Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ TIẾN TRUNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ TIẾN TRUNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


Sinh ngày: 02 tháng 02 năm 1990 tại Đồng Nai
Tôi là học viên cao học khóa 17 của Trường Đại học Ngân hàng Thành phố
Hồ Chí Minh.
Tôi cam đoan luận văn: “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng thương mại Việt Nam” được thực hiện tại Trường Đại học Ngân
hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8 34 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Phan Thị Diệu Thảo
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sỹ tại bất cứ một
trường đại học nào. Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả
nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước
đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn
nguồn đầy đủ trong luận văn.
TP. HCM, ngày 20 tháng 11 năm 2019
Người cam đoan

Lê Tiến Trung


III

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc đến PGS. TS. Lê Phan Thị
Diệu Thảo đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Trường Đại học Ngân hàng Thành
phố Hồ Chí Minh đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá
trình đào tạo thạc sỹ.
Lời cuối, tôi xin gửi đến gia đình và những người bạn lời cảm ơn chân thành

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của NHTM ..................................................... 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................................. 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................. 20
3.1 Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................................. 20
3.2 Mô hình nghiên cứu ................................................................................................ 27
3.3 Dữ liệu nghiên cứu.................................................................................................. 31
3.4 Trình tự nghiên cứu ................................................................................................ 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ………………………………………………………………. 37
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................ 38
4.1 Khái quát thực trạng hoạt động của NHTM Việt Nam ........................................... 38


V

4.2 Thống kê mô tả biến ............................................................................................... 42
4.3 Phân tích sự tương quan giữa các biến và kiểm định đa cộng tuyến ...................... 45
4.4 Phân tích hồi quy .................................................................................................... 47
4.5 Thảo luận kết quả phân tích .................................................................................... 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 .................................................................................................. 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................ 61
5.1 Kết luận ................................................................................................................... 61
5.2 Khuyến nghị ............................................................................................................ 61
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo ................................................................. 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 .................................................................................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 74
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH MẪU CÁC NHTM ............................................................. 77
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................... 78
PHỤ LỤC 3: CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA 27 NHTM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 –
2018 ..................................................................................................................................... 88


Random Effects Model – Mô hình tác động ngẫu nhiên
Returns On Assets – Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
Returns On Equity – Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
Tổ chức tín dụng
Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thương mại cổ phần
Tỷ suất sinh lợi
Tự tương quan
Hiệp hội các nhà Đầu tư Tài chính Việt Nam
Vốn chủ sở hữu
Tổ chức thương mại thế giới

GLS
HQHĐ
HTNH
IMF
NHNN
NHTM
OLS
POLS
PSSSTĐ
REM
ROA
ROE
TCTD
TM TNHH MTV
TMCP
TSSL
TTQ
VAFI

hàng. Vì vậy, HTNH được xem như mạch máu của nền kinh tế.
Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương Mại thế giới, điều
này mở ra nhiều cơ hội phát triển cho HTNH Việt Nam nhưng cũng đòi hỏi các
NHTM cần có chiến lược kinh doanh hiệu quả và an toàn. Đứng trước xu hướng hội
nhập quốc tế và tự do hóa tài chính, sự gia nhập thị trường của các ngân hàng nước
ngoài cũng là một thách thức không nhỏ khiến các NHTM Việt Nam đang phải chịu
sức ép rất lớn. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước cũng đang diễn
ra ngày càng gay gắt.
Năm 2008, khủng hoảng kinh tế thế giới gây ra những tác động đến nền kinh
tế Việt Nam, dẫn tới sự thiếu ổn định trong hoạt động của các NHTM, các rủi ro
tiềm ẩn bắt đầu bộc lộ như nợ xấu tăng cao, sự mất cân bằng giữa cho vay và huy
động ngày càng lớn, khó khăn về thanh khoản, lợi nhuận giảm sút, các nhân sự cao
cấp của các NHTM thay đổi ngày càng nhiều … Những điều này đã cho thấy sự
thiếu hiệu quả trong hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Chính vì lẽ đó, HQHĐ của các NHTM Việt Nam luôn là vấn đề cần được
quan tâm. Thực tế cho thấy HQHĐ của các NHTM Việt Nam chưa tương xứng với
tiềm năng vốn có, các mục tiêu đạt được còn thấp so với kỳ vọng, thậm chí thời
gian gần đây còn bộc lộ nhiều yếu kém. Từ thực tế đó chứng tỏ hoạt động của các
NHTM hiện nay chưa thật sự hiệu quả.
Trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hoá, các doanh nghiệp Việt Nam
nói chung và HTNH Việt Nam nói riêng đang đứng trước tình thế cạnh tranh ngày
càng khốc liệt. Từ đó đòi hỏi các NHTM cần phải có sự đầu tư và chuẩn bị về chiến
lược để hoàn thiện mình hơn nếu không muốn bị loại bỏ.


2

Việc nghiên cứu chi tiết về HQHĐ đồng thời xem xét một cách tổng thể và
xác định những nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các NHTM hiện nay ở Việt Nam
là hết sức quan trọng và vô cùng thiết thực. Bởi vì, việc này sẽ hỗ trợ cho các nhà

đến HQHĐ của NHTM Việt Nam trong thời gian qua như thế nào?
- Những khuyến nghị nào để nâng cao HQHĐ của các NHTM Việt Nam?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: HQHĐ của các NHTM Việt Nam và các nhân tố ảnh
hưởng đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu vào nhóm 27 NHTM có quy mô
nhỏ, trung bình và lớn trong HTNH Việt Nam giai đoạn từ 2007 đến 2018.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn dữ liệu được sử dụng trong phân tích là các biến chỉ số tài chính mà tác
giả tính toán dựa trên số liệu thu thập từ bảng báo cáo tài chính, báo cáo thường
niên của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ 2007 – 2018 đã được kiểm toán. Ngoài
ra dữ liệu còn được thu thập từ website http://finance.vietstock.vn, http://cafef.vn, từ
NHNN, website của các NHTM đang nghiên cứu, Tổng cục thống kê, Bộ tài
chính… Dữ liệu sử dụng được so sánh và đối chiếu với nhiều nguồn khác nhau để
đảm bảo độ tin cậy, chính xác. Các ngân hàng được lựa chọn để phân tích là những
ngân hàng có quy mô nhỏ, trung bình, lớn và đa số các ngân hàng này có đầy đủ các
dữ liệu kinh tế được công bố chính thức mà tác giả cần nghiên cứu.
1.5.2 Phương pháp xử lý số liệu
Trong phạm vi bài viết, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
để đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố lên HQHĐ của NHTM Việt Nam. Cụ
thể, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Panels Data với các mô hình
tác động cố định (Fixed Effects Model), mô hình tác động ngẫu nhiên (Random
Effects Model). Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối
thiểu tổng quát (Generalized Least Square) để khắc phục khuyết tật nếu có và phân
tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến HQHĐ của NHTM.


4


hàng Việt Nam.


6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HQHĐ CỦA NHTM VÀ NGHIÊN
CỨU CÓ LIÊN QUAN
2.1 HQHĐ của NHTM
2.1.1 Khái niệm về HQHĐ
Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt
được từ quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai
mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của
doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu
quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động
kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định.
Theo quan điểm truyền thống hiệu quả kinh tế của một quá trình được định
nghĩa là biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí
bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có vai trò, chức năng đặc biệt
trong nền kinh tế. Kết quả hoạt động của ngân hàng có thể được đo lường, đánh giá
trên những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là
HQHĐ. HQHĐ của ngân hàng có thể được xem là kết quả về lợi nhuận do hoạt
động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết
hệ thống thì HQHĐ có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: Thứ nhất là khả năng
biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lợi hoặc giảm thiếu chi phí
để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác, thứ hai là xác suất hoạt
động an toàn của ngân hàng.
HQHĐ của ngân hàng đã là chủ đề lớn được thảo luận trong các nghiên cứu
trước đó. Khủng hoảng tài chính gần đây đã chứng minh tầm quan trọng của lĩnh

Khmaladze, 2003). Trong luận văn này, tác giả cũng lựa chọn nhóm chỉ tiêu phản
ánh khả năng sinh lợi (ROA và ROE) làm tiền đề cho việc đánh giá HQHĐ của các
NHTM.
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA – Return On Assets) phản ánh hiệu quả sử
dụng tài sản ở doanh nghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản. Chỉ tiêu
này cho biết một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản càng


8

lớn và ngược lại. Ngoài ra, ROA còn là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tác động
của đòn bẩy tài chính nhằm ra quyết định huy động vốn.
ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return On Equity) là chỉ tiêu
rất được các nhà đầu tư và cổ đông quan tâm. Khi xem xét ROE, các nhà quản trị
biết được một đơn vị vốn sở hữu đầu tư vào kinh doanh mang lại mấy đơn vị lợi
nhuận. ROE vừa liên quan đến chi phí lãi vay, vừa liên quan đến chi phí thuế thu
nhập doanh nghiệp, do đó nó được xem là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử
dụng VCSH dưới tác động của đòn bẩy tài chính. Trị số của ROE càng cao thể hiện
việc sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư, cho vay càng hiệu quả và ngược lại.
ROE = Lợi nhuận ròng / Vốn chủ sở hữu
2.2 Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Lý thuyết khả năng sinh lợi của NHTM
Theo các nghiên cứu về HQHĐ của các nghiên cứu trước trong nước và trên
thế giới thì dựa trên những lý thuyết cơ bản sau đây: lý thuyết quyền lực thị trường
(MP – Market Power); lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES – Efficient Structure); lý
thuyết danh mục đầu tư cân bằng.
Lý thuyết quyền lực thị trường (MP) có hai hướng tiếp cận chính đó là lý
thuyết cấu trúc (Structure) – hành vi (Conduct) – hiệu quả (Performance) (SCP) và

quy mô. Cũng theo Olweny và Shipho (2011) khẳng định rằng các NHTM lớn hơn
thì có chi phí sản xuất kinh doanh thấp hơn ngân hàng nhỏ, do đó có lợi nhuận cao
hơn nhờ vào tính kinh tế theo quy mô.
Lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng cung cấp cái nhìn toàn diện, sâu sắc
hơn so với hai lý thuyết nêu trên đối với việc nghiên cứu lợi nhuận và khả năng sinh
lợi của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng (Nzongang và Atemkengn,
2006). Nội dung chủ yếu của lý thuyết này là nhà đầu tư có thể tối thiểu hóa rủi ro
của thị trường đối với một mức lợi nhuận kỳ vọng nào đó thông qua việc đa dạng
hóa danh mục mà họ quyết định đầu tư. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và thành
phần kỳ vọng của danh mục đầu tư của NHTM chính là quyết định của ban quản trị
ngân hàng. Đa dạng hóa là tốt, nhưng đa dạng hóa một cách thái quá lại rất nguy
hiểm. Mục đích chính của đa dạng danh mục đầu tư là giảm thiểu tác động của giá
cả lên xuống do biến động thông thường hay suy thoái của thị trường trong dài hạn.


10

Bất cứ hành động thái quá nào cũng đều trở thành phản tác dụng. Rủi ro được xem
như là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại về tài chính. Để đạt được mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận của danh mục, nhà đầu tư phải đánh giá dựa trên hai yếu tố quan
trọng: đó là rủi ro và TSSL. Tất cả các quyết định đầu tư đều dựa trên hai yếu tố này
và những tác động của chúng đối với vốn đầu tư.
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận đo lường HQHĐ của các NHTM. Các lý
thuyết đều cho rằng HQHĐ của các NHTM chịu tác động của nhiều nhân tố bên
trong và bên ngoài. Và trên thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các lý
thuyết trên để đo lường các nhân tố tác động đến HQHĐ của ngân hàng. Tuy nhiên,
không một nghiên cứu nào liệt kê đầy đủ hay khẳng định được có bao nhiêu nhân tố
như vậy. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các nhân tố bên trong và bên ngoài
để giải thích cho sự thay đổi về HQHĐ của các NHTM. Các nhân tố bên trong được
lấy dựa trên khung phân tích CAMELS và bộ chỉ số theo chuẩn của IMF và dựa

phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức nhận tiền gửi (12 chỉ số cốt lõi và
13 chỉ số khuyến khích).
Đối với luận văn về HQHĐ của NHTM nghiên cứu chỉ quan tâm đến 12 chỉ số
cốt lõi của các tổ chức nhận tiền gửi. Từ những chỉ số này nghiên cứu kết hợp với
thực tiễn của Việt Nam để chọn ra những biến phổ biến cho mô hình. Dưới đây là
tổng hợp các chỉ số cốt lõi của tổ chức nhận tiền gửi:


12

Bảng 2.1. Tổng hợp chỉ số cốt lõi của tổ chức nhận tiền gửi
STT

Yếu tố

1
2

An toàn vốn

3

Chỉ số
Tỷ lệ vốn cấp 1 và cấp 2 so với tài sản điều chỉnh
theo trọng số rủi ro
Tỷ lệ vốn cấp 1 so với tài sản điều chỉnh theo trọng
số rủi ro
Nợ xấu ròng trên vốn
Nợ xấu trên tổng dư nợ


12

Tài sản thanh khoản trên nguồn vốn ngắn hạn
Độ nhạy cảm với rủi
ro thị trường

Trạng thái ngoại tệ ròng so với vốn
Nguồn: IMF (2011), NHNN Việt Nam

2.3 Các nghiên cứu có liên quan
2.3.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài
Dietricha và Wanzenried (2011) nghiên cứu nhân tố quyết định lợi nhuận
ngân hàng trước và trong cuộc khủng hoảng ở Thụy Sĩ từ 1999 – 2009 cho 453
NHTM. Tác giả sử dụng biến phụ thuộc là lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình
quân và lợi nhuận ròng trên tổng VCSH bình quân để đánh giá lợi nhuận ngân hàng.
Các biến độc lập được sử dụng trong bài nghiên cứu gồm: 12 biến ngân hàng cụ thể
(VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập trên chi phí, dự phòng rủi ro tín dụng trên
tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng tiền gửi hàng năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng của
thị trường, quy mô ngân hàng, tổng thu nhập từ lãi trên tổng thu nhập, tuổi ngân


13

hàng, hình thức sở hữu ngân hàng, quốc tịch, vùng miền, loại ngân hàng), 6 biến
kinh tế vĩ mô (thuế, tăng trưởng dân số, tăng trưởng GDP thực, LIBOR 6 tháng, vốn
hóa thị trường chứng khoán, tỷ lệ ngân hàng tập trung). Kết quả nghiên cứu cho
thấy, tác động tiêu cực của dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ đến lợi nhuận
là lớn hơn trong cuộc khủng hoảng. Hơn nữa, nếu dư nợ cho vay của ngân hàng
đang phát triển nhanh hơn so với thị trường thì sẽ tác động tích cực đến lợi nhuận, ít
nhất là trước cuộc khủng hoảng. Các biến kinh tế vĩ mô và các yếu tố ngành trong

khoản cho vay khách hàng. Trong khi đó, ROE có mối tương quan thuận với quy
mô ngân hàng và có mối tương quan nghịch với lãi suất thực. Công trình nghiên
cứu này là một trong những công trình nghiên cứu cơ bản nền tảng đối với nghiên
cứu đến đo lường HQHĐ của NHTM. Tuy nhiên nghiên cứu chưa làm rõ cơ cấu lợi
nhuận và chi phí của doanh nghiệp đặc biệt là thu nhập lãi ròng và thu nhập phi lãi.
Ali và cộng sự (2011) đã nghiên cứu các chỉ số tài chính và chỉ số kinh tế vĩ
mô tác động đến lợi nhuận của NHTM Pakistan giai đoạn 2006 – 2009. Các tác giả
sử dụng hai biến phụ thuộc là ROA và ROE. Nghiên cứu sử dụng 6 biến độc lập
bên trong là các chỉ số tài chính của các ngân hàng như quy mô ngân hàng, HQHĐ,
VCSH, rủi ro tín dụng, hiệu quả quản lý tài sản, cấu trúc danh mục đầu tư; 2 biến
độc lập đại diện cho các yếu tố kinh tế vĩ mô là tốc độ tăng trưởng và lạm phát. Dữ
liệu nghiên cứu là các NHTM tại Pakistan giai đoạn 2006 – 2009 bao gồm 88 mẫu
quan sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy ROA và ROE có mối quan hệ tương quan
thuận với hiệu quả quản lý tài sản và tốc độ tăng trưởng, ROA có mối tương quan
nghịch với VCSH, rủi ro tín dụng và lạm phát, ROE có mối tương quan nghịch với
biến HQHĐ. Nghiên cứu này phản ánh được ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô và nội
tại ngân hàng đến HQHĐ, tuy nhiên đo lường HQHĐ trong nghiên cứu này là hiệu
quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn song chưa nhắc đến cơ cấu lợi nhuận
của NHTM như lợi nhuận lãi ròng, lợi nhuận phi lãi.
2.3.2 Công trình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Việt Hùng (2008) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của
các NHTM ở Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2005, tác giả sử dụng cách tiếp cận
tham số (SFA -Stochastic frontier Appoach – Phương pháp phân tích hàm giới hạn
sản xuất ngẫu nhiên) và phi tham số (DEA - Data Envelopment Analysis – Phương
pháp phân tích màng bao dữ liệu) và mô hình kinh tế lượng Tobit để đánh giá


15

HQHĐ và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các NHTM ở Việt Nam.

16

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nêu trên về các nhân tố tác động đến
HQHĐ chủ yếu sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, có kết hợp nghiên cứu
định lượng thông qua các chỉ số tài chính nhưng các nghiên cứu này đều mang tính
chất chung cho toàn hệ thống NHTM hay từng khối NHTM. Có rất ít các công trình
nghiên cứu riêng cho từng ngân hàng cụ thể trong khi tuỳ thuộc vào năng lực tài
chính, khả năng quản trị điều hành, chất lượng sản phẩm dịch vụ … của chính từng
ngân hàng sẽ có tác động khác nhau đến HQHĐ kinh doanh. Các công trình nghiên
cứu đều có những cách tiếp cận vấn đề khác nhau và bằng các phương pháp khác
nhau, điều này đã tạo nên sự đa dạng về các nhân tố tác động và là nguồn tài liệu
tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu đi sau kế thừa phát huy.
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của NHTM
Theo như các bài nghiên cứu trước đây, hiện nay cũng có rất nhiều nghiên cứu
trên thế giới và trong nước nghiên cứu về HQHĐ của NHTM, có thể nói là có rất
nhiều nhân tố tác động đến HQHĐ của một tổ chức kinh tế nói chung và NHTM nói
riêng. Dựa vào cơ sở lý thuyết tại mục 2.2 và các nghiên cứu liên quan tại mục 2.3
và theo tình hình thực tế của Việt Nam, luận văn có thể chia làm hai nhóm nhân tố
tác động đến HQHĐ của các NHTM: nhóm các nhân tố bên trong và nhóm các
nhân tố bên ngoài.
2.4.1 Các nhân tố bên ngoài
Môi trường kinh tế: Đối với ngành ngân hàng, hoạt động kinh doanh trong
từng thời kỳ luôn chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi môi trường kinh tế. Đây là nhân tố
bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh mà các ngân hàng không chủ động
kiểm soát được. Thông qua các nhân tố như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi
suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát,... cho thấy được nền kinh
tế đang tăng trưởng, phát triển hay suy thoái. Những diễn biến của môi trường kinh
tế bao giờ cũng có ảnh hưởng tiềm tàng đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Do vậy, hoạt động ngân hàng luôn lệ thuộc nhiều vào các hoạt động kinh tế chung
của nền kinh tế xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status