Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” ở Việt Nam hiện nay : Luận văn ThS. Kinh tế: 60 31 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

PHẠM THỊ THỦY

MÔ HÌNH "CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN"
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số

: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. ĐỖ THẾ TÙNG

Hà Nội – 2014

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của GS, TS. Đỗ Thế Tùng. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung
thực. Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào
khác.

Tác giả luận văn


4

CP

Cổ phần

5

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

6

ĐX

Đông Xuân

7

FF

Famers Friend

8

GAP

Vietnamese Good Agricultural Practices (Quy
trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt)


3


DANH MỤC CÁC BẢNG
STT

Số hiệu

Tên bảng

Trang

1

2.1

Diện tích cánh đồng mẫu lớn vụ Đông
Xuân 2010 – 2011 ở An Giang

29

2

2.2

Diện tích cánh đồng mẫu lớn vụ Hè Thu
2011 ở An Giang

32

Diện tích cánh đồng mẫu lớn vụ Đông
Xuân 2012 – 2013 ở An Giang

76

7

2.7

Số hộ và diện tích tham gia CĐML do
AGPPS tổ chức

76

8

2.8

Hiệu quả kinh tế của nông dân trong mô
hình cánh đồng mẫu lớn ở An Giang

77

9

2.9

Kết quả đạt được trên cánh đồng mẫu
lớn ở Vũ Hòa


1.2.3 Tính ưu việt của mô hình cánh đồng mẫu lớn ................................ 20
Chương 2: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA MÔ HÌNH “CÁNH
ĐỒNG MẪU LỚN” QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ CÁNH ĐỒNG MẪU
LỚN Ở VIỆT NAM ........................................................................................ 25
2.1 CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT AN GIANG VÀ QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN ................................... 25
2.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” Ở
AN GIANG .................................................................................................. 29
2.3 MÔ HÌNH “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” ĐƯỢC THÍ ĐIỂM TẠI THÁI
BÌNH ............................................................................................................ 35
2.3.1 Một số nét khái quát về chủ trương thí điểm cánh đồng mẫu lớn tại
Thái Bình .................................................................................................. 35
2.3.2 Những thành tựu và hạn chế của cánh đồng mẫu lớn thí điểm ở
Nguyên Xá và Vũ Hòa ............................................................................. 38

5


Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ NHÂN RỘNG MÔ HÌNH “CÁNH
ĐỒNG MẪU LỚN”........................................................................................ 47
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI NHÂN RỘNG MÔ
HÌNH “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” ............................................................ 47
3.1.1 Những thuận lợi .............................................................................. 47
3.1.2 Những khó khăn khi nhân rộng cánh đồng mẫu lớn ....................... 48
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ NHÂN RỘNG MÔ HÌNH “CÁNH ĐỒNG
MẪU LỚN”.................................................................................................. 50
3.2.1 Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi các công ty chế biến và
tiêu thụ nông sản để họ tích cực và trực tiếp chủ trì việc xây dựng cánh
đồng mẫu lớn ............................................................................................ 50
3.2.2 Có chính sách phù hợp giải quyết việc làm cho lao động dôi dư của

của từng vùng. Mô hình “cánh đồng mẫu lớn” tỏ rõ tính ưu việt của nông nghiệp
hàng hóa lớn, một mặt tạo cơ hội khai thác thế mạnh của từng vùng, tạo quy mô
sản xuất lớn, nâng cao năng suất và ý thức kỷ luật của nông dân, mặt khác giúp
họ tăng thu nhập, cải thiện đời sống ngay trên mảnh ruộng của chính mình. Việc
tập trung ruộng đất thành cánh đồng mẫu lớn tạo điều kiện cơ giới hóa sản xuất
nông nghiệp, hình thành vùng hàng hóa xuất khẩu lớn, đảm bảo chất lượng và
nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Song có nơi xây dựng thành công,
có nơi chưa. Vì vậy, cần tìm hiểu thực tiễn để làm rõ mô hình “cánh đồng mẫu
lớn” như thế nào mới có hiệu quả. Do đó, “ Mô hình cánh đồng mẫu lớn ở nước
ta hiện nay” được chọn làm đề tài luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu
“Cánh đồng mẫu lớn” là hình thức tổ chức sản xuất trên cơ sở liên kết bốn
nhà, là hướng đi phù hợp với quá trình chuyển nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất hàng hóa lớn. Từ khi có chủ trương đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát

1


triển nông thôn đã tiến hành xây dựng và phát triển mô hình này không chỉ ở các
tỉnh Nam Bộ mà còn làm thí điểm ở một số tỉnh Bắc Bộ.
Cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận cho phát
triển “cánh đồng mẫu lớn” ở Việt Nam.
Quyết định số 80/2002/QsĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 và Chỉ thị số
24/2003/CT-TTg về xây dựng vùng nguyên liệu gắn với chế biến, tiêu thụ. Coi
việc xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” là một giải pháp quan trọng lâu dài góp
phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền
vững được nêu trong Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2011
của Quốc hội. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trương mở
rộng phong trào xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” trên cả nước, không chỉ trên cây
lúa mà cả các cây trồng khác, từ đó hình thành một số chính sách nhằm khuyến

“Cánh đồng mẫu lớn – hướng đi bền vững cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn, nông dân trên vùng mía đường Lam Sơn”, tác giả đã khái quát quá trình
hình thành và phát triển, nhiệm vụ và tầm quan trọng của công ty cổ phần Lam
Sơn (LASUCO) - doanh nghiệp sản xuất mía đường hàng đầu trong ngành mía
đường Việt Nam. Doanh nghiệp là cầu nối đưa sản phẩm của nông dân ra thị
trường, tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, nâng cao giá trị gia
tăng và chất lượng của nông sản. Công ty đã học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu để tổ
chức lại sản xuất cho nông dân theo hướng bền vững trên cơ sở liên kết giữa
nông dân và doanh nghiệp theo chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị, tập hợp nông
dân nhỏ lẻ tạo điều kiện áp dụng kỹ thuật mới, áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, giải
quyết đầu ra ổn định có lợi cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao lợi ích của
nông dân, thành lập các xí nghiệp công - nông nghiệp - dịch vụ thương mại để
cùng với người nông dân tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn tập trung. Từ
những mảnh ruộng manh mún đã phá bờ san thửa để tạo thành “cánh đồng mẫu
lớn”, làm thay đổi cách làm ăn của nông dân theo hướng công nghiệp , nông dân
đươ ̣c hướng dẫn áp du ̣ng khoa ho ̣c – kỹ thuật và được đào tạo bà i bản. Bài viết

3


tuy chưa đưa ra nhiề u giải pháp nhằ m nhân rộng “cánh đồ ng mẫu lớn” trồng cây
mía, nhưng từ thực tiễn sản xuấ t và triể n khai mô hiǹ h trên vùng miá đường Lam
Sơn, mô ̣t trong những giải pháp quan trọng nhất là các chính sách của Nhà nước
về xây dựng thương hiê ̣u cho sản phẩ m , chính sách cho thuê quyền sử dụng đất ,
chính sách về thị trường nông nghiệp , thu hút các doanh nghiê ̣p tham gia đầ u tư
vào nông sản. Qua bài viế t tác giả đã khái quát những thành công nhấ t đinh
̣ khi
tham gia mô hin
̀ h “cánh đồ ng mẫu lớn” của nông dân mô ̣t số xã trồ ng miá trên
điạ bàn tin

cánh đồng mẫu lớn gắn với tiêu thụ sản phẩm” do ông Trần Đức Thiện – Giám
đốc công ty TNHH MTV làm chủ nhiệm.
Tháng 3/2011, tại thành phố Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tổ chức lễ phát động xây dựng cánh đồng mẫu lớn.
Tại An Giang, Bộ cũng đã tổ chức Hội nghị sơ kết xây dựng, phát triển
mô hình cánh đồng mẫu lớn trong sản xuất lúa ở Nam Bộ (2012).
Đề án “xây dựng thí điểm mô hình cánh đồng mẫu lớn” ở Thái Bình từ vụ
xuân 2012.
Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Bạc Liêu trong tháng 8/2012 tổ chức khai
giảng 4 lớn tập huấn xây dựng cánh đồng mẫu lớn.
Các công trình, đề án trên tiếp cận mô hình “cánh đồng mẫu lớn” dưới
những góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn song chưa thấy công trình nào
nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị về xây dựng mô hình cánh đồng mẫu
lớn với tư cách là mô hình ưu việt để đưa kinh tế nông hộ nước ta lên sản xuất
lớn. Chính vì vậy nghiên cứu đề tài này sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá về mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” từ đó đề xuất giải pháp
để xây dựng, nhân rộng mô hình này.

5


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là: làm rõ yêu cầu chuyển kinh tế nông hộ lên sản xuất hàng hóa lớn
trong đó có mô hình liên kết 3 nhà, 4 nhà mà mô hình cánh đồng mẫu lớn vừa hình
thành ở một số nơi, rất thích hợp với điều kiện nông nghiệp Việt Nam hiện nay.
Hai là: phân tích mô hình cánh đồng mẫu lớn, những điều kiện, đặc điểm,
vai trò của mỗi chủ thể liên kết như: doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản;
hộ nông dân; nhà khoa học; nhà nước.

7


Chương 1
KINH TẾ NÔNG HỘ VÀ “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” – MỘT MÔ HÌNH
THÍCH HỢP ĐỂ CHUYỂN KINH TẾ NÔNG HỘ LÊN SẢN XUẤT
HÀNG HÓA LỚN
1.1 . NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA KINH TẾ NÔNG HỘ
1.1.1 Định nghĩa kinh tế hộ
Có nhiều quan niệm về hộ. Raul Iturna, giáo sư trường đại học Tổng hợp
Lisbon cho rằng: “ Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có
quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính
bản thân họ và cộng đồng”[37, tr114]. Về phương diện thống kê, Liên hợp quốc
cho rằng: “ Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn
chung và có chung ngân quỹ”[36, tr38]. Khi khảo sát “kinh tế hộ trong quá trình
phát triển” Giáo sư T.G.Mc Gee, Giám đốc viện nghiên cứu Châu Á nhận xét: “
Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng
chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà, ăn
chung một mâm cơm và có chung ngân quỹ”[38]. Trên quan điểm kinh tế thị
trường có thể định nghĩa khái quát về kinh tế nông hộ như sau: Kinh tế nông hộ
là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động
trong gia đình kết hợp với tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu (hay quyền chiếm
hữu) của hộ trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân hộ, chỉ có sản phẩm
thừa ra mới đem bán. Đó là bản chất của kinh tế hộ, trong thực tiễn có những
biểu hiện cụ thể khác biệt nên hiện nay ở nước ta có những loại hộ sau đây:
Một là, những hộ nông dân không có vốn, không có nông cụ cần thiết và
thường thiếu tri thức về nông học, quy mô kinh doanh quá nhỏ, sản lượng thu
được không đủ nuôi sống gia đình, nên cho thuê hoặc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được chia của mình rồi đi làm thuê, chỉ trồng ít rau trong vườn và nuôi



9


ưu thế, nhưng với những điều kiện như nhau thì doanh nghiệp lớn vẫn ưu việt
hơn doanh nghiệp nhỏ. Chủ trang trại là lực lượng tiêu biểu cho kinh tế thì
trường. Nhưng hiện nay ở nước ta phần lớn trang trại vẫn là gia trại quy mô nhỏ,
số trang trại thực sự sản xuất hàng hóa lớn chưa nhiều.
1.1.2. Những ưu điểm của kinh tế hộ
Kinh tế hô ̣ phù hơ ̣p với nề n nông nghiê ̣p la ̣c hâ ̣u , mang nă ̣ng tiń h chấ t tự
cung, tự cấ p chủ yế u dự a vào lao đô ̣ng thủ công , phân tán , manh mún . Nghị
quyết 10 về Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, trong đó xác định rõ
vai trò của kinh tế hộ, coi hộ gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị
kinh tế tự chủ được giao quyền sử dụng đất. Thực hiện tư tưởng đổi mới của Đại
hội Đảng toàn quốc lần VI, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 10
về “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (thường gọi là khoán 10). Nghị quyết
10 chỉ rõ: “Giao khoán ruộng đất ổn định dài hạn cho nông dân từ 10 đến 15
năm; Hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến hộ xã viên; Xoá bỏ chế
độ phân phối công điểm, xã viên chỉ có một nghĩa vụ nộp thuế; Hộ xã viên được
quyền tự chủ về ruộng đất, hưởng trên 40% sản lượng khoán”. Như vậy với Nghị
quyết này, lực lượng sản xuất được giải phóng mạnh hơn khỏi sự trói buộc của
cơ chế cũ. Hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ. So với giai đoạn thực
hiện khoán 100, thì ở giai đoạn này vai trò tự chủ của hộ nông dân được khẳng
định và xác lập trên thực tế. Hộ nông dân tự chủ không phải chỉ trong 3 khâu
như giai đoạn trước mà trong toàn bộ quá trình sản xuất. Mức độ tự chủ cũng cao
hơn, trên cả 3 phương diện: sở hữu, quản lý và phân phối. Do đó, động lực mới
được phát huy trong thời gian dài. Ở nhiều địa phương, hộ nông dân đã bỏ công
sức để khai phá diện tích đất hoang hoá đưa vào sản xuất, chủ động mua sắm
máy móc, công cụ để sản xuất. Về số lượng, cho tới năm 1993, nông thôn nước
ta có khoảng 11 triệu hộ nông dân được phân bố trong 7 vùng nông nghiệp. Bình

trong nông thôn thì thu nhập và mức sống của nông dân càng được nâng lên. Hạt
lúa đã gắn với công sức và quyền lợi của người nông dân, đây là động lực quan

11


trọng để người nông dân chăm lo đến nông nghiệp. Những hộ nông dân có nhiều
đất đai, nhiều vốn đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, hoặc
chuyển sang ngành nghề khác, tiến hành sản xuất hàng hoá. Những mặt tích cực
và hiệu quả kinh tế của mô hình này đã được chứng minh trong thực tế. Sự xác
lập và phát triển vai trò tự chủ của nông hộ đã có tác động to lớn tới sự phát triển
của kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta trong những năm đổi mới.
Hai là, lợi ích kinh tế nói trên đã kích thích tinh thần tự giác, tự nguyện
lao động tích cực của những người trong hộ và khơi dậy các tiềm năng của hộ.
Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, những thay đổi lớn về vị trí, vai trò
của kinh tế hộ đã khơi dậy tiềm năng to lớn ẩn dấu trong từng hộ gia đình, từ chỗ
không thiết tha đến ruộng đất, nông dân đã có ý thức chăm sóc, cải tạo và sử
dụng đất đai có hiệu quả hơn, kích thích những người trong hộ tự nguyện lao
động. Khác với trong công nghiệp, đơn vị sản xuất cơ bản có tính phổ biến trong
nông nghiệp là từng hộ nông dân chứ không phải là xí nghiệp quy mô lớn với
đông đảo công nhân. Lao động cụ thể của từng hộ gia đình có điều kiện gắn bó
mật thiết với đất đai, cây trồng và vật nuôi để kịp thời ứng phó với những thay
đổi bất ngờ của ngoại cảnh và đòi hỏi của đối tượng lao động. Điều đó càng trở
nên thuận lợi và có hiệu quả hơn nếu người lao động đồng thời cũng là người
chủ đất đai, cây trồng, vật nuôi, người chủ trong tổ chức sản xuất và kinh doanh.
Ở nước ta, kinh tế nông hộ đã trải qua nhiều bước thăng trầm mới được xác lập
là một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp và nông thôn. Những chủ trương
và quyết sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới đã giải phóng hộ
nông dân khỏi sự trói buộc của cơ chế cũ, để họ làm chủ quá trình sản xuất kinh
doanh của mình, trực tiếp đối mặt với cơ chế thị trường… Điều này đã trở thành

thời gian nông nhàn. Ban đầu người nông dân sử dụng thời gian nông nhàn của
mình để làm ra các sản phẩm thủ công nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của
chính bản thân họ. Sau đó, chúng được đem đi bán để kiếm thêm thu nhập.

13


Chính những nghề phụ ấy đã phá vỡ các quan hệ kinh tế khép kín, thúc đấy phân
công lao động xã hội và sản xuất hàng hóa phát triển.
1.1.3.Những nhược điểm của kinh tế hộ trong kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Khi phát triển tới một trình độ nhất định, kinh tế nông hộ phát huy hết
tiềm năng và ưu điểm của nó, bắt đầu bộc lộ những nhược điểm của sản xuất
nhỏ, manh mún, lạc hậu. Nổi bật là:
Thứ nhất, kinh tế hộ khó tiếp cận với các dịch vụ đầu vào của sản xuất. Là
nước có diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thuộc tốp thấp
nhất thế giới, trung bình 0,3ha/người trong bối cảnh 70% dân số sống ở nông
thôn, đa số làm nghề nông, nền nông nghiệp của nước ta nhỏ lẻ, manh mún. Việc
đưa máy móc vào đồng ruộng rất khó khăn, việc tiếp cận các nguồn lực cần thiết
cho trồng trọt và chăn nuôi như giống cây trồng vật nuôi, bảo hiểm nông nghiệp,
vốn và kỹ thuật sản xuất của các nông hộ còn hạn chế. Trong kinh tế thị trường,
việc tìm ra cây gì, con gì để sản xuất hàng hóa lớn đã khó, việc tiếp cận đầu vào
cho sản xuất nông nghiệp càng khó khăn không kém, giá cả thị trường biến động
thường bất lợi cho các hộ nông dân, giao thông khó khăn, vốn ít nên không thể
mua giá thấp với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu
những nhà cung cấp tin cậy và ổn định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa
chọn phương án tối ưu.
Thứ hai, kinh tế hộ thiếu thông tin về thị trường, thiếu phương tiện vận
chuyển nông sản, khó tiêu thụ sản phẩm đầu ra, thường bị ép cấp, ép giá, được
mùa mất giá được giá mất mùa. Phẩm chất nông sản của các hộ khác nhau, khó

cách là liên kết kinh tế nông hộ với các doanh nghiệp lớn chế biến và tiêu thụ
nông sản hoặc là thành lập các hợp tác xã nông nghiệp hoặc là hình thành các
trang trại.

15


1.2.1 Hình thức hợp tác xã
Trong những lúc thời vụ khẩn trương, nhu cầu lao động của các hộ vượt
quá khả năng của gia đình đã xuất hiện việc đổi công, hiệp tác trong cộng đồng
nông thôn. Cùng với quá trình chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trường, khu vực hợp tác xã Việt Nam đã trải qua nhiều thăng
trầm. Các hợp tác xã kiểu mới dần dần hình thành và phát triển, dựa trên sự gắn
kết chặt chẽ các xã viên, đáp ứng tốt nhu cầu dịch vụ của họ cũng như nắm bắt
tốt những cơ hội do thị trường mang lại.
Tham gia hợp tác xã, nông dân được hỗ trợ những việc mà họ không thể
tự làm hoặc làm một mình không có hiệu quả, khắc phúc được những nhược
điểm và hạn chế khi sản xuất kinh doanh đơn lẻ. Hợp tác xã nông nghiệp góp
phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, giúp nhau tăng sức cạnh tranh, khai thác các
nguồn tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật để phát triển, góp phần thúc đẩy quá
trình xã hội hoá sản xuất, thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hộ sản xuất, xã
viên với nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước. Hợp tác xã nông nghiệp góp
phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ thuật hiện đại tới người nông
dân trong các khâu sản xuất nông nghiệp và nông thôn; phát triển và mở rộng
các hoạt động dịch vụ và hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,
khuyến công và khuyến thương; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và thực hành nông
nghiệp cho lao động nông nghiệp, nông thôn; tổ chức thực hiện việc phổ cập
thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin thị trường đến các xã, thôn. Hợp tác xã
phát triển sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc, góp phần giải quyết công ăn, việc làm,
tăng thu nhập và bảo đảm đời sống ổn định cho xã viên và người lao động, giải

ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra của sản xuất, nhưng các hợp tác xã hiện nay
trong nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng được các yêu cầu trên do năng
lực hoạt động kém, hiệu quả thấp. Hợp tác xã chỉ mới đảm nhiệm được một
phần nhỏ các dịch vụ cung ứng phân bón và giống, còn phần lớn phải dựa vào
các đại lý tư nhân.

17


c. Khi hợp tác xã hoạt động tốt, năng suất lao động tăng, số lao động của hộ
dôi dư, đòi hỏi phải giải quyết việc làm nhưng chưa tìm được biện pháp hữu
hiệu.
d. Sản phẩm hàng hóa tuy còn ít nhưng cũng gặp khó khăn về tiêu thụ, bị
thương lái ép cấp, ép giá.
1.2.2. Mô hình kinh tế trang trại
Nông hộ cũng có thể lên sản xuất lớn bằng cách chuyển thành trang trại.
Kinh tế trang trại là bước phát triển cao hơn của kinh tế hộ, tuy nhiên, để phát
triển loại hình kinh tế này cũng gặp nhiều thách thức lớn, nhất là ở vùng đồng
bằng, đất chật người đông, bình quân diện tích nhân khẩu thấp, gây khó khăn
trong việc tập trung ruộng đất quy mô lớn để làm trang trại. Ngoài ra, kinh tế
trang trại còn nhiều hạn chế như:
- Hầu hết các trang trại gia đình, trình độ quản lý của chủ trang trại còn
nhiều hạn chế, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa chú trọng vào việc
áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất.
- Hầu hết lao động làm thuê cho các trang trại thiếu kiến thức về khoa học
kỹ thuật, chưa được đào tạo qua các trường lớp. Nhiều trang trại còn lúng túng
về phương hướng sản xuất, thu nhập thấp. Phần lớn các trang trại chưa được
thừa nhận về mặt pháp lý nên chưa có tư cách pháp nhân trong quan hệ giao dịch
với cơ quan Nhà nước và các tổ chức kinh tế, nhất là đối với ngân hàng.
- Thực tế, chủ trang trại chỉ được xem như là một chủ hộ nông dân bình

quốc tế hiện nay phải thực hiện liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh để có
sức mạnh cạnh tranh trên thị trường, nhất là những sản phẩm cùng loại của khu
vực và thế giới. Sự liên kết đó được gọi tắt là mô hình liên kết bốn nhà (nhà
nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học), bước khởi đầu đưa kinh tế
nông hộ lên sản xuất lớn, trong đó mô cánh đồng mẫu lớn ở An Giang là một mô
hình liên kết hữu hiệu.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status