TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Ngân hàng Thương mại và vai trò của Ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm NHTM
Nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi
sự ra đời của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để tăng cường
quản lý, hướng dẫn hoạt động của các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận
lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá
nhân. Việc đưa ra khái niệm niệm về NHTM là hết sức cần
Luật tín dụng do Quốc hội khóa X qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997, định
nghĩa : Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định nghĩa : Tổ
chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và
các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng
với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ
thanh toán. [1]
Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động Ngân hàng vì khái niệm này
đã được định nghĩa trong Luật Ngân hàng Nhà nước, cũng do Quốc hội khóa X thông
qua cùng ngày.Luật Ngân hàng Nhà nước định nghĩa: Hoạt động Ngân hàng là một hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền
gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dich vụ thanh toán.
2.1.2. Chức năng của NHTM
Chức năng trung gian tài chính gồm trung gian tín dụng và trung gian thanh
toán.
+ Trung gian tín dụng:
Đây là chức năng cơ bản và đặc trưng nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Một mặt NHTM huy động và tập
trung nguồn vổn trong nền kinh tế như vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, tiền tiết
kiệm của dân cư để hợp thành nguồn vốn cho vay. Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn đã
huy động được, NHTM cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế
Chính với chức năng này NHTM góp phần quan trọng vào việc điều hòa lượng
tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền, kiềm chế lạm phát.[1]
chính sách tiền tệ: chính sách chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW đối với
NHTM: lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trường tự do. Thì các Ngân hàng
đóng vai trò quan trọng trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia. Các NHTM có
thể thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng hoặc bằng
các nghiệp vụ trên thị trường mở qua đó góp phần chống lại lạm phát và ổn định sức
mua của nội tệ.
Thứ tư: NHTM bằng hoạt động của mình đã thực hiện việc phân bổ vốn giữa các
vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng khác nhau
trong một quốc gia. Các vùng kinh tế khác nhau thì có sự phát triển khác nhau. Hiện
tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn một cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thường xuyên.
Do đó vấn đề đặt ra là làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính
hoạt động điều tiết chuyển vốn trong nội bộ Ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này.
Thứ năm: NHTM là cầu nối giữa nền kinh tế các nước và thế giới, tạo điều kiện
cho việc hòa nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và kinh tế
thế giới. với xu hướng toàn cầu hóa nề kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới
cùng với chính sách mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia
trên thế giới thì hoạt động của các NHTM được mỡ rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng
hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước. Với hoạt động rộng khắp của
mình, các Ngân hàng có khả năng được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ chức nước
ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách
dễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh.
2.1.4. Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Hoạt động huy động vốn.
Hoạt động tín dụng.
Hoạt động dịch vụ thanh toán.
Hoạt động ngân quỹ.
Các hoạt động khác như góp vốn,mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ,
kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và
bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến
- Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng
phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của
công tycho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của Chính phủ về tổchức và hoạt
động của công ty cho thuê tài chính.
2.1.4.3. Hoạt động dịch vụ và thanh toán ngân quỹ
- Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua
Ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực
hiện thanh toán giữa các Ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, NHTM
phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy
trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra, chi nhánh của NHTM
được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà Nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của
chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động
sau:
+ Cung cấp các phương tiện thanh toán
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
+ Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ.
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
+ Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên
Ngân hàng trong nước.
+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
2.1.4.4. Các hoạt động khác
- Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và
cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động
khác, bao gồm:
+ Góp vốn và mua cổ phần – NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ
để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nước
theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, NHTM còn được góp vốn, mua cổ phần và liên
doanh với Ngân hàng nước ngoài để thành lập Ngân hàng liên doanh.
Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời.
Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Do đặc điểm riêng của mình tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn các hình
thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với đặc điểm tín dụng
bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực
nào của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Vì vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở
thành hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có.
Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng Ngân hàng giữa một bên là Ngân hàng
với một bên là hộ sản xuất hàng hóa. Hộ sản xuất phải được thừa nhận là chủ thể trong
quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanh
hiệu quả, có tài sản thế chấp thì mới có khả năng và tư cách để tham gia quan hệ tín
dụng với Ngân hàng. Đây cũng chính là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều
kiện vay vốn của Ngân hàng.
2.2.2. Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng
Chủ thể tham gia gồm một bên là Ngân hàng và bên còn lại là các chủ thể khác
trong nền kinh tế, như các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, vv…
Vốn tín dụng cấp chủ yếu là tiền tệ, cũng có thể là tài sản.
Thời hạn của tín dụng Ngân hàng rất linh hoạt, có thể là ngắn hạn, trung hạn,
hoặc dài hạn.
Công cụ của tín dụng Ngân hàng rất đa dạng, có thể là kỳ phiếu, trái phiếu Ngân
hàng, các hợp đồng tín dụng, vv…
Tín dụng Ngân hàng là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp, trong đó
Ngân hàng là trung gian tín dụng giữa những người tiết kiệm và những người cần vốn để
sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng.
Mục đích của tín dụng Ngân hàng chủ yếu là nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh
hoặc tiêu dùng qua đó thu được lợi nhuận.
2.2.3. Nguyên tắc cơ bản của tín dụng Ngân hàng
- Nguyên tắc 1 : Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ theo đúng thoả
thuận. Đây là nguyên tắc cơ bản chủ đạo trong quan hệ tín dụng. Khi Ngân hàng cấp
phát tiền vay, Ngân hàng phải có cơ sở tin rằng khách hàng có khả năng trả nợ một cách
loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, mục đích của loại cho
vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự án đầu tư.
2.2.4.3. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cấm cố
hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để
quyết định cho vay.
Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay
như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
2.2.4.4. Dựa vào phương thức cho vay
Cho vay theo món vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng.
2.2.4.5. Dựa vào phương án hoàn trả nợ vay
Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo
hạn.
Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài
chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
2.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHTM
2.2.5.1. Các nhân tố chủ quan
Hoạt động cho vay Ngân hàng ngày càng tăng cường phụ thuộc phần lớn vào các
nhân tố tạo nên sức mạnh của Ngân hàng.
- Nguồn vốn của Ngân hàng:
Một Ngân hàng cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh thì phải có vốn. Hai nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng là vốn tự có và vốn
huy động.
NHTM nằm trong hệ thống Ngân hàng chịu sự tác động của chính sách tiền tệ,
chịu sự quản lý của Ngân hàng Trung Ương và tuân thủ các qui định của luật Ngân hàng.
Một Ngân hàng chỉ được huy động một số vốn gấp 20 lần số vốn tự có. Điều đó có
nghĩa là nếu vốn tự có càng lớn, khả năng được phép huy động vốn càng cao, và Ngân
quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút được nhiều khách
hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng
- Thông tin tín dụng.
Khó có thể tưởng tượng nổi một doanh nghiệp trong môi trường luôn biến động
và cạnh tranh gay gắt như ngày nay mà không cần đến thông tin. Thông tin trở thành vấn
đề thiết yếu, không thể thiếu được với mọi doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng.
Trong hoạt động cho vay, Ngân hàng cho vay chủ yếu dựa trên sự tin tưởng đối với
khách hàng. Mức độ chính xác của sự tin tưởng này lại phụ thuộc vào chất lượng thông
tin mà Ngân hàng có được.
Để ngày càng cường hoạt động cho vay đạt hiệu quả, chất lượng cao, NHTM
phải nắm bắt những thông tin cả bên trong và bên ngoài của Ngân hàng (những thông tin
bên ngoài gồm có: khách hàng, những biến đổi của môi trường kinh tế, dân số, văn hoá,
xã hội, chính trị, luật pháp, tự nhiên công nghệ, đối thủ cạnh trạnh nhu cầu khách
hàng,...). Luồng thông tin bên trong cung cấp cho biết rõ những điểm mạnh, yếu của các
nguồn lực khác nhau trong Ngân hàng mình. Yêu cầu thông tin : đầy đủ, chính xác, kịp
thời.
Nếu một Ngân hàng nắm bắt kip thời những thông tin về kinh tế, xã hội, thị
trường thì Ngân hàng đó sẽ đưa ra những phương hướng hoạt đồng kinh doanh nói
chung và hoạt động cho vay nói riêng phù hợp. Những thông tin về khách hàng chính
xác thì hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với từng khách hàng sẽ hợp lí hơn và chủ
động hơn. Điều đó sẽ giúp cho Ngân hàng không bỏ lỡ nhiều cơ hội cho vay tốt, đồng
thời hạn chế được những rủi ro cho những khoản cho vay của mình.
Ngược lại nếu thông không kịp thời, chính xác thì Ngân hàng sẽ cho vay không
hợp lí. Cho vay quá thấp sẽ hạn chế khả năng sản xuất của doanh nghiệp do lượng vốn đi
vay chưa đủ để doanh nghiệp đầu tư toàn diện. Nhưng nếu cho vay quá cao so với nhu
cầu và khả năng thanh toán của khách hàng do thông tin về khách hàng này là tốt trong
khi thực tế thì không phải như vậy, cho nên khi khách hàng làm ăn thua lỗ sẽ không có
khả năng trả hết nợ.
Thực tế ở Việt Nam, tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ là khó khăn và
khả năng cho vay còn nhiều hạn chế.
cho Ngân hàng tụt hậu, kém phát triển, không thu hút được nhiều khách hàng sẽ làm hạn
chế hoạt động cho vay. Ngược lại việc trang bị đầy đủ các thiết bị tiến tiến phù hợp với
phạm vi và quy mô hoạt động, phục vụ kịp thời các nhu cầu khách hàng với chi phí cả
hai bên đều có thể chấp nhận được sẽ giúp Ngân hàng tăng cường khả năng cạnh tranh,
thực hiện tốt mục tiêu tăng cường hoạt động cho vay.
- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng
Ngân hàng muốn tồn tại, phát triển thì phải có phương hướng, chiến lược kinh
doanh. Chiến lược kinh doanh càng phù hợp thì hoạt động cho vay ngày càng được mở
rộng. Trên cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách hàng, về đối
thủ khách hàng, xác định vị thế của Ngân hàng trên địa bàn hoạt động; Ngân hàng phải
xác định nên tăng cường hoạt động cho vay hợp lý, nên chú trọng hơn vào những hướng
nào có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm năng giúp mở rộng hoạt cho
vay của Ngân hàng
2.2.5.2. Nhân tố khách quan
Đối thủ cạnh tranh
Các NHTM hoạt động trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh
là một động lực tốt để Ngân hàng ngày càng hoàn thiện, vì để ngày càng phát triển thì
Ngân hàng luôn phải cố gắng không để mình tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh và phải
nâng cao, tăng cường các hoạt động của mình vượt đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khách
hàng có sự lựa chọn của mình khi gửi tiền, sử dụng dịch vụ và vay tiền của Ngân hàng
nào có lợi cho họ. Nếu như đối thủ cạnh tranh mà chiềm ưu thế hơn so với Ngân hàng
thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn Ngân hàng thậm chí khách hàng của Ngân hàng
cũng chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Do đó để mở rộng hoạt động cho vay thì việc
nghiên cứu tìm hiểu đối thủ cạnh tranh để ngày càng chiếm ưu thế hơn là vô cùng quan
trọng.
Quá trình phân tích đối thủ cạnh tranh gồm có: xác định các nguồn thông tin về
đối thủ cạnh tranh, phân tích các thông tin đó, dự đoán chiến lược của các đối thủ cạnh
tranh và đánh giá khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động cho
vay.
Sự phát triển của nền kinh tế
2.3. Hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ
2.3.1. Khái niệm hiệu quả tín dụng Ngân hàng
Hiệu quả tín dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh
vực Ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng Ngân hàng. Đó là
khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế xã
hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lại
lợi nhuận cao cho Ngân hàng thương mại từ nguồn tích lũy do đầu tư tín dụng và do đạt
được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển
bền vững của Ngân hàng.
Vì vậy hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh khả năng thích
nghi của tín dụng Ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan như trình độ
nghiệp vụ, trình độ quản lý của cán bộ tín dụng…, các nhân tố khách quan như mức độ
an toàn tín dụng, lợi nhuận của khách hàng, tình hình phát triển kinh tế xã hội. Do đó
hiệu quả tín dụng là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa Ngân hàng khách hàng
vay vốn và nền kinh tế. Cho nên khi đánh giá hiệu quả tín dụng phải xem xét trên cả ba
khía cạnh: Ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của NHTM
Việc nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối cới hộ sản xuất có ý nghĩa rất lớn
đối với Ngân hàng vì nó quyết định đến sự thành bại của Ngân hàng. Hiệu quả tín dụng
của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bao gồm:
2.3.2.1. Chính sách của Đảng và Nhà nước
Chính sách của Đảng và Nhà nước là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho
vay như:
- Về cơ chế cho vay, về đảm bảo tiền vay, về giao đất giao rừng.
- Về hành lang quản lý.
- Về tiêu thụ, bao tiêu sản phẩm, trợ giá trong sản xuất nông nghiệp, đối
tượng cho vay...
2.3.2.2. Chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đối với Ngân hàng thương mại như thực hiện
cơ chế cho vay mở rộng
2.3.2.3. Chủ quan của Ngân hàng thương mại
sản xuất vay vốn Ngân hàng.
Ngoài ra nền kinh tế Việt Nam còn phát triển ở mức thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu
kém, môi trường pháp lý còn nhiều vấn đề bất cập, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ,
hiệu lực pháp chế thấp, các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô chưa ổn định. Môi trường
pháp lý cho hoạt động Ngân hàng cũng chưa đầy đủ cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt
động kinh doanh nhất là hiệu quả tín dụng của Ngân hàng.
2.3.2.6. Sự tác động của thiên nhiên
Trong quá trình sản xuất thì người nông dân vay vốn Ngân hàng thường gặp phải
rủi ro như nắng hạn kéo dài, mưa lũ, chăn nuôi bị dịch bệnh... không thu hoạch được
hoặc bị mất trắng làm cho các hộ gặp nhiều khó khăn về tài chính dẫn đến chậm trả nợ
hặc không có khả năng trả nợ, gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của Ngân hàng
thương mại.
2.3.3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ
Để thúc đẩy nông thôn nước ta phát triển, vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai trò
hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay và mai sau. Nông thôn và nông dân đang rất
thiếu vốn để phát triển sản xuất, mở rộng ngành nghề và dịch vụ. Vì vậy đối với việc
phát triển kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp, tín dụng Ngân hàng có những vai trò chủ yếu
sau:
Thứ nhất, tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất mở rộng sản
xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề làm tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu
nhập cho hộ sản xuất.
Thứ hai, tín dụng Ngân hàng giúp tạo điều kiện cho hộ sản xuất tiếp cận và áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế kinh tế
thị trường.
Thứ ba, thúc đẩy hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng
hoá, góp phần thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn.
Thứ tư, tín dụng Ngân hàng giúp thúc đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toán
trong sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất. Tạo
nhiều việc làm cho người lao động.
Thứ năm, tín dụng Ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hộ sản xuất đảm