Thời đại kim khí ở miền Đông Nam Bộ - Pdf 67

Khảo cổ học Việt Nam - 21 -

CHƯƠNG II:
THỜI ĐẠI KIM KHÍ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

I. LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU
Vùng lưu vực sông Đồng Nai ngày nay cũng được gọi là vùng Đông Nam
bộ, bao gồm các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Ròa,
Vũng Tàu, một phần Lâm Đồng, Bình Thuận, Long An và Thành phố Hồ Chí
Minh.
Khu vực này có diện tích tự nhiên khoảng 2.448.000 ha, độ cao trung bình
so với mặt biển khoảng 100 – 200m, khí hậu nóng ẩm, ánh sáng nhiều, thời tiết
thuận lợi, hầu như không có bão.
Đây là một vùng thổ nhưỡng cơ bản thuộc đất phù sa cổ. Theo các nhà đòa
chất, vào khoảng đầu Kỷ thứ ba và Kỷ thứ tư (tức đầu Pliocene hay đầu đại
Tân sinh) trên diện tích tương ứng với đồng bẳng Nam Bộ hiện nay đã bắt đầu
hình thành một vùng trũng rộng lớn. Từ đó, các thành tạo đòa chất của Kỷ thứ
ba và Kỷ thứ tư dần dần lấp đấy vùng trũng này, tạo nên một trầm tích với bề
dầy còn thấy được từ trên 2000 m. Đây chính là đồng bằng Nam Bộ màu mỡ
và trù phú hiện nay.
Trong buổi đầu thời Toàn tân, khi sông Cửu Long chưa đổi dòng, bậc thềm
phù sa cổ này hình thành nên một vòng cung rộng lớn từ Vũng Tầu đến Hà
Tiên. Bước vào thời đại đồng thau, con người từ những vùng trước núi bắt đầu
tràn xuống chiếm lónh đồng bằng, đặt chân lên các giồng đất, tạo lập căn cứ để
làm chủ vùng đồng bằng rộng lớn mà ngày nay được gọi là vùng Tây Nam Bộ.
Chúng ta đã khai quật các di tích An Sơn , Lộc Giang, gò Cao Su, Rạch Núi
trong số hàng chục di tích được phát hiện ở Long An. Các mỏ đồng nguyên
thủy ở Bảy Núi, Phú Quốc cũng đã được lưu ý khảo sát bước đầu. Trong đó nổi
bật hơn cả có lẽ là cụm di tích Óc Eo, thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long
rộng lớn.
Xu thế con người tràn xuống chiếm lónh đồng bằng rộng lớn là nội dung

chế tác (Bưng Bạc, Suối Linh, Đồi Phòng Không, Mỹ Lộc…).
Về cấu trúc, các di tích khảo cổ học khu vực này cũng khá đa dạng, độ dày
mỏng của tầng văn hóa khảo cổ không đều nhau. Có di tích chỉ có một tầng văn
hoá (Cầu Sắt, Bến Đò, Hội Sơn, Ngãi Thắng…), có di tích có nhiều tầng văn hoá
sớm muộn khác nhau (Dốc Chùa, An Sơn…). Độ dày tầng văn hoá mỏng nhất
0,40m (Gò Đá), dày nhất từ 3m đến 5m (Bình Đa, Rạch Núi, An Sơn). Một đòa tầng
tích tụ dày, xen kẽ các lớp cứng, mềm, màu sắc không đồng nhất là một đặc điểm
phổ biến của các di chỉ tiền sử miền Đông Nam Bộ nằm ở phức hệ đòa lý - văn hoá
a, b. Đó là các di chỉ Rạch Núi, Lộc Giang, An Sơn, Cổ Sơn Tự, gò Ô chùa (Long
An), Dinh Ông (Tây Ninh), Bình Đa (Đồng Nai) và Dốc Chùa (Bình Dương).
Cấu tạo đòa chất đồng bằng Nam Bộ không thuần nhất là điều kiện tạo nên sự
đa dạng trong cấu tạo tầng văn hoá trong các di tích khảo cổ ở nơi đây. Những di
tích nằm trong vùng thấp kề bên vùng sình lầy ven biển chưa được bồi tụ (Cái Vạn,
An Sơn, Rạch Núi) tầng văn hoá là loại đất phù sa pha cát mòn. Ở di tích Rạch Núi,
trong lớp sinh thổ còn thấy những tích tụ cát sét lẫn tàn tích thực vật vùng đầm lầy.
Ngược lại, các di tích nằm trong vùng đất đỏ badan, tầng văn hoá là loại đất badan
Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử
www.Beenvn.com
Khảo cổ học Việt Nam - 23 -
có lẫn sỏi sạn rắn chắc như Suối Chồn, Hưng Thònh, Cầu Sắt, Phước Tân…với nền
đất là phong hoá của cao nguyên badan của khu vực này.
Trên vùng ven biển, các di chỉ như Bưng Bạc, Bưng Thơm, Cái Lăng… thuộc
loại hình tích tụ văn hoá là bùn đất sình lầy, nhiều cọc gỗ, tầng văn hoá mỏng
nhưng diện tích khá lớn, dấu tích của rừng ngập mặn nhiều thiên kỷ. Nhưng gần kề
đó, qua vònh Gành Rái là hơn 20 di tích vừa là di chỉ cư trú và mộ chum (Giống
Phệt, Giồng Cá Vồ, Giồng Cá Trăng, Lý Nhơn, Giống Cây Keo…) cùng đa số là
các di tích c Eo như Giồng Am, Giồng Đất Đỏ, Giồng Bảy Liếp, Giồng Cháy,
Giống Ông Mai… đều là các đồi sót đất đỏ badan nằm trong vùng cửa sông sình
lầy ngập mặn.


Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử
www.Beenvn.com
Khảo cổ học Việt Nam - 24 -
chỉ Bưng Bạc). Thủ pháp thường dùng để tu chỉnh lại công cụ đá là ghè nhỏ tạo lại
rìa lưỡi sau một thời gian sử dụng, rồi mài lại. Chính thói quen này khiến cho di vật
công cụ có lưỡi tù, đầy vết tu chỉnh “thanh xuân hoá” rìa lưỡi. Bước sang thời đại
đồ sắt, trình độ kỹ thuật hai vùng có những nét tiến bộ tương tự nhưng biểu hiện ra
cũng có những nét khác biệt. Điều này, chủ yếu là do chất liệu quyết đònh.
Về hình loại, bộ hiện vật đá vùng lưu vực sông Đồng Nai cũng hết sức đa
dạng. Chúng ta gặp ở đây các loại rìu vai, rìu không vai, rìu tứ giác, bàn mài, đục
mũi nhon, mai, cuốc kích thước lớn. Trong phần lớn các đòa điểm, bắt gặp loại dao
cắt, dao hái, đồ trang sức chủ yếu là vòng tay….Loại hình hiện vật chiếm số lượng
nhiều nhất, thể hiện một phong cách riêng của khu vực này trong bộ hiện vật đá là
rìu bôn với đặc trưng nổi bật là rìu bôn có vai. Bên cạnh loại rìu bôn có vai là loại
rìu bôn không vai. Tuy nhiên tỷ lệ giữa hai loại này có sự khác biệt. Phạm Quang
Sơn đã nghiên cứu số lượng rìu bôn ở bốn đòa điểm: Phước Tân, Bến Đò, Hội Sơn,
Cù Lao Rùa. Kết quả cho thấy:
Phước Tân Bến Đò Hội Sơn Cù Lao Rùa
Đòa điểm

Hiện vật
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng

Phước Tân, Bến Đò và giảm dần ở các di chỉ có niên đại muộn hơn sau này mà rõ
nét nhất là Cù Lao Rùa, Dóc Chùa, Đồi Xoài, Đồi Mít…
Rìu bôn có vai tìm được ở đây có nhiều loại khác nhau: vai ngang, vai xuôi,
rộng, hẹp…Chiếm số lượng nhiều hơn cả là loại rìu bôn vai xuôi. Rìu bôn vai xuôi
tồn tại khá phổ biến ở các nền văn hoá đá mới muộn - đồng sớm. Ở Thạch Lạc,
Bàu Tró cũng có loại rìu này. Ở các đòa điểm kim khí sớm vùng Đông Nam Bộ,
loại rìu này có cấu tạo chuôi dài, vuông cạnh, mặt cắt gần vuông. Những yếu tố
này đã trở thành một đặc trưng độc đáo của vùng này. Bên cạnh đó là loại rìu bôn
có vai nhọn cũng tìm được khá nhiều trong các đòa điểm. Cuộc khai quật Bến Đò
đã tìm được 14 chiếc loại này.
Rìu bôn tứ giác ở các di chỉ vùng lưu vực sông Đồng Nai có cấu tạo khác hẳn
những hiện vật cùng loại vùng lưu vực Sông Hồng, Sông Mã.
Nếu ở vùng lưu vực Sông Hồng, Sông Mã, rìu bôn tứ giác có dạng vuông hoặc
gần vuông thì ở đây, rìu bôn tứ giác lại có dạng hình thang rõ rệt, rìu có phần đốc
hẹp, lưỡi xoè rộng, chiều dài có khi lớn gấp 2 hay gấp 3 lần chiều rộng. Có loại rìu
đốc thu hẹp gần như nhọn tạo cho rìu có dáng gần như hình tam giác, loại rìu này
hình như mới chỉ thấy ở các đòa điểm có niên đại sớm và được coi như một đặc
trưng cho công cụ đá giai đoạn này với các đòa điểm Cầu Sắt và muộn hơn, ở Bến
Đò, Phước Tân, Hội Sơn…
Tóm lại, loại hình công cụ rìu bôn vùng Đồng Nai chiếm một vò trí đặc biệt
quan trọng với sốlượng lớn và loại hình phong phú. Nó trở thành một đặc trưng
hàng đầu khi nhận dạng diện mạo văn hoá nơi đây. Điều cần lưu ý là loại rìu cónấc
tồn tại như một đặc trưng trong các đòa điểm khảo cổ vùng ven biển và hải đảo
Đông Bắc nước ta, thì ở đây, chúng hầu như vắng bóng.
Một đặc điểm quan trọng của công cụ đá vùng lưu vực sông Đồng Nai là loại
hình công cụ cuốc, loại công cụ có ý nghóa rất lớn khi nghiên cứu hình thái kinh tế
của cư dân nơi đây thời tiền sử mà chung tôi sẽ đề cập đến ở phần sau. Đòa điểm
Rạch Núi, trong số 128 công cụ đá có 43 cuốc đá, đòa điểm Gò Đá con số này là
27, Phú Lộc có 4 chiếc rất nguyên vẹn, Bình Đa có 15 chiếc tìm thấy trong cuộc
khai quật 1993, Bưng Thơm có 7 chiếc …Các đòa điểm khác như Lộc Chánh, Cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status