ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI
MÔ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
Người hướng dẫn TS : NGUYỄN THỊ BÍCH ĐÀO
Hà nội: 2007
MC LC
Mở đầu ................................................................................................................ 5
1. Sự cần thiết của đề tài .................................................................................. 5
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ................................................................... 8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................... 9
4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 9
5. Ph-ơng pháp nghiên cứu............................................................................ 10
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn ................................................ 10
7. Bố cục của luận văn ................................................................................... 10
Ch-ơng I - Tài chính vi mô và vai trò của nó Trong xoá đói
giảm nghèo ..................................................................................................... 11
1.1. Hoạt động tài chính vi mô ........................................................... 11
1.1.1. Khái niệm và lịch sử hình thành tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi
mô. ................................................................................................................ 11
1.1.1.1. Khái niệm về tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô. ................... 11
1.1.1.2. Lịch sử hình thành tài chính vi mô. ................................................... 12
1.1.1.3. Các loại hình tổ chức tài chính vi mô ................................................ 17
1.1.1.4. Đặc điểm cơ bản của tài chính vi mô ................................................ 22
2.2.2. Kết quả hoạt động tài chính vi mô của Hội. ......................................... 58
2.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính vi mô của Hội
liên hiệp phụ nữ việt nam nhiệm kỳ 2002 - 2007. ............................ 61
2.3.1. Những -u điểm .................................................................................... 61
2.3.2. Những hạn chế..................................................................................... 63
Ch-ơng III - Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
Hoạt động tài chính vi mô của hội liên hiệp phụ nữ việt nam
trong thời gian tới .................................................................................... 66
3.1. Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động tài chính vi mô
của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thời gian tới. ....................... 66
3.1.1. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện Nghị định 28/2005/NĐ-CP. ......... 66
3.1.1.1. Về thuận lợi: ..................................................................................... 66
3.1.1.2. Khó khăn .......................................................................................... 67
3.1.1.3. Những nguy cơ.................................................................................. 68
3.1.2. Các vấn đề khác đặt ra với hoạt động tài chính vi mô của Hội LHPN
Việt Nam....................................................................................................... 69
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính vi
mô của Hội Liên hiệp phụ nữ việt nam. ............................................ 71
3.2.1.1. Về mô hình tổ chức hoạt động tài chính vi mô của Hội LHPN Việt
Nam. ............................................................................................................. 71
3.2.1.2. Tăng c-ờng kiểm tra giám sát hoạt động TCVM ............................... 74
3.2.1.2. Về cách thức phối hợp giữa Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với các cơ
quan chức năng trong hoạt động tài chính vi mô. .......................................... 77
3.2.2. Giải pháp về nguồn lực ........................................................................ 79
3.2.2.1. Nguồn lực tài chính .......................................................................... 79
3.2.2.2. Nguồn nhân lực ................................................................................ 80
Kết luận ........................................................................................................... 84
Tài liệu tham khảo ..................................................................................... 87
2
Tổ chức tư nhân tình nguyện quốc tế
TW
Trung ương
WB
Ngân hàng Thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XĐGN
Xoá đói, giảm nghèo
3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Stt
Số bảng, biểu
Tên bảng, biểu
1.
từ nguồn huy động trong hệ thống Hội và số lượt
phụ nữ được vay vốn
4
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Hoạt động tài chính vi mô trên thế giới đã có lịch sử khá lâu đời, phát
triển mạnh mẽ ở Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, một số nước Châu Á và không
ngừng được hoàn thiện trong sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau của các nước, sự nỗ
lực của từng Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu duy nhất là xoá đói giảm
nghèo đối với các cá nhân, các hộ gia đình còn gặp nhiều khó khăn, chưa tiếp
cận được với các dịch vụ tài chính của các tổ chức tài chính chính thức.
Tại Việt Nam, khái niệm “Tài chính vi mô” được biết đến vào cuối thập
niên 80 của thế kỷ trước và đã có nhiều đóng góp to lớn vào công cuộc xoá
đói giảm nghèo. Tuy nhiên khái niệm về “Tài chính vi mô” vẫn chưa thực sự
được hiểu một cách thống nhất. Việc tìm hiểu sâu sắc khái niệm về “Tài chính
vi mô” và các nội hàm của nó chính là một mấu chốt để giúp các tổ chức có
hoạt động tài chính vi mô có thể tìm ra được các giải pháp hữu hiệu đảm bảo
các hoạt động tài chính vi mô phát triển bền vững, phục vụ được một số lượng
đáng kể người dân và những hộ gia đình có thu nhập thấp.
Năm 1987, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tổ chức Hội nghị khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương về “Tạo việc làm và tăng thu nhập cho phụ
nữ”. Sự kiện này được xem là điểm khởi đầu cho các dự án tiết kiệm và tín
dụng dành cho Việt Nam. Cũng trong thời gian đó, các tổ chức đoàn thể như:
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh,
Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Chữ thập Đỏ, Hội Người mù
và nhiều tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam đã thực hiện các hoạt động tài
có sự quản lý, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
6
Về nhận thức, mặc dù không còn quá mới mẻ, nhưng xung quanh khái
niệm “Tài chính vi mô” vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau do tại Việt Nam
chưa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa một cách đầy đủ về “tài chính vi
mô” chính vì vậy mà khái niệm này mới chỉ được một số ít những người trực
tiếp tham gia và các chương trình, dự án tài chính vi mô tìm hiểu qua các tài
liệu nước ngoài. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng không phải là một
ngoại lệ do đó hoạt động tài chính vi mô trong hệ thống Hội phần lớn mang
tính tự phát, hiểu gì làm nấy.
Về năng lực tài chính, hầu hết các tổ chức tài chính vi mô bán chính
thức có nguồn vốn rất hạn chế, chủ yếu là do các tổ chức phi chính phủ tài trợ.
Mục đích của các nhà tài trợ này là cung cấp nguồn vốn ban đầu để tạo lập
mô hình nhằm thực hiện một mục tiêu xã hội nào đó trong khoảng thời gian
nhất định. Khi kết thúc dự án sẽ được bàn giao cho chính quyền địa phương
hoặc chuyển sang thực hiện ở địa phương khác. Chính vì vậy, sau khi kết thúc
dự án, khả năng tồn tài và phát triển bền vững của các hoạt động tài chính vi
mô bị ảnh hưởng là điều không thể tránh khỏi.
Về mô hình tổ chức và hoạt động, cho đến nay, các chương trình, dự án
tài chính vi mô của Hội được thực hiện theo kiểu “mạnh ai, nấy làm”, hay nói
cách khác thiếu một sự điều phối thống nhất. Tuy có sự chỉ đạo của Đoàn Chủ
tịch TW Hội LHPN Việt Nam về xây dựng và triển khai các mô hình tín dụng
- tiết kiệm trong hệ thống Hội, tuy nhiên, tại các địa phương, các hoạt động tài
chính vi mô được thực hiện rất đa dạng. Điều này gây khó khăn cho việc quản
lý và điều hành thống nhất hoạt động tín dụng vi mô và xác định một chiến
lược phát triển các hoạt động tài chính vi mô thống nhất và bền vững trong
toàn hệ thống Hội. Mặt khác, việc tổ chức lại mô hình hoạt động tài chính vi
rất mới mẻ ở Việt Nam và việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên các tài liệu từ
nước ngoài. Từ sau khi có Nghị định 28/2005/NĐ-CP cũng chưa có một
nghiên cứu lớn, toàn diện nào về việc chuyển đổi và hướng phát triển của các
8
hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam trong thời gian tới. Đối với Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội đã có một đề tài nghiên cứu cấp bộ về “Mô hình
hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và vai trò của Hội LHPN Việt Nam” tuy nhiên
kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các mô hình phát triển
kinh tế và đưa ra một số khuyến nghị ở mức độ nhất định nhưng chưa đưa ra
được phương hướng phát triển của hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam trong thời gian tới do đề tài chưa đặt hoạt động của Hội
trong bối cảnh thực hiện Nghị định 28/2005/NĐ-CP. Nghiên cứu của luận văn
hy vọng sẽ đưa ra được những giải pháp hết sức cơ bản và cụ thể cho sự phát
triển của hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong
thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm
giải quyết những vấn đề đặt ra trong hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam. Để đạt mục đích trên, nhiệm vụ của Luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm tài chính vi mô và vai trò của tài chính
vi mô trong hoạt động xoá đói giảm nghèo.
- Phân tích thực trạng hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam.
- Xây dựng các giải pháp định hướng trong hoạt động tài chính vi mô.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động tài chính vi mô của
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Trong đó tập trung làm rõ một số nội dung
Chương I: Tài chính vi mô và vai trò của nó trong xoá đói giảm nghèo
10
Chương II: Thực trạng hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động tài chính vi mô của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thời gian tới.
CHƢƠNG I
TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
TRONG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1.1. Khái niệm và lịch sử hình thành tài chính vi mô và tổ chức
tài chính vi mô.
1.1.1.1. Khái niệm về tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô.
a. Khái niệm về tài chính vi mô (TCVM).
Về mặt ngữ nghĩa, “tài chính vi mô” tức là “tài chính có quy mô rất
nhỏ”, là hoạt động trung gian tài chính chủ yếu phục vụ các tác nhân kinh tế
nằm ngoài vòng tròn khép kín của hoạt động ngân hàng. Tài chính vi mô cung
cấp các dịch vụ chủ yếu như tín dụng, tiết kiệm và bảo hiểm với quy mô rất
nhỏ.
Theo định nghĩa của ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): “Tài chính vi
mô là việc cung cấp các dịch vụ huy động tiền gửi, cho vay, thanh toán,
chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo, các hộ gia đình có thu nhập thấp
và doanh nghiệp nhỏ của họ”1.
b. Khái niệm về tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM):
1
sức khoẻ, ma chay, cưới hỏi,…) hoặc các khoản chi tiêu bất thường khác. Lãi
suất của các món vay này thường rất cao và đôi khi được hoàn trả bằng các
sản phẩm nông nghiệp khi đến mùa thu hoạch. Hoạt động này đã đáp ứng
12
phần nào nhu cầu của người dân, nhưng lại đẩy họ vào vòng nợ luẩn quẩn và
hệ quả thấy rõ nhất là người giàu càng trở nên giàu hơn, người nghèo càng trở
nên nghèo hơn.
Một trong những hoạt động khác liên quan đến lịch sử của TCVM là
“hụi” (hay còn gọi là “họ”), tức là các nhóm tiết kiệm và tín dụng không
chính thức hoạt động dựa vào nguyên tắc quay vòng. Hình thức chơi hụi được
biết đến từ thế kỷ XVI ở khắp nơi trên thế giới: Châu Phi, Ca-ri-bê, In-đô-nêxia, Phi-líp-pin, Ấn Độ…Có nhiều biến thể khác nhau từ loại hình này nhưng
chúng đều cùng dựa trên nguyên tắc là đưa các sản phẩm (như lúa, gạo…),
sức lao động hoặc sau này là tiền vào sử dụng chung nhằm mục đích tích luỹ
cho thành viên của nhóm sử dụng theo thứ tự.
Tuy nhiên, có thể nói rằng TCVM được khởi xướng bắt nguồn từ hai
phát hiện quan trọng trong những năm 1970: (1) Phát hiện thứ nhất cho rằng
người nghèo có khả năng và sẵn sàng hoàn trả các khoản vay theo lãi suất thị
trường. Kinh nghiệm thực tiễn ở châu Mỹ - Latinh, châu Á đã chứng minh
rằng các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn và sẵn sàng trả mức lãi suất đủ để bù
đắp các chi phí của các tổ chức cho vay. Phát hiện này đã loại bỏ định kiến
rằng người nghèo không có khả năng trả nợ. Ngày nay, hầu hết các TCTCVM
ghi nhận rằng tỷ lệ nợ quá hạn chỉ thấp hơn 5%. Với một tỷ lệ nợ quá hạn
thấp như vậy, khả năng thành lập các TCTCVM bền vững trở nên thực tế đối
với những tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính; (2) Phát hiện thứ hai cho rằng,
áp lực tập thể có thể thay thế cho việc thế chấp tài sản. Các nhà thực hành
TCVM nhận thấy rằng việc cho các nhóm người thực hiện bảo lãnh món vay,
đối với các thành viên của nhóm có tỷ lệ hoàn trả rất cao. Do người nghèo
NGO hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên một số hợp tác xã tín
dụng tiết kiệm, nhất là ở châu Phi bắt đầu cung cấp các dịch vụ TCVM và
14
một số tổ chức tài chính chính thức cũng như một số ngân hàng thương mại
bắt đầu tham gia vào lĩnh vực này.
Hiện nay, nguồn vốn của các TCTCVM chủ yếu đến từ các nhà tài trợ
và các chính phủ. Nhưng các tổ chức tài chính lớn lại nhận thấy rằng yêu cầu
của khách hàng vượt xa nguồn vốn tài trợ đó. Bên cạnh đó, các tổ chức này
cũng cho thấy có thể cung cấp các dịch vụ TCVM trên một cơ sở tài chính
bền vững: khách hàng tìm thấy lợi ích của mình trong các dịch vụ mà
TCTCVM cung cấp và họ sẵn sàng trả một mức giá phù hợp. Khi trở nên bền
vững về mặt tài chính, một TCTCVM có thể bắt đầu tài trợ các khoản cho vay
bằng tiền gửi huy động và các nguồn vốn thương mại khác. Như vậy,
TCTCVM có thể thoát khỏi hạn chế gắn liền với nguồn tài trợ do các tổ chức
cấp vốn áp đặt nhưng vẫn đảm bảo được các dịch vụ tiết kiệm an toàn và
thuận lợi cho khách hàng. Sự phát triển của lĩnh vực TCVM trong thời gian
qua có xu hướng đáp ứng một nhu cầu hiển nhiên của việc đa dạng hoá các
dịch vụ, từ việc cho vay đơn thuần đến các dịch vụ tài chính linh hoạt và có
chất lượng nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của TCVM trong cuộc chiến chống
đói nghèo. Một trong những ví dụ thú vị nhất là dịch vụ bảo hiểm xã hội do
Hiệp hội Phụ nữ tự quản (SEWA) tại nhiều bang ở Ấn Độ thực hiện. Ngoài
ra, cũng có thể kể đến các hình thức dịch vụ thuê mua vi mô (micro - leasing)
hay cho vay bằng hiện vật (ví dụ cho vay bằng gia súc, cây giống) nhất là đối
với những người rất nghèo. Với đối tượng khách hàng này, các TCTCVM
cũng bắt đầu cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng để trang trải các chi phí
giáo dục, y tế,… Việc cho vay tiêu dùng giúp cho các hộ nghèo trang trải các
loại chi phí tiêu dùng mà không làm thâm thủng nguồn vốn sản xuất, kinh
trình xoá đói giảm nghèo;
Giai đoạn hai, những năm 80 của thế kỷ XX là giai đoạn phát triển của
TCVM, TCVM đã phục vụ số đông khách hàng mà vẫn có lãi;
16
Giai đoạn ba, những năm 90, TCVM phát triển như là một ngành riêng.
ở một số nước có sự cạnh tranh khá mạnh giữa các TCTCVM cung cấp dịch
vụ tài chính cho người nghèo;
Giai đoạn bốn, những năm 2000, mục tiêu của TCVM là đáp ứng được
nhu cầu ở quy mô lớn về dịch vụ tài chính cho xoá đói giảm nghèo. TCVM
được các tổ chức tài chính lớn như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển
châu Á, Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp coi là cách tiếp cận cơ bản để
mang dịch vụ tài chính cho người nghèo, tạo điều kiện xoá đói giảm nghèo
một cách bền vững.
Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về tín dụng vi mô được tổ chức vào tháng
2 năm 1997 tại Washington (Mỹ) đã rút ra kết luận rằng: “ TCVM là công cụ
sắc bén, có hiệu quả trong cuộc chiến chống đói nghèo và bảo đảm khả năng
độc lập về kinh tế cũng như nhân phẩm của con người”. Như vậy có thể nói
TCVM ngày càng khẳng định được vai trò kinh tế - xã hội của mình và thu
hút được sự quan tâm thích đáng của nhiều tổ chức, đặc biệt là chính phủ ở
những nước đang phát triển.
1.1.1.3. Các loại hình tổ chức tài chính vi mô
Nhiều tổ chức thực hiện các chương trình TCVM đã hình thành trong
các thập niên gần đây. Ngay cả khi mục tiêu chung là cung cấp dịch vụ tài
chính cho đối tượng khách hàng có thu nhập thấp, các tổ chức này đã xây
dựng các phương pháp tiếp cận khác nhau để đạt được mục đích đó. Những
kết quả mà các tổ chức này đạt được rất khác nhau và đôi khi không đáng kể
do chúng theo đuổi các mục tiêu cũng rất khác nhau. Có thể phân biệt 3 loại
đã đề cập đến việc thông qua các chiến lược nhằm đảm bảo khả năng bền
vững về tài chính như: tăng cường huy động tiết kiệm tại chỗ, phát triển quan
18
hệ đối tác với các tổ chức khác hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài
chính, sự hiểu biết tốt nhất về các nhu cầu và sự yêu thích của khách hàng vay
vốn, cung ứng sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu.
Hiện nay các loại hình tổ chức này đã có thể đóng vai trò quan trọng
trong lĩnh vực TCVM, ví dụ như trường hợp của Ngân hàng Phát triển nông
nghiệp và nông thôn Thái Lan. Nhưng để cho các dịch vụ này có hiệu quả,
các tổ chức này cần phát triển các cơ cấu chuyên môn trong việc cung cấp các
dịch vụ tài chính cho người nghèo. Ví dụ Ngân hàng Phát triển nông nghiệp nông thôn quy chế hoạt động, hệ thống
71
báo cáo khác nhau do đó Đoàn Chủ tịch TW Hội LHPN Việt Nam cần nghiên
cứu kỹ Nghị định 28/2005/CP để xây dựng văn bản hướng dẫn về mô hình
TDTK thống nhất trong cả nước trên cơ sở hướng dẫn của Nghị định
28/2005/NĐ-CP, đảm bảo hoạt động tài chính vi mô của Hội tuân thủ đúng
quy định của Pháp luật. Hiện nay Hội LHPN Việt Nam đang có văn bản trình
với Chính phủ về việc sửa đổi một số điều trong Nghị định cho phù hợp hơn
với thực tế hoạt động tài chính vi mô của Hội và các tổ chức đoàn thể xã hội
khác.
Mô hình Hội phải hướng tới để đáp ứng các yêu cầu phát triển cũng
như đòi hỏi của Nghị định 28/2005/NĐ-CP đó là việc thành lập các tổ chức
tài chính quy mô nhỏ của Hội Phụ nữ cấp xã, huyện, tỉnh (ở những nơi đã đáp
ứng đủ điều kiện như Nghị định.
tới đó là thành lập Ngân hàng phụ nữ của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với
quy chế và nguyên tắc hoạt động như một Ngân hàng tư nhân trong đó tập
trung mọi nguồn vốn huy động được trong và ngoài hệ thống Hội cho phụ nữ
vay xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế.
Để xây dựng mô hình này có thể tham khảo Ngân hàng Phát triển của
phụ nữ (The Women’s Development Bank) tại Vê-nê-zu-ê-la. Thành lập từ
năm 2001 với mục tiêu làm giảm bớt những thiệt thòi cho phụ nữ về chính trị,
kinh tế – xã hội, Ngân hàng này cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài
chính cho phụ nữ, đây là điểm khác biệt cơ bản mang tính cách mạng của
Ngân hàng này so với các ngân hàng khác.
Đối với dịch vụ tài chính, Ngân hàng này cung cấp vốn tín dụng quy
mô nhỏ với lãi suất thấp từ 260 - 520 USD/phụ nữ để tổ chức kinh doanh.
Vốn tín dụng không được cung cấp cho các cá nhân mà được cung cấp cho
các nhóm từ 5-10 phụ nữ. Việc thành lập Ngân hàng này xuất phát từ ý tưởng
73
của Thủ tướng Hugô Chave để tăng cường tính bền vững cộng đồng, chống
lại chủ nghĩa cá nhân. Ngân hàng này cũng cung cấp các dịch vụ tư vấn tài
chính cho phụ nữ, tư vấn khởi sự doanh nghiệp.
Về dịch vụ phi tài chính, Ngân hàng cung cấp các khoá đào tạo về quản
lý cho các nữ chủ doanh nghiệp, các hội thảo phát triển năng lực, kế hoạch
hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ, tham gia chương trình xoá mù chữ, tổ chức
hội thảo nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động chính
trị - xã hội.
Ngân hàng này cũng khác các ngân hàng khác là nó không có các chi
nhánh mà có một hệ thống nhân viên đến tận các địa phương hàng tuần để
cung cấp dịch vụ cho các phụ nữ không thể tiếp cận với các dịch vụ của ngân
hàng khác. Ngân hàng này còn sử dụng cách gọi điện thoại từ gia đình
- Số quỹ có số vốn từ 500 triệu đồng - dưới 5 tỷ đồng:
- Số quỹ có số vốn từ 5 tỷ đồng trở lên:
2. Tổ nhóm phụ nữ vay vốn, tiết kiệm
Loại hình
Số
Số lƣợng có tại thời Số lƣợng phát
điểm b/c
xã/phƣờng
triển mới trong kỳ
b/c
có tổ,
nhóm vay Số tổ,
Số thành
Số tổ, Số thành
vốn, TK
nhóm
viên
nhóm
viên
1 . Tổ, nhóm phụ nữ
vay vốn, tiết kiệm theo
mô hình hướng dẫn của
TW Hội
2 . Tổ, nhóm phụ nữ
vay vốn, tiết kiệm khác
3. Nguồn vốn cho phụ nữ vay (đơn vị: triệu đồng)
75
a) Nguồn vốn tín
chấp với Ngân hàng
CS - XH
b) Nguồn vốn tín
chấp với Ngân hàng
NN và PTNT
3. Nguồn vốn trong
chu kỳ các dự án
quốc tế do Hội PN
quản lý
4. Nguồn vốn do Hội
PN tự huy động
trong tổ chức Hội
(Vốn nhóm PN vay
vốn, TK)
76