THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN TRÍCH LẬP QUỸ DỰ PHÒNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NNPTNT THỌ XUÂN - Pdf 67

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN TRÍCH LẬP
QUỸ DỰ PHÒNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG NNPTNT THỌ XUÂN.
1. Khái quát về chi nhanh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân
1.1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân.
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị
định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về
việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển
Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Theo đó
ngân hàng No& PTNT Thọ Xuân được ra đời theo quyết định số 51/QĐ-NH ngày
27/06/1988 của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam( Nay là Thống đốc Ngân Hàng
Nhà nước Việt Nam) và là một trong 27 huyện trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp
Thanh Hóa. Theo đó ngân hàng được mang tên ngân hàng nông nghiệp Thọ Xuân,
đến năm 1997 chính thức đổi tên thành ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân.
Giai đoạn mới thành lập: ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân đã gặp rất nhiều khó
khăn, phải đối mặt với nhiều thử thách. Từ đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, mạng
lưới hoạt động đều rất thiếu thốn và lạc hậu. kết quả hoạt động kinh doanh khi mới
thành lập chủ yếu dựa vào hoạt động tín dụng, song nguồn vốn chỉ có khoảng 1 tỷ
đồng. Được tập trung cho vay hai thành phần kinh tế là : Doanh nghiệp Nhà Nước
38% và HTX 62%, Nợ quá hạn chiếm 7,6% trên tổng dư nợ. Có thể tín dụng bao
cấp: cho vay theo quy định, theo kế hoạch nhà nước, lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi
suất huy động. Do đó hoạt đông của ngân hàng gặp nhiều khó khăn và chưa có
định hướng đầu tư vào các loại hình mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Giai đoạn 2000 - nay: là thời kì hoạt động ngân hàng hướng theo cơ chế thị trường
nên ngân hàng đã tự lực về vốn và tìm kiếm thị trường đầu tư. Theo chủ trương
này ngân hàng đã mở rộng thêm các phòng giao dịch để tiến hành nhanh chóng mở
rộng mạng lưới kinh doanh và bắt đầu hình thành hệ thống các chi nhánh ngân
hàng phục vụ người nghèo. Các hoạt động của ngân hàng được phát triển và ngày
càng đa dạng. Đồng thời ngân hàng cũng thực hiện khoán tài chính và bắt đầu thực
hiện kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế trong giai đoạn này.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ và ban lãnh đạo, trong những năm qua,

định
Phòng
kinh
doanh
Giám đốc
Phòng
hành
chính
Phòng tín
dụng
Phòng thẩm định: thực hiện thẩm định tính hiệu quả của các khoản vay các dự án
xin vay để tư vấn cho giám đốc và phòng tin dụng trong quyết định cho vay.
Phòng hành chính: thực hiện công tác xây dựng cơ bản, sửa chữa tài sản cố định,
mua sắm công cụ lao động, xử lí văn thư…
Với mô hình tổ chức như trên, ban lãnh đạo của ngân hàng có thể nắm bắt kịp thời
tình hình hoạt động kinh doanh của tất cả các chi nhánh quận và các phòng giao
dịch. Từ đó ban lãnh đạo sẽ có biện pháp chỉ đạo hợp lý, chính xác giải quyết
những vướng mắc trong quá trình hoạt động nhằm đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu
phát sinh.
1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng No&PTNT Thọ
Xuân.
Bảng 3: Tình hình nguồn vốn và dư nợ của ngân hàng No và PTNT Thọ
Xuân trong một số năm.
Đơn vị: tỷ đồng.
Năm 2007 2008 2009 2010
Nguồn vốn huy động
+ Nguồn vốn VNĐ
+ Nguồn vốn ngoại tệ
334
317

thế của mình trong hệ thống NHTM Việt Nam.
Qua các số liệu trên, có thể thấy tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngân hàng là khá
cao. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hàng năm hơn 50%, tốc độ tăng trưởng bình
quân của mức dư nợ hàng năm hơn 30%. Đây là tốc độ phát triển rất nhanh. Nó
chứng tỏ ngân hàng thực sự hoạt động có hiệu quả trong việc thu hút nguồn vốn
nhàn rỗi từ dân cư cũng như trong việc cấp tín dụng cho nền kinh tế.
2. Thực trạng nghiệp vụ kế toán trích lập qũy dự phòng rủi ro tại chi nhánh
ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân.
2.1. Tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân.
Trong những năm qua, ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân đã sử dụng tốt đồng vốn
huy động vào việc cho vay có hiệu quả. Khối lượng tín dụng ngày một tăng cả về
số lượng và chất lượng, phạm vi kinh doanh và đối tượng khách hàng không ngừng
được mở rộng. Nhờ vậy hoạt động tín dụng đã đem lại nguồn thu ổn định cho ngân
hàng.
Bảng 4: Tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng No&PTNT Thọ
Xuân qua một số năm.
Đơn vị tính: tỷ đồng
Thời điểm 2007 2008 2009
So sánh
2008/2007
So sánh
2009/2008
+/- %+/- +/- %+/-
Tổng dư nợ 157 200 278 +43 +27,3% +78 +39%
Chia theo thời
hạn:
+ Ngắn hạn
+Trung hạn
143
49

( Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh các năm 2007,2008,2009,2010 của ngân hàng No và
PTNT)
Từ 2007 đến nay, không chỉ dừng lại ở các khách hàng truyền thống và lĩnh vực
truyền thống, hoạt động cho vay của ngân hàng đã được mở rộng về cả phạm vi và
đối tượng khách hàng. Ngân hàng đã mở rộng đầu tư tín dụng cho mọi thành phần
kinh tế, chú trọng mở rộng cho vay trung dài hạn để hỗ trợ cho các doanh nghiệp
đổi mới thiết bị, mở rộng qui mô sản xuất. Qua các số liệu trên, có thể thấy, trong
ba năm gần đây, mức dư nợ của chi nhánh không ngừng tăng. Chỉ trong thời gian 2
năm mức dư nợ đã tăng gần gấp đôi. Trong đó, cho vay ngắn hạn vẫn là chủ yếu,
nhưng tỷ trọng cho vay trung dài hạn cũng ngày càng tăng trong tổng dư nợ. Tốc
độ tăng của dư nợ trung dài hạn là hơn hẳn so với dư nợ ngắn hạn. Cho vay bằng
VNĐ của chi nhánh vẫn là chính, nhưng cho vay bằng ngoại tệ cũng đang được
đẩy mạnh, với tốc độ tăng trưởng cao.
Vốn đầu tư tín dụng của ngân hàng được tập trung chủ yếu cho các dự án, phương
án thực sự có hiệu quả, không phân biệt thành phần kinh tế. Thời gian qua, ngân
hàng đã mở rộng phương thức cho vay đồng tài trợ với các NHTM quốc doanh,
NHTM cổ phần trên địa bàn, đồng thời mở rộng cho vay hộ sản xuất, cho vay sinh
hoạt đối với các tầng lớp dân cư với mức dư nợ lên tới hàng trăm tỷ đồng. Cùng
với sự tăng trưởng về số lượng tín dụng, chất lượng tín dụng của ngân hàng cũng
ngày càng tăng. Đó là do ngân hàng đã có nhiều biện pháp thích hợp như: qui trách
nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, từng bộ phận trong việc thẩm định tín dụng; theo
dõi chặt chẽ qui trình sử dụng vốn vay cũng như việc trả nợ của khách hàng; nâng
cao nhận thức của cán bộ tín dụng; thực hiện cơ chế khoán tài chính và tiền lương
cùng với sự chỉ đạo chặt chẽ; công tác kiểm tra kiểm soát được thực hiện thường
xuyên...
2.2. Sự cần thiết của dự phòng rủi ro trong hoạt dộng của chi nhánh ngân hàng
No&PTNT Thọ Xuân.
Hoạt động của ngân hàng No và PTNT Thọ Xuân cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro như
bất kì ngân hàng nào. Mặc dù các biện pháp đánh giá, quản lý rủi ro ngày càng
được hoàn thiện hơn, nhưng vẫn không thể loại bỏ hoàn toàn những rủi ro vốn có

tổ chức. Như vậy mặc dù có tài sản đảm bảo, ngân hàng cũng không thể hạn chế
triệt để rủi ro tín dụng.
Đối với nợ không có tài sản đảm bảo và con nợ không còn thì việc hoàn chỉnh hồ
sơ để trình chính phủ cho xoá nợ cũng gặp một số vướng mắc: một số đơn vị đã
giải thể hoặc tự tan rã từ lâu rất khó lấy xác nhận của cấp có thẩm quyền, một số
doanh nghiệp thực chất đã ngừng hoạt động và không có khả năng trả nợ ngân
hàng song chưa đủ thủ tục để tuyên bố phá sản hoặc giải thể...
Xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan nói trên, việc ngân hàng sử
dụng nguồn quỹ dự phòng để hạn chế những ảnh hưởng của việc mất vốn trở nên rất
quan trọng. Dự phòng rủi ro được trích lập dựa trên việc phân loại tài sản Có của ngân
hàng trở thành một nguồn quỹ cần thiết và chủ động của ngân hàng nhằm đảm bảo sự
an toàn trong hoạt động kinh doanh.
2.3. Tài khoản sử dụng trong việc trích lập dự phòng rủi ro tại ngân hàng.
Tài khoản loại 2:
Tài khoản 2051, 2061, 2111, 2121,....: Tài khoản nợ trong hạn và đã được gia hạn
nợ.
Tài khoản 2052, 2062, 2112, 2122,....: Tài khoản nợ quá hạn đến 180 ngày có khả
năng thu hồi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status