việt Nam, việc hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu là xu hướng tất yếu khách quan của
thời đại.