Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia khu vực châu á thái bình dương - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------

TRỊNH THỊ HỒNG NGỌC

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA KHU VỰC
CHÂU Á THÁI BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------

TRỊNH THỊ HỒNG NGỌC

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA KHU VỰC
CHÂU Á THÁI BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHÙNG ĐỨC NAM

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018


THỰC NGHIỆM TRƢỚC ĐÂY ............................................................................. 7
2.1 Cơ sở lý thuyết ...................................................................................................... 7
2.1.1 Lý thuyết về phát triển tài chính ........................................................................ 7
2.1.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế ...................................................................... 11
2.1.3 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế .......................... 14
2.2 Bằng chứng thực nghiệm .................................................................................... 16
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................. 26
3.1 Mô hình nghiên cứu ............................................................................................ 26
3.2 Mô tả các biến .................................................................................................... 27
3.3 Dữ liệu nghiên cứu .............................................................................................. 33
3.4 Phương pháp nghiên cứu..................................................................................... 35
3.4.1 Các phương pháp phân tích và kiểm định ........................................................ 35
3.4.2 Phương pháp ước lượng hồi quy ...................................................................... 39
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 41
4.1 Phân tích thống kê mô tả ..................................................................................... 41


4.2 Phân tích thành phần chính biến sự phát triển tài chính ..................................... 44
4.3 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến....................................................... 47
4.3.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến ..................................... 47
4.3.2 Kiểm định đa cộng tuyến ................................................................................. 49
4.3.3 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư - Greene (2000) ............. 49
4.3.4 Kiểm định hiện tượng tự tương quan– Wooldridge (2002), Drukker (2003) .. 49
4.3.5 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Breitung .................................................... 50
4.4 Phân tích kết quả hồi quy .................................................................................... 51
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ...................................................................................... 59
5.1 Kết luận nghiên cứu chính .................................................................................. 59
5.2 Kiến nghị ............................................................................................................. 59
5.3 Hạn chế của đề tài ............................................................................................... 60
5.4 Hướng nghiên cứu mở rộng ................................................................................ 61


Phương pháp hồi quy

GNI

Tổng thu nhâp quốc gia

GNP

Tổng sản phẩm quốc gia

M1

Lượng cung tiền

M2

Lượng cung tiền

M3

Lượng cung tiền

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHTW

Ngân hàng trung ương

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm

23

Bảng 3.1

Tóm tắt các biến trong mô hình thực nghiệm

32

Bảng 4.1

Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình

43

Bảng 4.2

Kết quả phân tích thành phần chính Fdindex1

47


Bảng 4.8

Kết quả hồi quy mô hình theo phương pháp SCC

53


1

TÓM TẮT

Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để điều tra mối
quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia khu vực
Châu Á Thái Bình Dương. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình ước lượng hồi quy SCC
dựa trên nghiên cứu Daniel Hoechle (2007) áp dụng phương pháp điều chỉnh độ
lệch chuẩn của Driscoll-Kraay (1998). Phương pháp hồi quy SCC trên dữ liệu bảng
cho kết quả ước lượng vững và hiệu quả, khắc phục được phương sai thay đổi, tự
tương quan, nội sinh và hơn nữa khắc phục được tương quan chéo của yếu tố không
gian quốc gia, đã được chứng minh bằng mô phỏng dữ liệu Monte Carlo của Daniel
Hoechle (2007). Nguồn dữ liệu của bài nghiên cứu sẽ sử dụng một bộ dữ liệu bảng
(Panel data) từ 17 quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn
từ năm 1998 đến năm 2016, với kỳ quan sát tính theo năm. Kết quả của bài nghiên
cứu cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
ở một số quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Và phát triển tài chính có mối
quan hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế. Kết quả này phù hợp với các bài nghiên
cứu trước đây, do đó bài nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc củng cố các
nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Từ khóa: Phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, thước đo phát triển tài chính,
phân tích thành phần chính.

Aghion và Howitt (2009), người dân sẵn sàng tiết kiệm nhiều hơn, và do đó cung
cấp nguồn lực cho các nhà đầu tư ở một quốc gia có các ngân hàng hoạt động hiệu


3

quả và đáng tin cậy hơn ở một quốc gia nơi các ngân hàng hoạt động có thể lãng phí
tài sản của người gửi tiền thông qua các khoản cho vay xấu thậm chí lừa đảo họ.
Các tổ chức tài chính và thị trường tài chính cũng giúp giải quyết các rủi ro cũng
như phân bổ tối ưu giữa rủi ro và lợi nhuận. Ví dụ, bằng cách thu thập tiền tiết kiệm
từ nhiều người và đầu tư vào một loạt các dự án đa dạng, một tổ chức tài chính cho
phép những người tiết kiệm nhỏ tận dụng luật lệ để có tỷ lệ lợi nhuận an toàn hợp
lý. Các tổ chức tài chính hoạt động tốt cũng có thể giúp giảm bớt các vấn đề đại
diện bằng cách giám sát các nhà đầu tư và đảm bảo rằng họ đang sử dụng các khoản
vay của họ hiệu quả hơn là chi tiêu cho tiêu dùng tư nhân hoặc lừa đảo người cho
vay cuối cùng (Aghion và Howitt, 2009).
Mặc dù hầu như không có quan điểm mâu thuẫn về việc phát triển tài chính có
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ góc độ tăng trưởng kinh tế ngoại sinh và tăng trưởng
kinh tế nội sinh, nhưng dường như không có chỉ số nào được thống nhất để đo
lường phát triển tài chính. Bởi vì có các kênh truyền dẫn, từ phát triển tài chính đến
tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các thước đo phát triển tài chính được sử dụng,
nhiều tác giả đã đưa ra các kết luận khác nhau, tùy thuộc vào chỉ số được sử dụng
để đại diện cho phát triển tài chính. Hơn nữa, sự liên quan của mỗi kênh truyền là
đặc trưng của quốc gia, do sự khác biệt về chính trị, pháp lý và các khác biệt về thể
chế khác nhau theo không gian và thời gian. Điều này ngụ ý rằng, quốc gia nào sử
dụng nhiều chỉ số đo lường phát triển tài chính hơn thì có nhiều khả năng hiểu rõ
hơn về các tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế (George Adu và
các cộng sự, 2013). Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều chỉ số đo lường phát triển tài
chính trong cùng một phương trình sẽ dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến.
Do đó, trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ kết hợp các chỉ số đo lường phát triển

chuẩn ước lượng nhỏ hơn, đạt tính vững và hiệu quả với nhiều dạng dữ liệu mô
phỏng vi phạm các giả thiết định lượng. Phương pháp này phù hợp với mọi dạng cỡ
mẫu dữ liệu. Tương quan phụ thuộc chéo (cross-section dependence) là yếu tố ít
được kiểm soát trong các nghiên cứu trước đây về cùng chủ đề, do đó các nhiễu
trong mối quan hệ giữa quốc gia này có thể ảnh hưởng tới quốc gia kia không được
kiểm soát. Trong khi môi trường vĩ mô ngày càng tự do hóa và mở cửa.


5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Cụ thể xem xét sự tồn tại mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh
tế ở các quốc gia này. Nếu tồn tại mối quan hệ này thì mối quan hệ là tích cực hay
tiêu cực. Đúc kết và tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối
quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế; dùng mô hình thực nghiệm
để kiểm định mối quan hệ này và kiểm định sự tác động của phát triển tài chính lên
tăng trưởng kinh tế. Bài nghiên cứu trả lời các câu hỏi:
-

Có tồn tại mối quan hệ giữa phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế ở một
số quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương hay không?

-

Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia này
là tích cực hay tiêu cực?

1.3 Phƣơng pháp nghiên cứu

giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài.
Chƣơng 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trƣởng kinh tế.
Tác giả trình bày sơ lược những nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm trên
thế giới về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ
thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt
ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Chƣơng 5: Kết luận.
Tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô
hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài.


7

CHƢƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về phát triển tài chính
Khu vực tài chính là tập hợp các tổ chức tài chính, công cụ tài chính, thị
trường tài chính, cũng như khung pháp lý và các quy định cho phép giao dịch được
thực hiện bằng cách mở rộng tín dụng. Phát triển tài chính nói chung được định
nghĩa là sự cải thiện số lượng, chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ trung gian tài
chính. Về cơ bản, phát triển của khu vực tài chính là khắc phục chi phí phát sinh

kinh tế thông qua việc tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ bằng cách tăng tỷ lệ tiết
kiệm, huy động và tổng hợp tiết kiệm, cung cấp thông tin về đầu tư, tạo điều kiện và
khuyến khích dòng vốn nước ngoài, cũng như tối ưu hoá việc phân bổ vốn.
Các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển tốt hơn có khuynh hướng phát
triển nhanh hơn trong một thời gian dài, và có nhiều bằng chứng cho thấy tác động
này là nhân quả nghĩa là phát triển tài chính không chỉ đơn thuần là kết quả của tăng
trưởng kinh tế mà phát triển tài chính còn đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế.
Phát triển tài chính làm giảm nghèo đói và bất bình đẳng bằng cách mở rộng tiếp
cận tài chính cho người nghèo và các nhóm dễ bị tác động, tạo điều kiện cho quản
lý rủi ro bằng cách giảm tính dễ bị tác động trước những cú sốc và tăng đầu tư, tăng
năng suất, tạo ra thu nhập cao hơn.
Ngoài ra, phát triển ngành tài chính có thể giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng
trưởng bằng cách cung cấp cho họ khả năng tiếp cận tài chính. Các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thường có nhiều lao động và tạo ra nhiều việc làm hơn là các công ty
lớn. Các doanh nghiệp này đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế
đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi.
Thƣớc đo phát triển tài chính:
Một thước đo tốt về phát triển tài chính là rất quan trọng để đánh giá sự phát
triển của khu vực tài chính và hiểu được tác động của phát triển tài chính đối với


9

tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để đo lường sự phát triển tài
chính vì phát triển tài chính là một khái niệm rộng lớn và có nhiều khía cạnh. Việc
lựa chọn các biến chính để thể hiện mức độ dịch vụ tài chính cung cấp cho nền kinh
tế, cách đo lường mức độ và hiệu quả của trung gian tài chính là những vấn đề
chính trong các nghiên cứu thực nghiệm. Xây dựng các chỉ số phát triển tài chính là
một nhiệm vụ hết sức khó khăn do sự đa dạng của các dịch vụ tài chính được cung
cấp trong hệ thống tài chính.

dịch được cung cấp bởi hệ thống tài chính chứ không phải là khả năng của hệ thống
tài chính phân phối quỹ từ người gửi tiền cho nhà đầu tư. Do đó, tỷ số tín dụng cho
khu vực tư nhân so với GDP là thước đo thay thế thứ ba được sử dụng rộng rãi nhất
để đo lườngphát triển tài chính (Demetriades và Hussein, 1996; King và Levine,
1993a; Beck và cộng sự, 2000a; Favara, 2003; Liang và Teng , 2006; Arcand và
cộng sự, 2011). Tầm quan trọng của thước đo này nằm ở chỗ tín dụng dành cho khu
vực tư nhân cho phép sử dụng các quỹ và phân bổ cho các hoạt động có hiệu quả
hơn. Thước đo này cũng loại trừ tín dụng do ngân hàng trung ương phát hành và do
vậy đây là một thước đo chính xác hơn về số tiền tiết kiệm mà các trung gian tài
chính chuyển tới khu vực tư nhân.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng thường
xuyên được trích dẫn nhiều nhất là nghiên cứu của King và Levine (1993). Tác giả
của nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bốn thước đo
phát triển tài chính cho 80 nước trong giai đoạn 1960-1989. Bốn thước đo đó là:
- LLY: tỉ lệ giữa nợ thanh khoản so với GDP. Nợ thanh khoản (Liquid liabilities) là
thước đo khái quát của cung tiền (M3) bao gồm: tiền mặt, tài khoản ngân hàng và
tài khoản ở các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Khi số liệu M3 không có sẵn thì tác
giả sử dụng thước đo M2 hẹp hơn trong đó không tính đến tài khoản tiền gởi ngoại
tệ có kỳ hạn, cổ phần trong các quỹ đầu tư và thương phiếu (nợ doanh nghiệp ngắn
hạn).
- BANK: tỉ lệ tài sản ngân hàng so với tài sản ngân hàng + tài sản ngân hàng trung
ương. Mục đích để đo lường tầm quan trọng tương đối của ngân hàng so với cơ
quan tiền tệ.
- PRIVATE: tỉ lệ các khoản vay cho khu vực tư nhân phi tài chính so với tổng tín
dụng nội địa, đo lường phạm vi tín dụng được chuyển đến khu vực tư nhân.


11

- PRIVY: cũng là một thước đo về sự tham gia của khu vực tư nhân. PRIVY là tỉ lệ

12

Tỷ lệ tiết kiệm cao cũng liên quan đến mức sống. Tiết kiệm cao hơn về lâu dài sẽ
dẫn đến sản lượng đầu ra (thu nhập) bình quân đầu người cao hơn do sự tích lũy
vốn của mỗi cá nhân cũng tăng lên. Do đó, tăng trưởng kinh tế thường được tính
theo giá trị thực, tức là các điều khoản có điều chỉnh theo lạm phát, để tránh ảnh
hưởng làm méo mó của lạm phát lên giá hàng hoá sản xuất. Trong kinh tế học, tăng
trưởng kinh tế hay lý thuyết tăng trưởng kinh tế thường đề cập đến tăng trưởng sản
lượng tiềm năng, nghĩa là sản xuất ở mức việc làm đầy đủ, là do tăng trưởng tổng
cầu hoặc đầu ra quan sát được.
Đánh giá được tầm quan trọng của phát triển tài chính đối với tăng trưởng
kinh tế, các nhà nghiên cứu trước đây đã đưa ra nhiều nghiên cứu về vai trò của
phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Lập luận của các bài nghiên cứu chủ
yếu dựa trên nền tảng các mô hình tăng trưởng như: mô hình tăng trưởng cổ điển,
mô hình tăng trưởng tân cổ điển, mô hình tăng trưởng nội sinh.
Mô hình tăng trưởng cổ điển tiên phong bởi Adam Smith (1776), David
Ricardo (1817) sau đó tiếp tục bởi Ramsey (1928), Harrod (1939) và Domar (1947).
Để giải thích tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết cổ điển tập trung vào các yếu tố
trong sản xuất như vốn, lao động, đất đai. Mô hình Harrod – Domar giả định mở
rộng quy mô và dự báo tỷ lệ tiết kiệm cao hơn có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
cao hơn. Sự mở rộng nguồn vốn mới thông qua đầu tư chỉ được thực hiện khi nền
kinh tế tiết kiệm được một phần thu nhập quốc dân. Sự đầu tư thông qua nguồn tiết
kiệm này sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Harrod (1939), Domar (1947) lập luận
rằng việc mở rộng lao động sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong tích lũy vốn trên lao động,
năng suất lao động thấp hơn và giảm thu nhập, cuối cùng gây ra suy giảm kinh tế.
Tuy nhiên, mô hình Harrod-Domar có những hạn chế nhất định. Do dựa vào giả
định hệ số cố định nên mô hình thiếu tính linh hoạt, không chính xác khi xác định
trong một khoảng thời gian dài và khi các doanh nghiệp thay đổi các yếu tố đầu vào
trong quá trình sản xuất thực tế.
Do những nhược điểm của mô hình Harrod-Domar, dựa trên những tư tưởng

trưởng nội sinh. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988) giả định rằng mức
sinh lợi của nền kinh tế quốc gia tăng dần theo qui mô, chứ không phải không đổi
theo qui mô. Việc tăng gấp đôi vốn, lao động, và các yếu tố sản xuất khác sẽ dẫn


14

đến tăng hơn gấp đôi sản lượng. Mô hình tăng trưởng nội sinh làm nổi bật vai trò
của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở các nước đang
phát triển thông qua tác động của dịch vụ tài chính khu vực dựa vào tích lũy vốn và
đổi mới công nghệ. Các dịch vụ tài chính trên bao gồm hoạt động huy động nguồn
tiết kiệm, thu thập thông tin hoạt động đầu tư, phân bổ nguồn lực, và tối thiểu hóa
rủi ro.
2.1.3 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trƣởng kinh tế
Trên thực tế, rất nhiều nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng kinh tế, mặc dù có những kết quả khác nhau về tác động và
mối quan hệ nhân quả. Nhưng nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định
sự phát triển tài chính có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế, ngay cả sau
khi đã tính đến các biến số khác nhau của tăng trưởng kinh tế cũng như các sai lệch
tiềm ẩn, bỏ sót các biến số và tác động của các quốc gia không quan sát được tác
động đến mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Quan điểm của Schumpeter (1911), thường được coi là khung đầu tiên trong
việc phân tích mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Ông cho
rằng một hệ thống tài chính hoạt động tốt giúp đưa tiết kiệm vào đầu tư, phân bổ
hiệu quả nguồn lực từ những ngành hoạt động không hiệu quả sang ngành hoạt
động hiệu quả thúc đẩy đổi mới công nghệ dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Do đó, việc
tạo ra thị trường tài chính và dịch vụ tài chính tốt trước nhu cầu của thị trường sẽ
dẫn đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc chuyển các nguồn lực khan hiếm từ các
đơn vị thừa sang các đơn vị thâm hụt theo tỷ suất sinh lợi trên đầu tư cao nhất.
Theo nghiên cứu của McKinnon (1973) cho rằng tự do hóa tài chính đã

trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả hai chiều như nghiên cứu của Patrick
(1966). Nghĩa là phát triển tài chính là kết quả của tăng trưởng kinh tế hay ngược lại
tăng trưởng kinh tế là kết quả của phát triển tài chính. Theo Patrick, vào giai đoạn
đầu của tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế bằng
cách hình thành vốn thực trên đầu người. Ở giai đoạn sau, tăng trưởng kinh tế sẽ tạo
ra sự gia tăng nhu cầu về các dịch vụ tài chính, từ đó tạo ra sự phát triển tài chính
trong khu vực.
Với sự xuất hiện của lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Romer, 1986; Lucas,
1988), đã có mối quan tâm mới về vai trò của sự phát triển tài chính trong việc thúc


16

đẩy tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò tích cực của phát triển tài
chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cụ thể, bằng cách huy động tiết kiệm,
phân bổ nguồn lực cho các khoản đầu tư hiệu quả nhất, giảm chi phí, giao dịch và
giám sát, đa dạng hóa rủi ro và tạo điều kiện trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Điều này
dẫn đến việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, tích lũy nhanh hơn về vốn vật chất và
con người, và tiến bộ công nghệ nhanh hơn.
Ví dụ, công trình lý thuyết của Greenwood và Jovanovic (1990) cho thấy các
trung gian tài chính thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế bằng cách cho phép tỷ
suất sinh lời trên vốn cao hơn, trong khi chính sự tăng trưởng thúc đẩy sự mở rộng
của các tổ chức tài chính, một cách ngụ ý mối quan hệ hai chiều giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng kinh tế.
Wang (1999) cũng đưa ra một số phản biện bằng cách tiếp cận các vấn đề về
đặc điểm kỹ thuật và sai lệch nội sinh có thể xảy ra trong hầu hết các nghiên cứu về
mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Ông lập luận rằng việc
sử dụng phương pháp tiếp cận chức năng sản xuất dẫn đến kết luận sai lầm vì một
thước đo phát triển tài chính cũng là một thành phần của chức năng sản xuất. Wang
(1999) tiếp tục lập luận rằng phương pháp này giả định tăng trưởng kinh tế như biến

thương mại, giáo dục và ổn định chính trị. Kết quả là phát triển tài chính dẫn đến
tăng trưởng kinh tế.
Levine và Zervos (1998) bổ sung thêm các thước đo của thị trường chứng
khoán cho mô hình hồi quy của họ và kiểm soát một cách có hệ thống các yếu tố
khác ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế dài hạn bao gồm phát triển ngân hàng. Họ
cho thấy sự thanh khoản của thị trường chứng khoán và phát triển ngân hàng có thể
dự đoán tăng trưởng kinh tế. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Beck và Levine
(2004).
Các phát hiện của Demetriades và Hussein (1996) sau khi kiểm tra các mối
quan hệ nhân quả khác nhau giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế cho 16
nước đang phát triển theo dữ liệu chuỗi thời gian. Kết quả cho thấy có một số bằng
chứng về giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả
hai chiều và một số bằng chứng kết luận tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài


18

chính. Do đó, họ thận trọng khi chấp nhận quan điểm cho rằng phát triển tài chính
dẫn đến tăng trưởng kinh tế và cảnh báo về những hậu quả của những phát hiện sai
lệch trong chính sách kinh tế đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Sự nhận
định tương tự đã được tiến hành bởi Neusser và Kugler (1998).
Levine và cộng sự (2000) nghiên cứu trên 74 quốc gia giai đoạn 1960-1995
sử dụng các chỉ số về phát triển tài chính như tỷ lệ nợ thanh khoản trên GDP; tỷ lệ
tài sản tiền gửi của các ngân hàng trên tài sản tiền gửi của các ngân hàng cộng với
tài sản nội địa của ngân hàng trung ương; tỷ lệ tín dụng tư nhân đối với GDP danh
nghĩa, kết luận về mối quan hệ tích cực giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh
tế ở các nước được điều tra.
Al-Yousif (2002) xem xét bản chất và mối quan hệ giữa phát triển tài chính
và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng cả dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu bảng
từ 30 quốc gia đang phát triển cho giai đoạn 1970-1999. Các kết quả thực nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status