Bản Thảo chuyên đề GVHD: Th.S Nguyễn Thị Đà
Bài thảo luận chuyên đề: Hoạt
động khuyến mãi trong chính sách
truyền thông cổ động của doanh
nghiệp thương mại
SVTH: Nguyễn Văn Cường Trang:1
Lớp : 27k02.2
Bản Thảo chuyên đề GVHD: Th.S Nguyễn Thị Đà
MỤC LỤC
Bài thảo luận chuyên đề: Hoạt động khuyến mãi trong chính sách truyền thông cổ động
của doanh nghiệp thương mại................................................................................................1
...............................................................................................................................................1
MỤC LỤC..............................................................................................................................2
B. Khái quát về siêu thị......................................................................................................8
CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY..........................................................23
SVTH: Nguyễn Văn Cường Trang:2
Lớp : 27k02.2
Bản Thảo chuyên đề GVHD: Th.S Nguyễn Thị Đà
Phần I: Cơ sở lý luận.
A. Hoạt động khuyến mãi trong chính sách truyền thông cổ động của doanh
nghiệp thương mại:
I. Khái niệm và ý nghĩa, vai trò khuyến mãi:
1. Khái niệm về khuyến mãi:
2. Ý nghĩa của khuyến mãi trong hoạt động truyền thông cổ động của doanh
nghiệp:
- Đẩy nhanh người mua đến hành vi mua.
- Thu hút khách hàng mới:
- Giới thiệu một số sản phẩm mới hay dịch vu mới:
- Bù đắp việc giảm doanh thu theo mùa:
- Đối mặt với chương trình xúc tiến bán của các đối thủ cạnh tranh::
vào thời gian, không gian cụ thể, người làm khuyến mãi lựa chọn mục tiêu cho
chương trình cụ thể khác nhau. Việc lựa chọn mục tiêu đúng hay sai phụ thuộc vào
hiệu quả của khuyến mãi.
2. Lựa chọn công cụ khuyến mãi.
2.1 Khuyến mãi đối với người tiêu dùng.
Trưng bày tại nơi mua hàng:
- Trên quan điểm người trung gian.
- Trên quan điểm người tiêu dùng.
Phiếu mua hàng.
- Các phương pháp phân phát phiêu mua hàng.
- Thu hồi phiếu mua hàng
Quà tặng:là hàng được tặng miễn phí hoặc bán với giá rất thấp để kích
thích tiêu thụ một món hàng nào đó. Quà tặng có thể gói chung hoặc đính kèm
theo ngoài gói hàng chính. Còn bao bì món hàng có thể dùng được thì coi như quà
tặng. Quà gởi bưu điện miễn phí là một món gởi tặng khách nếu họ gởi tới hang
một bằng chứng là họ đã mua một món hàng nào đó của hàng. Quà tặng tự chọn là
một món sẽ bán với giá hạ hơn bình thường cho khách nếu họ yêu cầu.
Hàng mẫu: Có khối lượng nhỏ và khuyến khích dùng thử. một số hàng
mẫu miễn phí, một số khác thuộc loại tự thanh toán.(Công ty tính tiền giá thanh lý
để bù lại chi phí làm hàng mẫu).
Thi có thưởng, trò chơi: Những trò chơi tạo cơ hội cho khách hàng, nhà
buôn, hoặc lực lượng bán hàng đạt được cá gì đó tạo cơ hội may mắn cho họ do
một nỗ lực nào đó
Ưu đãi người tiêu dùng.
Tặng phẩm quảng cáo.
Bao bì.
2.2 Khuyến mãi đối với người trung gian và nhân viên bán hàng.
2.2.1 Ưu đãi thương mại và trợ cấp khuyến mãi.
Trợ cấp mua hàng: Theo thoả thuận trợ cấp mua hàng, người sản xuất đưa
cho người trung gian một số tiền cụ thể (lượng tiền chiết khấu) để đổi lại người
khoảng thời gian cụ thể. Để nhận được tiền trợ cấp quảng cáo, người trung gian
phải cho người sản xuất bằng chứng cho biết việc quảng cáo thực sự đã thực hiện.
Tiền thanh toán chỉ có được sau khi chứng minh được kết quả hoàn thành.
- Trợ cấp trưng bày: Dành cho người bán lẻ, những người xây dựng những
nơi trưng bày đặc biệt cho các sản phẩm của nhà sản xuất, theo các tiêu chuẩn đã
được xác định trong hợp đồng chính thức giữa hai bên. Trợ cấp trưng bày được sử
dụng như một một biện pháp khuyến khích các nhà bán lẻ đề cao các sản phẩm
của nhà sản xuất nào đó trong khu vực trưng bày hay quảng cáo của họ.
2.2.2 Quảng cáo hợp tác: là quảng cáo trong đó trách nhiệm và chi phí
được chia xẻ cho hai hay nhiều nhà quảng cáo, thông thường theo tỷ lệ
50%, nhưng các bên tham gia có thể thoả thuận với nhau theo nhiều tỉ lệ
khác. Mặt dù quảng cáo hợp tác là một động lực quan trong trong truyền
thông cổ động, tuy nhiên quảng cáo hợp tác hiệu quả nhất khi được kết hợp
với một chương trình quảng cáo mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc. Có hai
loại quảng cáo hợp tác chính, quảng cáo hợp tác hàng ngang và quảng cáo
hợp tác hàng dọc.
Quảng cáo hợp tác hàng ngang: (quảng cáo liên kết) là quảng cáo
được tài trợ chung bởi các nhóm đối thủ cạnh tranh hoạt động trong cùng
SVTH: Nguyễn Văn Cường Trang:5
Lớp : 27k02.2
Bản Thảo chuyên đề GVHD: Th.S Nguyễn Thị Đà
một ngành. Các chiến dịch quảng cáo qua lại kích thích nhu cầu đầu tiên
trong sản phẩm của ngành.
Quảng cáo hợp tác theo hàng dọc: là loại quảng cáo được hầu hết
các nhà sản xuất sử dụng. Nhà sản xuất thanh toán lại cho người trung gian
một phần chi phí cho quảng cáo tại địa phương nhằm đề cao sản phẩm của
nhà sản xuất. có nhiều cách thanh toán lại chi phí tuỳ theo khả năng sáng
tạo của hai bên và khả năng thoả thuận các điều kiện. Khi một người bán lẻ
kết hợp một số quảng cáo từ nhiều nhà sản xuất thành một nội dung quảng
cáo trên một trang quảng cáo, mỗi nhà sản xuất phải chi trả một phần chi
Bản Thảo chuyên đề GVHD: Th.S Nguyễn Thị Đà
2.2.5.Chào hàng: Tài liệu chào hàng là một hình thức khác của khuyến mãi.
Nhà sản xuất phân phối chúng cho nhân viên bán hàng, người trung gian và
các khách hàng của họ. Tài liệu
2.2.6.Hội chợ và triển lãm: Hội chợ triển lãm diễn ra hằng năm trên toàn quốc.
Tại đây các nhà sản xuất chiêu thị vô số sản phẩm bao gồm xe ôtô thiết bị tàu
biển, hàng thể thao, hàng gia đình,… hội chợ triển lãm đóng vai trò nổi bậc trong
hàng công nghiệp, và chúng đang thành công trong thị trường người tiêu dùng. Tại
đây các Công ty muốn giới thiệu sản phẩm mới, ký kết hợp đồng bán hàng, tạo
nguồn khách hàng tiềm năng, thu hút các nhà phân phối mới, đề cao hình ảnh của
Công ty, thực hiện nghiên cứu thị trường, quan sát các hoạt động cạnh tranh, huấn
luyện nhân viên bán hàng, hay thu thập các thông tin phản hồi tại chỗ. Mặt dầu kết
quả hoạt động bán hàng ngay lập tức có thể diễn ra như là kết quả trực tiếp của
triển lãm thương mại, lý do cơ bản của việc tham dự các diễn đàn này là nhằm
cung cấp cho thị trường chọn lọc những thông tin về sản phẩm và để thiết lập mối
quan hệ với khách hàng triển vọng.Các nhà triển lãm dựng các gian hàng để trưng
bày hàng hóa , biểu diễn sản phẩm, phân phối hàng mẫu, cung cấp tài liệu về sản
phẩm, và thực hiện việc trình bày trước phương tiện truyền thông.
3. Triển khai chương trình khuyến mãi.
3.1 Quy mô và xây dựng chương trình khuyến mãi: Nhà làm tiếp thị phải
quyết định sẽ hứa hẹn bao nhiêu. Cần có một kích thích tối thiểu nào đó nếu
chương trình muốn thành công. Kích thích càng nhiều thì kết quả càng tăng nhưng
với gia tốc giảm dần, do đó cần phải nghiên cứu chương trình khuyến mãi trước
đây và cần kích thích phù hợp. Khi tiến hành khuyến mãi phải xác định rõ quy mô
của đợt khuyến mãi cho phù hợp với lượng ngân sách đã xác định. Nếu quy mô
lớn, Công ty sẽ gặp phải trở ngại tài chính. Nếu quy mô quá nhỏ, mục tiêu sẽ
không thực hiện được, vấn đề xác định điều kiện của những người tham gia là vấn
đề không thể thiếu được.
3.2 Điều kiện tham gia: Chương trình khuyến mãi có thể dành cho mọi người
hoặc nhóm người nào đó.
chương trình khuyến mãi. Dữ liệu nhóm khách hàng sẽ cho thấy những loại khách
đáp ứng với chương trình khuyến mãi và họ đã làm gì sau chương trình. Nếu cần
nhiều thông tin hơn thì khảo sát khách hàng có thể được tiến hành để biết có bao
nhiêu người nhớ tới chương trình, họ nghĩ gì về nó, bao nhiêu người được hưởng
lợi từ nó, và nó có quyết định gì đến quyết định mua hàng sau này không. Các
chương trình khuyến mãi cũng có thể được đánh giá qua những thử nghiệm với sự
thay đổi về mức kích thích, thời gian tiến hành và cách phổ biến chương trình.
B. Khái quát về siêu thị
1. Khái niệm:
Hiện nay Siêu Thị là loại hình doanh nghiệp thương mại bán lẻ khá phổ biến
trên thế giới cũngnhư tại Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay ở những nước khác
nhau Siêu Thị được nhìn nhận ở nhiều quan điểm khác nhau:
Ơ Mỹ, Siêu Thị được coi là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi
phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hoá bán ra lớn, đảm bảo
thảo mãn nhu cầu người tiêu dùng về thức phẩm, bột giặt, các chất tảy rửa và các
mặt hàng chăm sóc nhà cửa. (Philip Kotler, Marketing căn bản).
Ở Pháp, Siêu Thị được định nghĩa là của hàng bán lẻ theo phương thức tự
phục vụ có diện tích từ 400 m
2
đến 2500 m
2
chủ yếu bán hàng thực phẩm
2. Sự ra đời và ý nghĩa của Siêu Thị :
Ngày nay sản xuất ngày càng nhiều, đôi khi vượt khỏi mức nhu cầu của giới
tiêu thụ. Cho nên vấn đề thiết yếu không còn là vấn đề chế tạo hay sản xuất nữa,
mà vấn đề là bán hàng, làm thế nào để tiêu thụ hết những kho hàng ngày càng ứ
đọng. Riêng ngành quảng cáo tỏ ra cụ thể để thuyết phục khách hàng thông qua
quảng cáo trực tiếp, quảng cáo nơi bán và nhất là truyền hình. Nhưng ngày nay
trên thị trường ngày càng có nhiều xí nghiệp tương đương nhau trong sự cạnh
tranh, cho nên người ta luôn lo sợ bởi:
đến người tiêu dùng cuối cùng, được quy hoạch tổ chức kinh doanh một cách hiện
đại và văn minh.
- Đặc trưng lớn nhất, nổi bật nhất là áp dụng phương thức hàng tự phục vụ
nó được xem là cuộc đại cách mạng & sáng tạo kỳ diệu trong lĩnh vực thương mại
bán lẻ. Hình ảnh các khách hàng có thể tự do lựa chọn hàng hóa mà không cần
phải trả lời những câu hỏi dồn dập của người bán hàng, cách trưng bày đẹp mắt,
giá rẻ, và đặc biệt là hệ thống tính tiền tự động luôn là biểu tượng cho những của
hàng tự chọn. Hàng hóa gắn với mã vạch, dùng máy quét scan để đọc mã vạch và
tính tiền trên ký hiệu mã vạch do nhà sản xuất quy định và tính tiền trên hóa đơn
tự động.
- Hàng hóa trong Siêu Thị là những hàng tiêu dùng thông thường, với những
chủng loại khác nhau. Thông thường một Siêu Thị có thể đáp ứng được 70 đến
80% nhu cầu hàng ngày của người tiêu dùng về thực phẩm, trang phục, mỹ phẩm,
đồ gia dụng, đồ điện tử…..
SVTH: Nguyễn Văn Cường Trang:9
Lớp : 27k02.2