PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 67

PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN QUỐC
TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
a. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được tổ chức, thành lập và hoạt động
dưới sự kiểm soát, quản lý, điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi
của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng tiền gửi đó để cho vay đầu tư và
cung ứng các dịch vụ thanh toán khác nhằm thu lợi nhuận trên cơ sở đảm bảo khả
năng thanh khoản.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất
trong nền kinh tế, nó không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hóa như các doanh nghiệp thông thường khác, nhưng nó lại tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình này được diễn ra một cách trôi chảy, liên tục, góp phần phát
triển kinh tế xã hội.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thưong mại gắn với hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế. Thông qua các hoạt động của mình, Ngân
hàng thương mại thực hiện điều tiết vi mô đối với nền kinh tế bằng cách tiếp nhận
hoặc cung ứng tiền mặt cho nền kinh tế khi có nhu cầu, đảm bảo cho nền kinh tế
thường xuyên có một lượng tiền cung ứng hợp lý đồng thời làm tăng khả năng
thanh toán không dùng tiền mặt, giảm chi phí lưu thông.
Ngày nay, hoạt động của Ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng, nền
kinh tế càng hiện đại thì hoạt động của Ngân hàng thương mại càng phát triển hơn.
Bất cứ Ngân hàng thương mại nào cũng phải có đầy đủ ba nhóm hoạt động chính:
các hoạt động huy động vốn, các hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động trung
gian thanh toán. Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu ngày càng phức tạp của khách hàng,
các Ngân hàng thương mại còn có một số hoạt động và dịch vụ khác nữa.
+ Các hoạt động huy động vốn.
Do kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên ngân hàng trước hết phải có vốn. Khi mới

Trên đây là các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Nếu như các
hoạt động huy động vốn làm ngân hàng phải mất chi phí thì các hoạt động sử dụng
vốn sau đây sẽ đem lại doanh thu cho Ngân hàng.
+ Các hoạt động sử dụng vốn.
Ngân hàng có các hình thức sử dụng vốn sau:
Một là: hoạt động ngân quỹ.
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động liên quan đến chi trả hàng ngày cho khách hàng.
Ngân hàng luôn phải giữ lại một khoản tiền nhất định (gọi là tiền tại quỹ) để chi
trả, và ngân hàng cũng có thể thanh toán với khách hàng bằng tiền gửi ở Ngân
hàng Nhà nước là tiền dự trữ bắt buộc hay tiền gửi thanh toán. Các khoản này kém
sinh lời nhất, thậm chí không sinh lời, chỉ nhằm đáp ứng tính thanh khoản mà thôi.
Hai là: hoạt động tín dụng.
Đây là một nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng thương mại. Hầu hết vốn của
ngân hàng đều được sử dụng vào hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng ngoài
hình thức cho vay còn có các hình thức khác như bảo lãnh hay chiết khấu.
Ba là: hoạt động đầu tư.
Trong trường hợp cho vay không hết, ngân hàng có thể chủ động tìm nơi đầu tư để
thu lợi nhuận đồng thời giúp phân tán rủi ro. Ngân hàng có thể đầu tư trực tiếp vào
kinh doanh như đầu tư xây dựng dự án hoặc công trình. Ngoài ra ngân hàng cũng
có thể đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán bằng cách mua tín phiếu,
trái phiếu hay cổ phiếu của các công ty.
Trong ba hoạt động trên, hoạt động cho vay có độ rủi ro cao nhất nhưng lại là
nguồn thu nhập lớn của ngân hàng, còn hoạt động ngân quỹ an toàn nhất nhưng
hầu như không sinh lời. Vì vậy để vừa đảm bảo tính sinh lời lại vừa đảm bảo tính
thanh khoản, ngân hàng phải kết hợp ba hoạt động sử dụng vốn trên một cách hợp
lý.
+ Hoạt động trung gian thanh toán.
Đây là nghiệp vụ đặc trưng của Ngân hàng thương mại so với các trung gian tài
chính khác. Các trung gian tài chính khác như công ty tài chính, công ty bảo
hiểm… vẫn có thể cho vay, đầu tư hay nhận tiền gửi có kỳ hạn trên một năm (có

nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng,
cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, tư vấn, bảo quản…
Các hoạt động của Ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau,
trong đó hoạt động huy động vốn là cơ sở để thực hiện hoạt động sử dụng vốn.
Hoạt động sử dụng vốn làm tăng khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại.
Trên cơ sở những hoạt động sử dụng vốn (như hoạt động tín dụng), Ngân hàng
thương mại có thể thực hiện được các hoạt động trung gian thanh toán và tới lượt
nó, hoạt động trung gian thanh toán sẽ làm tăng nguồn vốn và mở rộng việc sử
dụng vốn vì hoạt động trung gian thanh toán có thể coi vừa là hoạt động huy động
vốn vừa là hoạt động sử dụng vốn.
Trên đây là khái quát toàn bộ các hoạt động của một Ngân hàng thương mại. Theo
đối tượng và giới hạn được nghiên cứu trong luận văn này, hoạt động thanh toán
quốc tế của Ngân hàng thương mại sẽ được đi sau hơn.
b. H oạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại.
Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghĩa vụ và các yêu cầu về tiền tệ phát sinh
từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế
quốc tế, giữa các doanh nghiệp, các cá nhân của các quốc gia khác nhau để kết
thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức
chuyển tiền hay bù trừ trên tài khoản tại các ngân hàng.
Hay nói cách khác, thanh toán quốc tế là việc phản ánh sự vận động có tính độc lập
tương đối của giá trị trong quá trình chu chuyển tư bản và hàng hoá giữa các quốc
gia khác nhau, do không cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ của các bên tại một
thời điểm nhất định.
Khác với thanh toán trong phạm vi một nước, thanh toán quốc tế thường gắn với
việc trao đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác. Đồng tiền
nội địa với chức năng là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán trong phạm
vi một quốc gia sẽ không vượt ra khỏi giới hạn của nó được nếu như hai bên liên
quan trong hợp đồng không có sự thoả thuận với nhau. Bởi vì khi ký kết hợp đồng
thương mại, tín dụng... các bên phải đàm phán thống nhất đồng tiền nào được sử
dụng để thanh toán giao dịch, nó có thể là đồng tiền của nước người mua, tiền của

đồng ngoại thương. Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt
động thanh toán quốc tế, Ngân hàng thương mại đã đóng góp rất nhiều cho khách
hàng, cho nền kinh tế cũng như cho chính bản thân Ngân hàng thương mại.
+ Đối với khách hàng:
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng
thương mại giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến
hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí.
Tham gia hoạt động thanh toán quốc tế, quyền lợi của khách hàng được đảm bảo
hơn, do khách hàng được ngân hàng tư vấn để lựa chọn các phương thức thanh
toán, kỹ thuật thanh toán cũng như đồng tiền thanh toán nhằm giảm thiểu rủi ro,
tạo ra sự an tâm cho khách hàng trong giao dịch mua bán với nước ngoài.
Trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, nếu khách hàng không đủ khả năng
tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay để thanh toán
hàng nhập bằng cách bảo lãnh mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu, đáp ứng
nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Qua việc thực hiện thanh toán
quốc tế, ngân hàng có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
xuất nhập khẩu để có những tư vấn cho khách hàng và những điều chỉnh về chiến
lược khách hàng.
+ Đối với nền kinh tế.
Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động kinh tế
đối ngoại. Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát
triển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá, tăng nhanh tốc độ chu
chuyển của vốn, góp phần phát triển kinh tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế, giảm bớt các chi phí trung gian, đồng thời hoạt động thanh toán
quốc tế đã thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam bằng các nghiệp vụ
kiều hối, chuyển tiền đến và L/C xuất khẩu.
+ Đối với bản thân Ngân hàng thương mại.
Thanh toán quốc tế giúp ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài
trợ xuất nhập khẩu, phát triển các nghiệp vụ liên quan như kinh doanh ngoại tệ,

chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu,
người cung ứng dịch vụ...) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển
tiền do khách hàng yêu cầu.
Các bên tham gia:
• Người trả tiền hay người chuyển tiền (người mua, người mắc nợ, người
đầu tư, người chuyển kinh phí ra ngoài nước, kiều bào chuyển tiền về
nước...): Là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài.
• Người hưởng lợi (người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư...) hoặc
là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.
• Ngân hàng chuyển tiền: Là ngân hàng thực hiện lệnh của người yêu cầu
chuyển tiền, thường là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.
• Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền: Thường là ngân hàng ở
nước người hưởng lợi.
Chi phí chuyển tiền do người chuyển tiền hoặc người trả tiền thanh toán. Ngân
hàng chuyển tiền được hưởng các chi phí đó. Tiền chuyển có thể là đồng tiền của
nước trả tiền, hoặc người hưởng lợi, hoặc một nước thứ ba.
* Trình tự tiến hành nghiệp vụ:
(1) Giao dịch thương mại
(2) Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc bằng điện) cùng với ủy
nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại ngân hàng )
(3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng.
(4) Ngân hàng chuyển tiền cho người hưởng lợi
Ưu nhược điểm của phương thức này:
- Ưu điểm: Thủ tục hết sức đơn giản, không có chứng từ phức tạp, rườm rà,
người mua và người bán không phải tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau.
- Nhược điểm: Độ an toàn trong thanh toán không cao, không đảm bảo
quyền lợi cho người bán, hàng đã chuyển nhưng việc trả tiền phụ thuộc vào
thiện chí của người mua. Trong trường hợp người mua chuyển tiền trước khi
giao hàng mà vì một lý do nào đấy, việc giao hàng của người bán chậm trễ,
hoặc không đúng theo yêu cầu thì người mua sẽ ứ đọng vốn. Vì vậy, phương

+ Ngân hàng nhờ thu: Là ngân hàng thu tiền từ người mua, thường là ngân
hàng phục vụ bên mua đồng thời là ngân hàng đại lý của ngân hàng người bán.
• Trình tự tiến hành:

(1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập
một hối phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của mình đòi
tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu.
(2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi thư ủy thác nhờ thu kèm hối phiếu cho
ngân hàng đại lý của mình tại nước người mua nhờ thu tiền.
(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu là trả tiền
ngay) hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu mua chịu).
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp
nhận hối phiếu thì ngân hàng sẽ giữ hối phiếu hoặc gửi lại cho người bán.
NH đại lýNH Bên bán
gửi hàng và chứng từ
Người muaNgười bán
Khi đến hạn thanh toán thì ngân hàng sẽ đòi tiền của người mua và thực
hiện việc chuyển tiền như trên.
• Ưu nhược điểm của phương pháp này:
Phương pháp nhờ thu không kèm chứng từ tuy có ưu điểm là thanh toán tương đối
nhanh, thực hiện đơn giản nhưng có nhược điểm là không đảm bảo quyền lợi cho
người bán vì việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh
toán, do đó người mua có thể nhận hàng mà không trả tiền hay trả tiền chậm. Đối
với người mua áp dụng phương thức này cũng có bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm
hơn chứng từ thì người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng
của người bán có đúng theo hợp đồng hay không.
Như vậy, với phương pháp này, tính an toàn đối với cả người xuất khẩu và nhập
khẩu đều thấp, tốc độ thanh toán chậm. Do vậy, nó ít được sự dụng trong thanh
toán quốc tế, có chăng chỉ là thanh toán các chi phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi
tức... hoặc khi hai bên mua và bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng nội bộ công

hợp hàng hoá không giao đúng như mô tả chứng từ hoặc không đúng trong hợp
đồng. Còn về phía nhà xuất khẩu thì phải rất tin tưởng vào khả năng và thiện chí
thanh toán của bạn hàng nước ngoài vì các ngân hàng tham gia hoàn toàn không
chịu trách nhiệm thanh toán. Nếu người mua từ chối bộ chứng từ thì người xuất
khẩu phải chịu hết tất cả chi phí chuyên chở hàng hoá và cả mọi rủi ro trên đường
vận chuyển .
Đối với D/A thì người xuất khẩu chịu rủi ro nhiều hơn so với nhờ thu D/P vì khi
đến hạn trả tiền của hối phiếu, người mua có thể không trả tiền vì một lý do nào đó
trong khi đã nhận hàng. Thời gian thanh toán bị kéo dài do phải phụ thuộc vào thời
gian chứng từ luân chuyển từ ngân hàng bên xuất khẩu đến ngân hàng bên nhập
khẩu nên người xuất khẩu phải mất khá lâu mới thu được tiền còn người nhập khẩu
thì có lợi hơn.
Tóm lại, với phương thức này, việc ngân hàng khống chế các chứng từ hàng hoá
khiến cho quyền lợi của người xuất khẩu cũng được bảo đảm hơn phương thức nhờ
thu phiếu trơn và chuyển tiền, thời gian thanh toán thì ngắn hơn và chi phí ít hơn so
với phương thức thanh toán bằng thư tín dụng. Do vậy, phương thức này được sử
dụng trong phương thức xuất nhập khẩu với những hợp đồng có giá trị nhỏ và
thanh toán dịch vụ đối với các khách hàng quen và tin cậy.
c. Phương thức tín dụng chứng từ (L/C)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng (ngân
hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín
dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi của thư tín
dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi
người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ phù hợp với những quy định
đề ra trong thư tín dụng. Một công cụ vô cùng quan trọng không thể thiếu được
trong phương thức tín dụng chứng từ là thư tín dụng, nếu không mở được thư tín
dụng thì phương thức thanh toán này cũng không được xác lập.
Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) là một bản cam kết dùng trong thanh toán,
trong đó một ngân hàng (ngân hàng phục vụ người nhập khẩu) theo yêu cầu của
người nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến cho ngân hàng ở nước ngoài (ngân

- Người xin mở thư tín dụng là người mua, người nhập khẩu hàng hoá
hoặc là người mua ủy thác cho một người khác.
- Ngân hàng mở thư tín dụng là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu,
nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu
- Người hưởng lợi thư tín dụng là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ
người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.
1.2.2 Các hình thức thư tín dụng chủ yếu
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có ưu việt hơn hẳn những phương thức
thanh toán quốc tế khác. Tuy vậy, hiệu quả của phương thức này sẽ được thể hiện
đầy đủ hơn khi ta biết lựa chọn loại Thư tín dụng phù hợp với yêu cầu của từng
tình huống cụ thể trong mối quan hệ thương mại quốc tế nảy sinh giữa các bên.
Theo quy ước quốc tế, Thư tín dụng bao gồm nhiều loại. Có thể phân biệt chúng
dưới các giác độ khác nhau dưới đây:
Căn cứ vào tính chất: có các loại Thư tín dụng sau:
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): là thư tín dụng mà sau khi L/C
được mở thì người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hàng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ
bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của người hưởng lợi L/C.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): là loại Thư tín dụng mà sau
khi được mở thì người yêu cầu mở Thư tín dụng sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ
sung hay huỷ bỏ những nội dung của nó nếu không được sự đồng ý của người
hưởng Thư tín dụng . Để đảm bảo được tính chất và tác dụng của Thư tín dụng ,
ngày nay hầu hết Thư tín dụng được mở theo hình thức không huỷ ngang.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Irrevocable confirmed L/C): là
loại Thư tín dụng không thể huỷ ngang được một ngân hàng thứ ba đứng ra đảm
bảo thanh toán bên cạnh ngân hàng phát hành Thư tín dụng. Loại Thư tín dụng này
thường được dùng khi hai bên mua-bán chưa có quan hệ tín nhiệm nhau, người bán
chưa tin tưởng vào uy tín của người mua cũng như chưa tin tưởng vào uy tín của
ngân hàng phát hanh.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có thể chuyển nhượng (irrevocable

dụng chuyển nhượng.
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại Thư tín dụng không thể huỷ ngang
chỉ có hiệu lực khi có một Thư tín dụng đối ứng với nó cũng được mở. Loại Thư
tín dụng thường được sử dụng khi hai bên mua bán có quan hệ mua bán hàng đổi
hàng hoặc gia công hàng hoá.
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại Thư tín dụng không thể huỷ
ngang, sau khi sử dụng xong hoặc đã hết hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như
cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị được thực hiện hoàn
tất. Thư tín dụng tuần hoàn thường được sử dụng khi các bên tin cậy lẫn nhau, mua
hàng thường xuyên theo định kỳ.
- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại Thư tín dụng có điều khoản
đặc biệt, trong đó người hưởng Thư tín dụng thông qua ngân hàng phát hành đồng
ý ứng trước một số tiền nhất định cho người hưởng trước khi họ xuất trình đầy đủ
chứng từ hợp lệ theo đúng thời gian quy định. Loại Thư tín dụng này thường được
sử dụng trong quan hệ mua bán giữa công ty mẹ-con, tài trợ cho người bán để
chuẩn bị hàng hoá.
- Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C) là loại Thư tín dụng do ngân hàng của
người xuất khẩu phát hành trong đó cam kết với người nhập khẩu là sẽ thanh toán
cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
theo như Thư tín dụng đã quy định.
1.2.3 Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
(2)
Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu
Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
Người nhập khẩu
Người xuất khẩu
(5)
(6)
(4)
(1)

NHỮNG CHỨNG TỪ CHỦ YẾU THEO THƯ TÍN DỤNG BAO GỒM:
(1) Hối phiếu (Draft): theo công ước quốc tế về Hối phiếu (Uniform Law for Bills
of Exchange – ULB) năm 1930, Hối phiếu được hiểu là một tờ lệnh trả tiền vô điều
kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối
phiếu, hoặc đến một ngày nhất định ghi trên hối phiếu phải trả một số tiền nhất
định cho một người nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc
trả cho người cầm hối phiếu.
(2) Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice): là chứng từ do người bán lập để
đòi tiền người mua, chứa đựng những thông tin quan trọng về chuyến hàng như tên
hàng, số lượng, đơn giá, giá trị thanh toán... Đây được coi là một trong những
chứng từ quan trọng nhất, không thể thiếu trong những chứng từ xuất trình.
(3) Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin): là chứng từ chỉ rõ nguồn gốc, xuất
xứ của hàng hoá xuất khẩu. Chứng từ này thường do Phòng Thương mại cấp trên
cơ sở kê khai của người bán hoặc một bên trung gian nào đó.
(4) Chứng nhận bảo hiểm (Certificate of Insurance): Chứng từ này do công ty Bảo
hiểm hoặc đại lý của họ lập ra để bảo hiểm cho lô hàng xuất nhập khẩu dựa trên
hợp đồng bảo hiểm và tuỳ thuộc vào điều kiện giao hàng.
(5) Chứng từ vận tải:
Vận đơn đường biển (Bill of Lading), vận đơn hàng không (Airway Bill) hoặc vận
đơn đường sắt (Railway Bill): là chứng từ được hãng vận tải phát hành, là bằng
chứng về việc giao hàng của người bán. Đối với phương thức giao hàng bằng
đường biển thì vận đơn được xem là chứng từ quan trọng nhất, vừa là bằng chứng
xác nhận hợp đồng chuyên chở, vừa là biên lai của Người chuyên chở xác nhận đã
nhận hàng, vừa là chứng từ xác thực quyền sở hữu đối với hàng hoá. Chứng từ vận
tải thường có những nội dung như tên tàu, số vận đơn, ngày phát hành vận đơn...
(6) Phiếu đóng gói (Packing list): nội dung của chứng từ này thường mô tả chi tiết
về chuyến hàng đã giao như số Container, trọng lượng tịnh, trọng lượng cả bì, ...
(7) Các chứng từ khác: như phiếu khử trùng, kiểm định thực vật, giấy chứng nhận
chất lượng, số lượng...
Việc lập được một bộ chứng từ hoàn hảo (sạch) theo thư tín dụng phải theo một

vào việc người mua đã nhận được hàng hoá hay chưa, hàng hoá có đúng quy cách
hay không. Do đó, quyền lợi của người bán sẽ được đảm bảo nếu họ xuất trình
được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều khoản, điều kiện của thư tín
dụng.
b) Vai trò của ngân hàng trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng chứng
từ.
Đối với nhà nhập khẩu:
Khi nhà nhập khẩu chưa có uy tín với nhà xuất khẩu, nhà xuất khẩu chắc chắn
không muốn giao hàng trước khi nhận được tiền. Ngược lại, nhà nhập khẩu khi
chưa nhận được hàng cũng không hề muốn trả tiền trước, một mặt sẽ có rủi ro nếu
nhà xuất khẩu không giao được hàng, mặt khác vốn sẽ bị chiếm dụng trong một
thời gian dài, nhất là những hàng mà nhà xuất khẩu phải sản xuất rồi mới giao
được hàng. Sử dụng phương thức thanh toán quốc tế là tín dụng chứng từ sẽ giải
quyết được mâu thuẫn đó. Ngân hàng, bằng uy tín của mình sẽ đứng ra cam kết
thanh toán. Nhà nhập khẩu sẽ được tư vấn về những điều khoản trong hợp đồng để
xây dựng một Thư tín dụng chặt chẽ, có lợi cho nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu
cũng kiểm soát được hàng hoá thông qua việc nhà xuất khẩu sẽ phải xuất trình
những chứng từ chứng nhận xuất xứ, kiểm định chất lượng do những cơ quan
kiểm định độc lập phát hành. Ngân hàng sẽ kiểm tra bộ chứng từ đó có phù hợp
với thông lệ quốc tế và luật pháp của từng nước hay không, việc kiểm tra này đòi
hỏi kinh nghiệm và sự chuyên nghiệp cao. Ngoài ra, nếu nhà nhập khẩu đã có uy
tín với ngân hàng thì thường các ngân hàng sẽ cấp một hạn mức miễn ký quỹ mở
Thư tín dụng cho khách hàng. Đây là một trong những ưu việt chỉ có được khi áp
dụng phương thức tín dụng chứng từ. Nhà nhập khẩu bằng việc tận dụng uy tín của
ngân hàng đã tránh được việc ứ đọng vốn.
Đối với nhà xuất khẩu:
Chính từ đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ là ngân hàng chỉ làm việc
dựa trên chứng từ, nên khi nhà xuất khẩu đã giao hàng và tập hợp được bộ chứng
từ hoàn hảo, việc được thanh toán là chắc chắn. Dù trên đường hàng hoá có gặp rủi
ro thì việc hai bên giải quyết với bên bảo hiểm cũng không ảnh hưởng tới việc

nhánh sẽ tiết kiện được chi phí, thời gian thanh toán nhanh chóng và an toàn, đó là
tác nhân thu hut khách hàng đến với ngân hàng nhiều hơn vì quyền lợi của họ được
đảm bảo.
Nhân tố thứ hai là uy tín và tiềm lực tài chính của Ngân hàng thương mại trong
nước và quốc tế. Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đặc biệt và
nhạy cảm, uy tín và tiềm lực tài chính sẽ tạo được lòng tin với khách hàng, thu hút
được khách hàng tới với ngân hàng, từ đó lại càng củng cố cho uy tín và tiềm lực
của ngân hàng. Đặc biệt với phương thức tín dụng chứng từ, uy tín của ngân hàng
càng đóng vai trò quan trọng. Thư tín dụng là một cam kết của ngân hàng phát
hành cung cấp cho người hưởng, do đó uy tín của ngân hàng sẽ trực tiếp ảnh hưởng
đến quá trình thực hiện của thư tín dụng. Một thư tín dụng do một ngân hàng uy tín
phát hành sẽ dễ dàng được người hưởng chấp nhận, không đòi hỏi sự xác nhận của
ngân hàng thứ hai, giảm các chi phí không cần thiết cho người nhập khẩu và người
xuất khẩu, gây lòng tin cho khách hang, từ đó sẽ thu hút được nhiều hơn khách
hàng đến với ngân hàng, phát triển được các hoạt động của ngân hàng nói chung
cũng như phương thức thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng. Uy tín của ngân
hàng được đánh giá qua các chỉ tiêu như khả năng thanh toán, kỹ thuật xử lý
nghiệp vụ, quy mô của nguồn vốn huy động và cho vay, khả năng đáp ứng các
phương tiện thanh toán, sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, thái độ phục vụ của
đội ngũ cán bộ ngân hàng.
Mạng lưới ngân hàng đại lý cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới nghiệp vụ tín
dụng chứng từ của ngân hàng thương mại. Các thư tín dụng mở ra được truyền từ
ngân hàng mở đến ngân hàng thông báo đều phải thông qua mạng SWIFT và giữa
hai ngân hàng phải có trao đổi mã khóa SWIFT để đảm bảo tính chân thực của thư
tín dụng. Nếu giữa hai ngân hàng không có trao đổi mã khóa SWIFT thì sẽ phải
thông qua ngân hàng trung gian. Như vậy rõ ràng với những ngân hàng mở thư tín
dụng có hệ thống ngân hàng đại lý rộng thì thư tín dụng mở ra sẽ tới tay người
hưởng nhanh hơn, giảm được chi phí trung gian. Mặt khác khi thanh toán thư tín
dụng, nếu ngân hàng chiết khấu có mạng lưới ngân hàng đại lý rộng sẽ đảm bảo
nhận được tiền từ ngân hàng mở thư tín dụng mà không phải qua nhiều ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status