MỘT số kết QUẢ NGHIÊN cứu bước đầu về BỆNH nấm hại mía ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ - Pdf 31

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ BỆNH NẤM
HẠI MÍA Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
ThS. Hà Đình Tuấn
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh hại có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất cây mía. Đến nay trên thế
giới đã ghi nhận được 126 loại bệnh hại cây mía, trong đó có 68 loại bệnh do nấm gây
ra (Chinea và ctv, 2000; Joaquin, 2000; Ricaud và ctv, 1989). Nhiều loại bệnh đã gây
tổn thất lớn cho ngành mía đường ở nhiều nước sản xuất mía như bệnh rỉ sắt, bệnh
than, bệnh thối đỏ, bệnh đốm vàng, v.v…
Để góp phần tìm hiểu về bệnh hại cây mía ở Việt Nam, đã tiến hành điều tra
bệnh nấm hại cây mía tại một số nghiên cứu tại vùng miền Đông Nam Bộ. Dưới đây là
một số kết quả nghiên cứu bước đầu đã đạt được.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Điều tra thu thập mẫu bệnh và đánh giá mức độ xuất hiện của các bệnh hại mía
được tiến hành theo theo phương pháp phổ biến trong nghiên cứu bệnh cây. Phân lập
các tác nhân gây bệnh chủ yếu trên môi trường PDA (khoai tây-dextrose-agar). Việc
giám định các tác nhân gây bệnh bằng tài liệu D-CAS 1.2 và các tài liệu liên quan.
Diễn biến một số bệnh hại quan trọng được điều tra vào các thời điểm sinh
trưởng chính của cây mía như: giai đoạn mọc mầm/tái sinh (tháng 11), giai đoạn đẻ
nhánh (tháng 2), giai đoạn làm lóng-vươn cao (tháng 5) và 10 tháng tuổi (vào tháng 8tháng 9).
Đánh giá mức độ phổ biến của bệnh hại qua tỷ lệ cây (hoặc các bộ phận của
cây) bị bệnh so với tổng số cây (hoặc các bộ phận của cây) điều tra. Trong đó mức độ
phổ biến được xác định như sau:
+++: Triệu chứng xuất hiện ở mức độ rất nhiều (>75% bị bệnh)
++: Triệu chứng xuất hiện ở mức độ nhiều (51-75% bị bệnh)
+: Triệu chứng xuất hiện ở mức độ trung bình (26-50% bị bệnh)
- : Triệu chứng xuất hiện ở mức độ ít (< 25% bị bệnh)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Thành phần bệnh nấm gây hại trên cây mía ở miền Đông Nam bộ

Ceratocystis paradoxa
Rách lá
Scleropora miscanthi
Thối rễ
Pythium spp.
Khô thân
Phaeocytostroma
sacchari
Khô vằn bẹ
Rhizoctonia solani
Thối khô ngọn Ligniera vascularum

9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26

Muội đen
Fumago sacchari
Đốm mắt én Bipolaris sacchari
Sọc nâu
Bipolaris stenospila
Đốm nâu
Cercospora longipes
Đốm vàng
Cercospora koepkei
Thối đỏ
Colletotrichum falcatum

2
3
4
5
6

Pyrenomycetes

Clavicipitales

Mức độ
phổ biến
-

Euascomycetes
Oomycetes
Oomycetes
Oomycetes

Basidiomycetes
Uredinales
Basidiomycetes
Polyporales
Deuteromycetes Coelomycetes
Deuteromycetes
Dothideales
Deuteromycetes
Dothideales
Deuteromycetes
Dothideales
Deuteromycetes
Dematiales
Deuteromycetes
Dematiales
Deuteromycetes
Moniliales
Deuteromycetes
Moniliales
Deuteromycetes Melanconiales

-

Lớp

Bộ

++
+++
+

Mức độ bệnh ở các giai đoạn sinh trưởng của mía
Làm lóng-vươn
10 tháng tuổi
Mọc mầm
Đẻ nhánh
cao
TLB
CSB
TLB
CSB
TLB
CSB
TLB
CSB
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)

Bình Dương

0,00

0,00

16,48


0,00

0,00

16,49

6,14

28,43

15,18

69,94

38,14

Ghi chú: TLB: Tỉ lệ bệnh; CSB: chỉ số bệnh

2.2 Bệnh gỉ sắt (Puccinia melanocephala)
Bệnh gỉ sắt ghi nhận chỉ xuất hiện tập trung trên lá già và lá bánh tẻ. có xu
hướng tăng dần theo giai đoạn sinh trưởng của cây mía. Khi cây mía ở giai đoạn tái
sinh/mọc mầm có tỉ lệ bệnh là 21,1-25,36% và chỉ số bệnh là 6,09-5,53%. Trong khi
đó vào giai đoạn 10 tháng tuổi, cây mía bị bệnh nặng hơn với tỉ lệ bệnh và chỉ số bệnh
tương ứng đạt 65,97-70,93% và 18,87-20,46% (Bảng 3).
Bảng 3. Diễn biến bệnh gỉ sắt trên giống My55-14 qua các giai đoạn sinh trưởng
Chỉ
tiêu
Vùng


22,11

5,53

42,42

11,20

46,05

14,56

70,93

20,46

Tây Ninh

25,36

6,34

42,85

10,71

50,30

13,17


chỉ số bệnh là do sự lan rộng trên cùng một lá và từ lá già qua lá non hơn. Trong thời
gian từ giai đoạn đẻ nhánh đến làm lóng vươn cao bệnh gỉ sắt phát triển chậm do bộ lá
luôn thay đổi với sự xuất hiện nhiều lá non nhanh hơn.
2.3 Bệnh than (Ustilago scitaminea)
Bệnh than là một trong các bệnh phổ biến trên mía ở vùng Đông Nam Bộ. Tỉ lệ
bệnh than tăng dần theo các giai đoạn sinh trưởng của cây mía. Trong thời gian từ giai
đoạn đẻ nhánh đến giai đoạn 10 tháng tuổi tỉ lệ bệnh than tăng nhanh nhất. Một điều
168


đáng quan tâm là tỉ lệ bệnh than trên mía gốc ln cao hơn trên mía tơ và sự gia tăng của
bệnh than trên mía gốc cũng gia tăng nhanh hơn trên mía tơ (Hình 1). Trong thực tế, sự
gia tăng này là do bệnh than phát sinh trên cây mầm vơ hiệu và trên các chồi nách của
nhiều cây mía lớn. Do đó tỉ lệ bệnh than gia tăng nhanh ở các giai đoạn sinh trưởng sau
của cây mía.
12.00
Mía tơ

Bụi bò bệnh (%)

10.00

Mía gốc

8.00
6.00
4.00
2.00
0.00
TS/MM


7,13

10,35

28,49

36,13

Đồng Nai

6,80

9,84

28,54

38,26

Tây Ninh

7,27

9,91

29,68

36,25

Ghi chú: TLB: Tỉ lệ bệnh; CSB: Chỉ số bệnh


PRELIMINARY RESULTS OF STUDIES ON FUNGAL DISEASES
DAMAGING SUGARCANE IN THE EASTERN SOUTH
(Summary)
MSc. Ha Dinh Tuan
Sugar and Sugarcane Research and Development Center

The investigations were conducted at Eastern South (Binh Duong, Dong Nai and
Tay Ninh provinces) from October 2003 to October 2005. The results were detected 31
symptoms of fungal diseases. Among them, 20 symptom diseases on leaf, 5 symptom
diseases on stalk, 4 symptoms diseases on sheath and 2 symptom diseases on root. All
most diseases are harmful on leaf with high widespread as yellow spot, red rot and red
spot of the leaf sheath. Some diseases are widespread as leaf scorch, with speck, brown
stripe and red rot of the leaf sheath.

170




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status