Phát triển bền vững nông nghiệp huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

BÙI ĐĂNG BIÊN

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP
HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN MINH YẾN

Hà Nội – 2014


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của huyện Phù Cừ 2006-2012 ... 26
Bảng 2.2: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế theo giá thực tế ........................ 28
Bảng 2.3: Lao động đang làm việc phân theo khu vực kinh tế ...................... 29
Bảng 2.4: Đường giao thông nông thôn được cứng hoá ................................ 30
Bảng 2.5: Hệ thống kênh mương huyện Phù Cừ từ năm 2006 - 2012 ........... 32
Bảng 2.6: Tốc độ tăng GDP trong nông nghiệp từ năm 2006 - 2012 ............ 38
Bảng 2.7: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp theo giá hiện hành................. 39
Bảng 2.8: Năng suất một số loại cây chính của ngành trồng trọt................... 39
Bảng 2.9: Số lượng gia súc, gia cầm............................................................. 40
Bảng 2.10: Lao động đang làm việc trong ngành nông nghiệp ..................... 49

5. Kết cấu đề tài: ......................................................................................... 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG NÔNG NGHIỆP ................................................................................ 5
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững nông nghiệp ............................ 5
1.1.1. Các khái niệm: ............................................................................ 5
1.1.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững ......................................... 5
1.1.1.2. Khái niệm về nông nghiệp ................................................... 7
1.1.1.3. Khái niệm về phát triển bền vững nông nghiệp .................... 8
1.1.2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp .......................................... 11
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển bền vững nông nghiệp
........................................................................................................... 13
1.2. Cơ sở thực tiễn: Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển
bền vững nông nghiệp ........................................................................... 14
1.2.1. Kinh nghiệm của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định............. 14
1.2.2. Kinh nghiệm của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ................. 18
1.2.3. Kinh nghiệm của huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương .................... 20
1.2.4. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn ................................... 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP
CỦA HUYỆN PHÙ CỪ ............................................................................... 25
2.1. Những điều kiện tác động đến sự phát triển bền vững nông nghiệp
của huyện Phù Cừ .................................................................................. 25
2.1.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................... 25
2.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội và văn hoá......................................... 26
2.1.3. Một số chính sách của tỉnh, huyện về phát triển nông nghiệp ... 35
2.2. Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp của huyện Phù Cừ ..... 37
2.2.1. Phát triển bền vững về kinh tế .................................................. 37
2.2.2. Phát triển bền vững về xã hội ....................................................... 48
2.2.3. Phát triển bền vững về nguồn tài nguyên và môi trường .............. 54
2.3. Đánh giá chung .................................................................................. 60
2.3.1. Thành tựu..................................................................................... 60

đất nông nghiệp chỉ chiếm 28,4% và bình quân đầu người có xu hướng thấp
dần do dân số còn tăng và đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp lại rất hạn
chế, chủ yếu ở các vùng đồng bằng. Vì vậy, nếu không biết sử dụng đất đai
một cách khoa học thì dễ bị suy thoái, tài nguyên đất ngày càng kiệt quệ và
không thể phát triển một nền kinh tế bền vững, thu nhập của nông dân ngày
càng thấp đi. Để phát triển sản xuất nông nghiệp thì cần phải có một chế độ
canh tác bền vững trong hệ thống nông nghiệp. Bởi nông nghiệp không chỉ
đảm bảo đời sống và xã hội, ổn định chính trị mà còn tạo ra tiền đề vật chất
cần thiết để mở mang phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế xã hội
khác. Nông nghiệp là ngành sử dụng chủ yếu hai nguồn tài nguyên thiên
nhiên quan trọng bậc nhất đối với sự tồn vong của loài người đó là đất và
nước. Khi dân số tăng mạnh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cuộc sống
con người càng tăng lên, do vậy nông nghiệp có những tác động ngày càng to
lớn đối với môi trường. Chính vì vậy, phát triển nông nghiệp, đặc biệt phát
triển kinh tế bền vững nông nghiệp đang là vấn đề hết sức quan trọng đặt ra
cho các nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp.
Với ngành nông nghiệp huyện Phù Cừ trong những năm qua đã đạt
được tốc độ tăng trưởng khá và ổn định; giá trị sản xuất nông nghiệp giai
đoạn 2006-2012 tăng bình quân 6,3%; cơ cấu cây trồng, con vật nuôi chuyển
dịch theo hướng tăng năng suất, chất lượng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền nông nghiệp huyện
vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Đó là phát triển chưa bền vững, thể hiện ở
sự chuyển dịch chậm cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng thấp, việc ứng

1


dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng cây trồng, con vật
nuôi còn hạn chế, chưa gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm…
Chính vì vậy, tôi đã chọn vấn đề “Phát triển bền vững nông nghiệp

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp
huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tập trung trên địa bàn huyện Phù
Cừ, tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2006 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch
sử, các phương pháp chủ yếu sau đây được sử dụng để thực hiện đề tài:
* Phương pháp thu thập thông tin:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Nguồn thông tin này chủ yếu
dựa vào các sách tham khảo, các công trình khoa học, luận văn, luận án đã
được công bố, các văn bản chính sách... nhằm làm rõ một số vấn đề cơ bản về
lý luận và thực tiễn có liên quan tới phát triển bền vững nông nghiệp.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: gồm những thông tin, số liệu
thu thập được của địa phương để làm cơ sở thực tiễn cho việc phân tích và
đánh giá thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp của huyện Phù Cừ.
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: nhằm thu thập thông tin qua
các cán bộ lãnh đạo, các cán bộ chủ chốt của địa phương. Phương pháp này
rất quan trọng và đặc biệt hữu ích trong việc nắm bắt các thông tin tổng quát
cũng như cụ thể của địa bàn nghiên cứu.
* Phương pháp phân tích thông tin:
- Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề
liên quan tới phát triển bền vững nông nghiệp như: các nguồn lực phát triển

3


(như đất đai, lao động, khoa học công nghệ), phát triển sản xuất nông nghiệp,

sự phát triển. Chính vì quan niệm như vậy mà trong quá trình phát triển, nhiều
mục tiêu khác nhau về xã hội, môi trường... đã không được chú trọng đúng
mức, dẫn đến sự bất bình đẳng trong xã hội, khoảng cách giàu nghèo ngày
càng gia tăng, môi trường sống và môi trường sinh thái bị phá huỷ. Do vậy đã
có một sự thay đổi về quan niệm và hành động, và quan niệm về phát triển
bền vững ra đời
Có nhiều khái niệm về phát triển bền vững. Từ năm 1980, khái niệm
phát triển bền vững được đưa ra trong báo cáo “Chiến lược bảo tồn thế giới”
do Uỷ ban Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) đề xuất, đó là “Sự phát triển
nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu thiết yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái”.
Sau đó khái niệm phát triển bền vững đã được bổ sung và có nội dung bao
quát hơn. “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những
nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến những khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai”.

5


Đến nay, khái niệm phát triển bền vững ngày càng được bổ sung và
hoàn chỉnh. Tổng hợp những quan điểm đó có thể hiểu rằng “Phát triển bền
vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt
của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thỏa mãn được nhu
cầu xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế
hệ tương lai”.
* Nội dung của phát triển bền vững
Sự phát triển bền vững của một nền kinh tế hay một ngành kinh tế phải
đảm bảo được ba yếu tố trụ cột về: phát triển kinh tế bền vững, xã hội bền
vững và môi trường bền vững, ba yếu tố này phát triển không tách rời mà có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau phát triển.

Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế
biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch.
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính là nông nghiệp thuần nông
(nông nghiệp sinh nhai) và nông nghiệp chuyên sâu.
Nông nghiệp thuần nông: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào
hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi nông
dân. Không có cơ giới hoá trong nông nghiệp sinh nhai.
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được
chuyên môn hoá trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử
dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản
phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn,
bao gồm cả việc sử dụng hoá chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo
giống, nghiên cứu các giống mới.

7


1.1.1.3. Khái niệm về phát triển bền vững nông nghiệp
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về bền vững nông nghiệp,
trong đó có khái niệm của Tổ chức Sinh thái và Môi trường thế giới đưa ra rất
đáng được quan tâm bởi tính tổng hợp và khái quát cao của nó: “ Bền vững
nông nghiệp là nền nông nghiệp thỏa mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện
nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau”. Tuy nhiên, bền
vững nông nghiệp chỉ có ý nghĩa tương đối. Chẳng hạn trong khoảng thời
gian 20 – 25 năm, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng một cách ổn định thỏa
mãn được nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nông sản trong nước và xuất khẩu. Như
vậy có thể được coi là nông nghiệp tương đối bền vững. Song có thể xảy ra
những biến cố ( về kinh tế, về thiên tai…), khi đó con người lại phải điều
chỉnh để tạo ra phương thức bền vững mới.
Vậy phát triển bền vững nông nghiệp là gì? Có thể khái quát khái niệm

nông nghiệp, nó vừa là nền tảng, vừa là động lực để thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, quá trình tái cấu trúc ngành nông
nghiệp để phát triển bền vững thì bắt đầu từ việc xác định lại tổ chức sản xuất
nông nghiệp đảm bảo phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, hình thành những
khuôn khổ thể chế mới, chính sách mới phù hợp nhu cầu phát triển.
Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng
ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống của người dân,
tránh được sự suy thoái và gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai. Trong nông
nghiệp, điều đó được thể hiện các tiêu chí sau:
+ Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông
nghiệp.
+ Năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng
cao.
+ Sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực (vốn, lao động, đất đai).

9


- Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội: là việc đảm bảo cho người
nông dân có công ăn việc làm ổn định, nâng cao thu nhập, cải thiện chất
lượng cuộc sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách giữa
người giàu và người nghèo trong nông thôn; nâng cao trình độ văn minh về
đời sống vật chất và tinh thần cho người nông dân; hạn chế các tệ nạn xã hội;
đảm bảo ổn định xã hội.
Nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện công bằng xã hội, các chỉ
tiêu thu nhập bình quân đầu người, chỉ số hưởng thụ về giáo dục và chỉ số về
chăm sóc y tế, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
- Phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường: là sự khai thác hợp
lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn

- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,
phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc điểm này
cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Thế nhưng ở mỗi vùng có điều kiện khác đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác
nhau. Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại
đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông
nghiệp cũng không giống nhau. Điều kiện thời tiết, khí hậu với lượng mưa,
nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng... trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện
hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau
giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rõ rệt.
- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể
thay thế được. Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất,
nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao
thông… đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công
xưởng, đường giao thông… để con người điều khiển các máy móc, các
phương tiện vận tải hoạt động. Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế

11


khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị
giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thế, theo ý muốn chủ
quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có
thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của
loài người về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết
quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp
sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho
ruộng đất càng ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi
đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật

nghiệp
* Điều kiện tự nhiên: Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là sự phụ
thuộc rất lớn vào các điều kiện tự nhiên. Do vậy, các yếu tố như: vị trí địa lý,
khí hậu, thời tiết, các nguồn tài nguyên đất đai, nước, hệ sinh thái có ảnh
hưởng rất lớn tới sự phát triển bền vững của nông nghiệp.
* Điều kiện kinh tế-xã hội và văn hóa:
- Nguồn nhân lực: là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của
sự phát triển, nó bao gồm số lượng và chất lượng lao động đang và sẽ được sử
dụng vào sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, nguồn nhân lực trong nông nghiệp
còn bao gồm cả những yếu tố về tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm truyền
trống… về sản xuất nông nghiệp.
- Nguồn vốn: là nguồn lực vật chất quan trọng đối với quá trình sản
xuất nông nghiệp. Vốn không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng
lực sản xuất nông nghiệp, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa họccông nghệ, góp phần quan trọng vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa
quá trình sản xuất nông nghiệp, xử lý ô nhiễm môi trường.
- Khoa học và công nghệ: là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất,
chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Nhờ ứng dụng thành tựu

13


khoa học và công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn, tài nguyên trên
một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hay nói cách khác hiệu quả sử dụng các
yếu tố này tăng lên.
- Chính sách quản lý: Các chính sách về phát triển nông nghiệp có ảnh
hưởng to lớn đến sự phát triển bền vững, bao gồm: chính sách đất đai và thuế
sử dụng đất; chính sách tín dụng và lãi suất tín dụng; chính sách khuyến nông;
các chính sách về khoa học công nghệ; chính sách hỗ trợ lao động…góp phần
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Sự phối hợp đồng bộ các chính sách
trên là điều kiện căn bản để phát triển bền vững nông nghiệp.

triển kinh tế - xã hội của huyện với các ngành sản xuất chủ yếu là cơ khí, dệt
may, vận tải thủy. Hiện trên địa bàn huyện đã hình thành 4 cụm công nghiệp
tập trung với tổng diện tích 52 ha, đã thu hút 53 doanh nghiệp đầu tư, tạo việc
làm cho hơn 5.000 lao động. Toàn huyện hiện có gần 300 doanh nghiệp, cơ sở
sản xuất kinh doanh đang hoạt động. Các làng nghề truyền thống của huyện
gồm làng nghề cơ khí (xã Xuân Tiến), thêu ren (xã Xuân Phương), dệt chiếu
cói (xã Xuân Ninh), chế biến lâm sản (xã Xuân Bắc), vận tải thủy (xã Xuân
Trung), sản xuất lúa Tám thơm (xã Xuân Đài)…được duy trì và phát triển, đã
giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động với thu nhập ổn định.
Với thế mạnh của địa phương, phát huy tinh thần đoàn kết và trí tuệ
toàn dân, huyện đã đạt được nhiều thành tích nổi bật, nhất là về kinh tế. Từ
một huyện thuần nông, đến nay Xuân Trường đã trở thành điểm sáng của tỉnh
Nam Ðịnh về phát triển công nghiệp với giá trị chiếm 42,8%, thương mại và
dịch vụ chiếm 30,5%, nông nghiệp chiếm 26,7%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
bình quân hằng năm đạt hơn 10%. Huyện có 12.047 ha diện tích lúa, năng
suất lúa luôn đứng ở mức cao trong cả nước, với sản lượng hằng năm đạt gần
2.000 tấn. Bên cạnh đó, các giá trị về thủy sản, vật nuôi, hoa màu và các sản

15


phẩm nông sản khác cũng ngày càng phát triển, đóng góp quan trọng vào sự
phát triển đa dạng nền kinh tế địa phương. Hiện toàn huyện có gần 300 doanh
nghiệp, bốn cụm công nghiệp tập trung thu hút hơn 5.000 lao động. Bên cạnh
đó, huyện cũng có nhiều làng nghề truyền thống, nâng cao mức thu nhập và
tạo việc làm thường xuyên cho hàng nghìn nông dân.
Ðảng bộ và chính quyền huyện Xuân Trường chỉ đạo đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo
hướng sản xuất hàng hóa để nâng cao giá trị thu được trên đơn vị diện tích.
Huyện đã thực hiện giữ vững truyền thống thâm canh tăng năng suất lúa, để

quản lý quy hoạch đất nông nghiệp đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn. Chú trọng chủ trương phát triển phong trào toàn dân tham gia bảo
vệ môi trường; tăng cường kiểm tra, đôn đốc các ngành, các địa phương, các
doanh nghiệp trong huyện thực hiện Luật Bảo vệ môi trường - trong đó phải
tiến hành triển khai đồng bộ, nhiều biện pháp để tạo bước chuyển biến căn
bản giải quyết những bức xúc về vệ sinh môi trường. Ðể phát triển kinh tế
toàn diện, huyện đã coi trọng công tác giao thông nông thôn, coi đây là việc
làm ưu tiên và thường xuyên. Ðịa phương hiện đang tiếp tục xây dựng cơ chế,
chính sách khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất,
phát huy tối đa hiệu quả sử dụng đất tại các khu, cụm công nghiệp đã được
quy hoạch; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khôi phục phát triển công nghiệp đóng
mới và sửa chữa các phương tiện vận tải thủy; sản xuất vật liệu xây dựng
không nung tại các vùng bãi ven sông. Tiếp tục phát triển các ngành nghề
truyền thống để nâng cao thu nhập cho người dân và phát triển kinh tế - xã hội
của huyện.
Ði đôi với phát triển kinh tế, Xuân Trường cũng làm tốt công tác xây
dựng nếp sống văn hóa mới tại các khu dân cư theo chủ trương của Ðảng và
Nhà nước. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa -

17


đặc biệt là các hoạt động trong lễ hội truyền thống, các loại hình dịch vụ văn
hóa bảo đảm tính lành mạnh phục vụ hữu ích cho nhu cầu của nhân dân. Tiếp
tục đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa, lấy phong trào "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" làm nòng cốt; nhân rộng phong trào
xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa mới, cơ quan, doanh nghiệp, trường
học... đạt tiêu chuẩn nếp sống văn hóa. Thực hiện "xã hội hóa" việc xây dựng
các thiết chế văn hóa ở cơ sở, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu sinh

Đối với sản xuất nông nghiệp, huyện hướng ưu tiên vào 4 nhóm giải
pháp trọng tâm. Đó là tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu giống lúa và thời
vụ gieo cấy, phấn đấu gieo cấy từ 90% trở lên các giống lúa ngắn ngày ở vụ
xuân và loại bỏ hoàn toàn các giống dài ngày ở vụ mùa.
Đồng thời mở rộng diện tích lúa chất lượng cao làm hàng hoá ở các
xã được quy hoạch như An Thanh, An Mỹ, An Hiệp, An Dục, Quỳnh Bảo...
đảm bảo vùng lúa chất lượng cao chiếm 30% tổng diện tích gieo cấy cả năm
của huyện.
Bên cạnh hai vụ lúa, huyện chỉ đạo các xã làm tốt khâu quy vùng nâng
tỷ lệ trà lúa mùa sớm và cực sớm lên khoảng 7.000ha để tạo quỹ đất phát
triển cây vụ đông ưa ấm. Phấn đấu duy trì diện tích cây vụ đông ở mức
6.100 ha trở lên với các nhóm cây chủ lực là ngô, ớt, đậu tương, khoai tây và
rau các loại.
Đây là mục tiêu khá cao nhưng hoàn toàn có cơ sở bởi vụ đông năm
2012 Quỳnh Phụ đã gieo trồng được 6.064ha, giá trị sản xuất vụ đông ước đạt
175 tỷ đồng, chiếm 37% giá trị sản xuất từ trồng trọt. Nhiệm vụ trọng tâm thứ
3 trong sản xuất nông nghiệp thời gian tới là tiếp tục khuyến khích phát triển
mô hình chăn nuôi gia trại và trang trại thông qua việc thực hiện có hiệu quả
các cơ chế hỗ trợ về mặt bằng (dồn đổi ruộng, đấu thầu, cho thuê đất...), tiếp
cận vốn tín dụng, chuyển giao khoa học – kỹ thuật, cung cấp nguồn giống
chất lượng cao, kiểm soát dịch bệnh...

19


Phát triển chăn nuôi phải dựa trên nguyên tắc vừa chuyên sâu, vừa đa
dạng, lấy hiệu quả kinh tế làm đầu, lấy nhu cầu thị trường làm định hướng
điều chỉnh cơ cấu đàn. Trước mắt vẫn tập trung vào một số đối tượng nuôi
chủ lực là bò thương phẩm, lợn, gia cầm, cá các loại; đồng thời mạnh dạn tiếp
thu và nhân rộng một số con vật nuôi mới mang lại hiệu quả kinh tế cao như:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status