BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ THỦY
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ THỦY
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN HOÀNG NGÂN
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
1.1
Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng ........................... 4
1.1.1
NHTM và chức năng của NHTM trong nền kinh tế ........................... 4
1.1.1.1
Khái niệm ................................................................................................. 4
1.1.1.2
Chức năng ................................................................................................ 5
1.1.2
Các hoạt động chủ yếu của NHTM ....................................................... 5
1.1.2.1
Huy động vốn........................................................................................... 6
1.1.2.2
Hoạt động sử dụng vốn ........................................................................... 8
1.1.2.3
Kết quả hoạt động của ngân hàng ....................................................... 22
2.2.1
Lợi nhuận sau thuế ............................................................................... 22
2.2.2
Chi phí hoạt động .................................................................................. 24
2.2.3
Nợ xấu .................................................................................................... 26
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM VIỆT NAM
3.1
Nguồn dữ liệu ........................................................................................ 28
3.2
Mô hình nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam .................................. 28
3.3
Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 29
4.2.2
Giải pháp từ NHTM ............................................................................. 39
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 45
Tài liệu tiếng việt .................................................................................................... 45
Tài liệu tiếng anh ................................................................................................... 45
Các Website tham khảo ........................................................................................ 46
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1. NHTM:
Ngân hàng thương mại
2. NHNN:
Ngân hàng nhà nước
3. NHLD:
Ngân hàng liên doanh
4. CN NHNNg:
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
5. TCTD:
NHTM đã điều tiết nguồn vốn trong nền kinh tế kết nối giữa khu vực tiết kiệm với đầu
tư một cách hợp lý. Tự do hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các
dòng vốn đổ vào Việt Nam ngày càng lớn, thị trường tài chính trong nước đã và đang
chịu sức ép rất lớn của quá trình hội nhập, đặc biệt là các NHTM. Các NHTM không
chỉ phải chịu sức ép cạnh tranh lớn từ các trung gian phi tài chính mà còn từ chính các
loại hình ngân hàng khác trong và ngoài nước. Để có thể tồn tại và phát triển các
NHTM bắt buộc phải thích nghi với môi trường và hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ bị sáp nhập bởi các ngân hàng hoạt động
hiệu quả hơn.
Ngoài ra nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng còn đóng vai trò
hết sức quan trọng bởi vì thông qua lợi nhuận ngân hàng có thể cung cấp những thông
tin về sức khoẻ của nền kinh tế của một quốc gia, xem xét đến sự tăng trưởng kinh tế
và việc làm trong trung hạn của quốc gia đó. Như vậy hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng đã trở thành một tiêu chí quan trọng.
Kết quả của các đề án tái cấu trúc ngân hàng đã giúp cho ngành ngân hàng có nhiều
thay đổi lớn về quy mô, số lượng và chất lượng tạo ra những tiền đề cơ bản đáp ứng
dần những cam kết đã ký trong lộ trình hội nhập tự do tài chính. Tuy nhiên, hoạt động
của ngân hàng hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại. Năm 2013 lợi nhuận ròng của hệ thống
ngân hàng 28 nghìn tỷ đồng, tổng phương tiện thanh toán tăng gần 19% so với năm
trước, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng tăng khoảng 13%, tổng
tài sản có của hệ thống ngân hàng tăng 1.3%, ROA và ROE của hệ thống ngân hàng
lần lượt ở mức 0.17% và 1.83%, hầu hết các ngân hàng đều không đạt được mục tiêu
lợi nhuận đề ra. Hoạt động của ngân hàng trong những năm gần đây đang trở thành
2
những thách thức lớn đối với không chỉ trong ngành ngân hàng mà toàn xã hội. Để phát
triển và nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng nâng
cao hiệu quả hoạt động hơn nữa.
tố cụ thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng giúp các nhà làm chính sách, nhà
quản trị ngân hàng hướng đến hoạt động của ngân hàng hiệu quả hơn trong tương lai.
Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện khung chính sách trong quản lý và điều hành ngân
hàng cho cơ quan quản lý nhà nước (cấp độ vĩ mô) và cho nhà quản trị ngân hàng (cấp
độ vi mô) giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực canh tranh cho các NHTM
Việt Nam.
5. Kết cấu báo cáo nghiên cứu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam
- Chương 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các
NHTM Việt Nam
- Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG
1.1
Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1
Khái niệm NHTM và chức năng của NHTM trong nền kinh tế
1.1.1.1
Khái niệm
NHTM có chức năng như sau:
Thứ nhất, trung gian tín dụng, đây là chức năng cơ bản nhất của NHTM. Với chức
năng này NHTM là người trung gian để chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa (từ nghiệp vụ
huy động) sang nơi thiếu (bằng các nghiệp vụ tín dụng). Các chủ thể tham gia gồm
người gửi tiền, và người vay tiền, họ không có mối liên hệ trực tiếp kinh tế nào.
Thứ hai, trung gian thanh toán và cung ứng các phương tiện thanh toán. Với chức năng
này NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa
các khách hàng, giữa người mua và người bán với nhau để hoàn tất các các quan hệ
kinh tế thương mại bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán
điện tử…
Thứ ba, cung ứng các dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Với
chức năng này dịch vụ ngân hàng mà NHTM cung cấp cho khách hàng không chỉ
nhằm hưởng hoa hồng và phí dịch vụ mà nó còn có tác dụng hổ trợ các mặt hoạt động
kinh doanh chính của ngân hàng, ví dụ hoạt động tín dụng.
1.1.2
Các hoạt động chủ yếu của NHTM
NHTM là loại hình tổ chức tài chính chuyên nghiệp trong việc tạo lập và cung cấp các
dịch vụ tài chính tiền tiền tệ cho công chúng và thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau
của nền kinh tế. Dựa vào chức năng của NHTM, NHTM có các hoạt động chủ yếu sau:
6
Hoạt động cơ bản NHTM
Luân chuyển tài sản
ngân hàng. Nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh
của ngân hàng đối với các đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy các ngân hàng đều có kế
hoạch không ngừng gia tăng nguồn vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh và nâng cao
năng lực canh tranh trên thị trường tiền tệ.
Tiền gửi tiết kiệm (tiền gửi định kỳ): là loại tiền gửi, người gửi chỉ có thể rút
tiền khi đến hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng và được hưởng lãi suất cao, trong thực tế
người gửi tiền định kỳ có thể rút trước hạn nhưng người gửi tiền chỉ được hưởng lãi
7
suất không kỳ hạn. Mục đích của hình thức gửi tiền này là người gửi tiền muốn hưởng
lãi suất cao và tài khoản này không được sử dụng để giao dịch, thanh toán. Loại tiền
gửi này có tính ổn định cao, các ngân hàng có thể sử dụng để cho vay trung hay dài
hạn, tuy nhiên chi phí để huy động vốn theo hình thức này cũng cao.
Tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn): Là loại tiền gửi
mà người gửi tiền được quyền rút tiền ra bất kỳ lúc nào. Chủ tài khoản gửi tiền vào
ngân hàng nhằm mục đích thanh toán cho các giao dịch phát sinh thường xuyên. Tiền
gửi giao dịch có mức lãi suất thấp nhất nhưng lại có tính không ổn định, nó biến động
theo tình hình kinh tế tài chính. Loại tiền gửi giao dịch có chi phí huy động thấp nhất
nhưng mức độ rủi ro thanh khoản rất cao nên cẩn thận khi khai thác và sử dụng nguồn
vốn này. Nó bao gồm: tiền gửi của cá nhân, tiền gửi của tổ chức kinh tế, tiền gửi của
các tổ chức đoàn thể xã hội.
Phát hành chứng khoán: NHTM còn huy động vốn trong nền kinh tế thông qua
các công cụ phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, chứng chỉ tiết kiệm, trái phiếu…
nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đáp ứng nhu cầu nắm giữ các tài sản
khác nhau của khác hàng.
Vay của các ngân hàng khác: gồm vay NHNN hay vay các TCTD khác.
Vay NHNN: NHNN sẽ cho các NHTM vay thông qua nghiệp vụ chiết
khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá hoặc cho vay lại theo hồ sơ tín dụng mà
Phân loại cho vay:
Căn cứ vào thời hạn cho vay có thể chia thành ba loại: cho vay ngắn hạn (thời hạn vay
dưới 01 năm), cho vay trung hạn (từ 01 năm đến dưới 05 năm), và cho vay dài hạn
(thời hạn trên 05 năm).
Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay gồm: cho vay có bảo đảm và cho không
có tài sản bảo đảm (tín chấp).
Căn cứ vào tính chất sử dụng vốn, cho vay được chia thành: cho vay nhằm mục đích
sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, cho vay thấu chi, cho vay đầu tư…
Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay bằng chiết khấu chứng từ có giá
hoặc mua lại các chứng từ nợ thương mại theo thỏa thuận của ngân hàng và khách
hàng. Gồm các hình thức sau chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, nghiệp vụ
bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng.
9
Hoạt động đầu tư: là khoản mục sinh lời lớn thứ hai cho ngân hàng sau khoản
mục cho vay vì vậy đây cũng là khoản mục các ngân hàng tập trung nhiều sức lực và
trí tuệ để quản lý. Khoản mục này có tính linh động cao hơn khoản mục cho vay nhưng
tính rủi ro có thể là 100% nếu đầu tư vào doanh nghiệp, đầu tư vào các khoản mục
ngoài trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc. Hoạt động đầu tư gồm các hình thức sau:
Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư tham gia vào quản
lý kinh doanh tại doanh nghiệp được đầu tư. Nếu kết quả kinh doanh của công ty được
đầu tư có lãi thì chủ đầu tư sẽ được hưởng theo tỷ lệ vốn góp, nếu thua lỗ thì cùng nhau
gánh chịu. Gồm có góp vốn liên doanh, góp vốn mua cổ phần, góp vốn thành lập công
ty trực thuộc (công ty con).
Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư, bằng cách mua chứng khoán nợ dài hạn
như trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, kỳ phiếu, thương phiếu.
1.2.2.3
Do vậy trong cạnh tranh hoàn hảo một doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận sẽ
chọn mức sản lượng doanh thu biên bằng chi phí biên.
Do ngân hàng hoạt động chủ yếu là huy động và cho vay nên hiệu quả hoạt động kinh
doanh ngân hàng là chênh lệch giữa lợi tức đi vay và lợi tức huy động sau khi trừ đi
các chi phí kinh doanh cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ.
1.3
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam
1.3.1 Các yếu tố nội tại của ngân hàng
Theo Husni (2011) các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
thường là các yếu tố nằm trong sự kiểm soát của ngân hàng. Chúng ảnh hưởng lên
doanh thu và chi phí của ngân hàng. Một số nghiên cứu trước đây đã phân loại các biến
này thành hai loại: các biến thuộc yếu tố tài chính và các biến thuộc yếu tố phi tài
chính. Các biến tài chính ảnh hưởng trực tiếp lên bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo
thu nhập của ngân hàng. Trong khi đó các biến phi tài chính bao gồm các yếu tố như số
lượng chi nhánh trong một ngân hàng, quy mô ngân hàng.
Tỷ lệ cho vay (LDR)
Tỷ lệ tổng cho vay trên tổng huy động là chỉ tiêu đo lường tính thanh khoản của ngân
hàng dựa trên cơ sở tín dụng là tài sản kém linh hoạt nhất trong số tài sản sinh lời của
ngân hàng. Tỷ lệ này cho biết % các khoản cho vay được tài trợ thông qua tiền gửi.
NHNN đưa ra các quy định yêu cầu các NHTM phải nắm giữ một tỷ lệ tài sản có tính
thanh khoản cao. Các NHTM phải luôn có đủ thanh khoản để đối phó với việc rút tiền
11
hàng loạt, đột ngột. Các NHTM chỉ làm được điều này khi có đủ tiền và các tài sản lưu
động khác cũng như có khả năng huy động vốn nhanh chóng từ các nguồn khác nhau
để có thể đáp ứng khả năng chi trả cho người gửi tiền và các cam kết tài chính khác kịp
mình khỏi nguy cơ rút tiền đột ngột nhất là những ngân hàng tăng trưởng dựa quá
nhiều vào nguồn vốn tiền gửi. Đặc biệt, khi LDR tăng đến một mức khá cao thì các nhà
quản trị ngân hàng ít muốn cho vay và đầu tư, hơn nữa, ngân hàng sẽ thận trọng và thắt
chặt tín dụng do đó lãi suất có chiều hướng tăng lên.
Công thức:
Tổng cho vay
LDR =
Tổng huy động
Tổng cho vay gồm: cho vay khách hàng và cho vay các TCTD khác
Tổng huy động gồm: huy động từ khách hàng, vay và huy động từ NHNN và
các TCTD khác, phát hành giấy tờ có giá.
Tỷ lệ huy động vốn (DEP)
Đo lường lượng tiền gửi phù hợp với quy mô của ngân hàng. Ngân hàng có nguồn vốn
tự có nhỏ mà vốn huy động lớn có thể gặp rủi ro thanh khoản nếu khách hàng rút tiền
hàng loạt, ngược lại, nếu ngân hàng có vốn tự có lớn sẽ được phép huy động nguồn
vốn lớn. Nguồn vốn huy động có chi phí rẻ và là nguồn chính để ngân hàng đầu tư, cho
vay nhằm tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Do vậy theo Davydenko (2010), Guru và các
cộng sự (2002), Kosmidou (2006) có mối tương quan tích cực giữa lợi nhuận của ngân
hàng và tỷ lệ huy động vốn.
Công thức:
DEP =
Tiền gửi khách hàng
Tổng tài sản
Rủi ro tín dụng (RR)
thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn và lợi nhuận ngân hàng vì thực tế cho
thấy các ngân hàng quản trị vốn tốt có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn và thị trường tài
14
sản tốt hơn do các ngân hàng này có ít rủi ro hơn. Hơn nữa, các ngân hàng có tỷ lệ vốn
cao duy trì sự thận trọng trong danh mục cho vay.
Công thức:
Vốn chủ sở hữu
CA =
Tổng tài sản
Quy mô ngân hàng (BS)
Quy mô ngân hàng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng vì
trên thực tế các ngân hàng luôn tìm cách gia tăng tài sản và nguồn vốn để mở rộng hoạt
động kinh doanh bằng cách mở thêm nhiều chi nhánh hay phòng giao dịch. Vậy có tồn
tại một ngân hàng có quy mô tối ưu để tối đa hoá lợi nhuận không? Theo Smirlock
(1985), Akhavein và các cộng sự (1997), Bourke (1989), Molyneux và Thornton
(1992) quy mô ngân hàng tăng trưởng có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận ngân hàng
do hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Hiệu quả kinh tế nhờ quy mô sẽ giúp các ngân hàng
gia tăng thị phần dẫn đến tăng tỷ suất sinh lợi, cung cấp các dịch vụ với chi phí rẻ hơn
làm tăng lợi nhuận. Mặt khác, một ngân hàng lớn hơn có nhiều sản phẩm hơn và các
hình thức tín dụng đa dạng hơn những ngân hàng nhỏ. Về lý thuyết, nếu lợi thế nhờ
quy mô tồn tại các tổ chức tài chính lớn hơn có thể cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn với
chi phí thấp hơn trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Và nếu chính phủ tạo ra
các rào cản nhằm hạn chế sự thành lập của ngân hàng mới (Như Việt Nam vào năm
1997) các ngân hàng lớn sẽ thu được lợi nhuận cao hơn theo nghiên cứu của
Athanasoglou P và các cộng sự (2006).
GDP đo lường sản lượng đầu ra của một nền kinh tế. GDP thực đo lường sự gia tăng
thực tế của hàng hóa dịch vụ của một quốc gia đã loại trừ yếu tố lạm phát. Các nghiên
cứu của Naceur (2003), Demirguc – Kunt (1999), Kosmidou (2008) đều cho rằng tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ làm tăng lợi nhuận ngân hàng ở nhiều quốc gia do tang
trưởng kinh tế thì các doanh nghiệp sẽ cần nhiều vốn hơn để tài trợ cho các hoạt động
của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng dẫn đến ngân
16
hàng tăng hoạt động tín dụng và hoạt động dịch vụ khác. Hơn nửa, trong tình hình kinh
tế phát triển hiệu quả tài chính doanh nghiệp tốt nên khả năng trả nợ cho ngân hàng cao
làm tăng lợi nhuận ngân hàng.
Lạm phát (P)
Theo Kaya (2002) trong số các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng là tỷ
lệ lạm phát và thâm hụt ngân sách. Revel (1980) cho rằng lạm phát ảnh hưởng đến lợi
nhuận của ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau như lãi suất, giá cả, tỷ giá hối
đoái, chi phí tiền lương và chi phí hoạt động.... Perry (1992) cho rằng lạm phát ảnh
hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng phụ thuộc vào lạm phát kỳ vọng có được ngân
hàng dự đoán đầy đủ không. Nếu ngân hàng dự kiến được đầy đủ lạm phát hàng năm
khi đó ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất cho vay và lãi suất huy động phù hợp từ đó làm
tăng lợi nhuận của ngân hàng. Các nghiên cứu của các tác giả trước đưa ra kết luận tỷ
lệ lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất và lợi nhuận của ngân hàng trong dài hạn như
Bourke (1989), Molyneux và Thorton (1992), . Lạm phát cao sẽ làm lãi suất cho vay
cao và do đó lợi nhuận ngân hàng cao. Tuy nhiên nếu lạm phát không dự đoán được
cao và ngân hàng không điều chỉnh lãi suất kịp thời làm cho tốc độ chi phí tăng nhanh
hơn tốc độ tăng của doanh thu dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm sút.
Cung tiền (M2)
Trong trường hợp tăng trưởng của thị trường, khi thị trường mở rộng có thể làm tăng
khả năng sản xuất và do đó làm tăng lợi nhuận của ngân hàng. Sự mở rộng thị trường
một thành viên trong quá trình toàn cầu hóa nên cần sớm sửa đổi các điều luật cho phù
hợp với thông lệ quốc tế, tạo môi trường pháp lý hoàn chỉnh để giải quyết các tranh
chấp khiếu nại nếu có khi xảy ra. Như vậy, môi trường luật pháp có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, là cơ sở tiền đề để
ngành ngân hàng phát triển nhanh, bền vững.
Hình thức sở hữu ngân hàng
Vermon (1971) đã nghiên cứu tác động của hình thức sở hữu ngân hàng lên lợi nhuận
của ngân hàng. Trong nghiên cứu của mình Vermon cho thấy có sự khác biệt giữa hình
18
thức quản lý và sở hữu. Bourke (1989) đã nghiên cứu tác động của sở hữu nhà nước
lên lợi nhuận ngân hàng và kết quả cho thấy có sự biến động cùng chiều. Sau đó
Molyneux và Thorton (1992) đã phát triển nghiên cứu của Bourke khi nghiên cứu
mười tám nước Châu Âu trong giai đoạn năm 1986 – 1989 cũng cho thấy quyền sở hữu
của chính phủ các ngân hàng Châu Âu có tác động tích cực lên chỉ tiêu ROE. Do vậy
có thể kết luận rằng ngân hàng tư nhân tạo ra lợi nhuận trên vốn thấp hơn ngân hàng
quốc doanh.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Các nghiên cứu trước đây, hầu hết đều sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản
(ROA), lợi nhuận trên vốn sở hữu (ROE) là biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng được chia thành hai nhóm là các biến ảnh hưởng đến đặc
điểm nội tại của ngân hàng và các biến đại diện cho các yếu tố vĩ mô.
Các yếu tố nội tại của ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của nhà quản lý
gồm: tỷ lệ cho vay (LDR), tỷ lệ huy động vốn (DEP), rủi ro tín dụng (RR), tỷ lệ vốn
chủ sở hữu (CA), quy mô ngân hàng (BS), tỷ lệ chi phí lương và các chi phí nhân viên
khác (OVRE1).