THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-1999 - Pdf 67

THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993 -
1999
1-Đánh giá chung về tình hình giải ngân ODA
1.1-Tình hình cam kết
Có thể nói các biện pháp cải cách kinh tế của Việt Nam trong hơn 10 năm qua
đã giúp cho mức cam kết viện trợ tăng lên đáng kể. Nhìn chung, chúng ta đã tạo
được lòng tin và xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với các nhà tài trợ.
Tính đến hết năm 1999, qua 7 hội nghị nhóm tư vấn của các nhà tài trợ (CG)
dành cho Việt Nam, tổng số vốn ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt
Nam là 15,14 tỷ USD, cụ thể là:
Bảng 1: Khối lượng vốn ODA cam kết giai đoạn 1993-1999
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 Tổng số
Cam kết ODA
(tỷ USD)
1,81 1,94 2,26 2,43 2,40 2,20* 2,10** 15,14
Tốc độ tăng
(%)
--- 7,19 16,67 7,35 -1,27 -8,33 -4,54
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Dấu * , ** trong số liệu cam kết của hai năm 1998 và 1999 có nghĩa là:
(*) Chưa kể 0,5 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế.
(**) Chưa kể 0,7 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế.
Số vốn ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam nói trên được
sử dụng trong một số năm để thực hiện các chương trình và dự án. Qua bảng số
liệu có thể thấy được là nguồn vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam liên tục tăng
lên từ năm 1993 đến năm 1996, năm 1993 mới chỉ là 1,81 tỷ USD nhưng đến năm
1996 đã là 2,43 tỷ USD. Đây là giai đoạn nền kinh tế nước ta tăng trưởng cao và
liên tục, đồng thời kinh tế thế giới không có những biến động lớn. Tuy nhiên, năm
1997, số ODA cam kết chững lại và giảm dần. Nguyên nhân của sự sút giảm trên
là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực Đông
Nam Á, tác động tiêu cực đến kinh tế Việt Nam và các nhà tài trợ. Lượng vốn

cung cấp một hình thức vốn vay ưu đãi, thí dụ Nhật Bản. Có nhà tài trợ cung cấp
vốn vay hỗn hợp, một phần vốn vay ưu đãi kết hợp với một phần vốn vay thương
mại từ các ngân hàng, thí dụ như Tây Ban Nha.
Việc cung cấp ODA thường được thực hiện dưới hai hình thức: có điều kiện
ràng buộc (do các công ty nước ngoài thực hiện thông qua đấu thầu hoặc chỉ định
thầu); không có điều kiện ràng buộc (đấu thầu quốc tế rộng rãi hoặc hạn chế).
Bảng 2: Tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết phân theo ngành
giai đoạn 1993-1999
Ngành Tỷ lệ (%)
Tổng số
Trong đó:
1. Năng lượng điện
2. Giao thông vận tải
3. Tín dụng và điều chỉnh cơ cấu
4. Nông, lâm, thủy sản bao gồm cả thủy lợi
100
25
19
16
13
11
7
9
5. Y tế, xã hội, giáo dục- đào tạo
6. cấp thoát nước
7. Các ngành khác
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

1.3 Khái quát về tình hình giải ngân
Trong thời kỳ từ năm 1993 đến hết năm 1999, tổng số vốn ODA đã được giải

kết dành cho Việt Nam còn thấp, tính chung cho cả thời kỳ 1993-1999 thì con số
này chỉ là 41%, thấp hơn so với mức bình quân trong khu vực. Sự chênh lệch lớn
về giải ngân ODA so với cam kết cho thấy tình trạng chúng ta đã chú trọng nhiều
đến vận động ODA mà không quan tâm thích đáng đến quá trình thực hiện, sử
dụng nguồn vốn này.
Tình hình giải ngân không đồng đều giữa các nhà tài trợ và tuỳ thuộc vào loại
hình dự án là đặc điểm nổi bật nhất của tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn
ODA thời gian qua. Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường đạt hoặc vượt mức kế hoạch
giải ngân hàng năm, thí dụ các dự án hỗ trợ kỹ thuật do Úc, Đan Mạch, Na Uy,...
tài trợ. Tuy nhiên, các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường có chi phí chuyên gia rất cao
(tới 60-70% giá trị dự án), hơn nữa chi phí này thường ở ngoài Việt Nam.
Các dự án xây dựng cơ bản tập trung và giải ngân nhanh của WB và ADB có
mức giải ngân tương đối khá. Thí dụ, tính đến năm tài chính 1999, mức giải ngân
đối với các dự án của WB đạt 24,7% trên tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết (mức
trung bình của khu vực là 21%). Tuy nhiên, nếu chỉ tính riêng các dự án xây dựng
cơ bản tập trung của WB thì chỉ đạt mức 19%. Đối với các dự án của ADB, mức
giải ngân cho cả giai đoạn 1993- 1999 đạt 15,3%, được đánh giá gần sát với mức
bình quân của ADB nhưng thấp hơn một số nước khác trong khu vực.
Các dự án sử dụng nguồn vốn JBIC (Nhật Bản) đạt mức giải ngân thấp,
khoảng 10,7 % trên tổng giá trị các Hiệp định đã ký cho cả giai đoạn 1993-1999
(mức trung bình là 11,9%). Tuy nhiên, nếu so sánh mức giải ngân qua các năm thì
thấy đã có những tiến bộ trong việc giải ngân nguồn vốn này, ví dụ năm 1996 chỉ
đạt 2% , năm 1997 đã đạt 6,4%.
Mặt khác, xét theo ngành đối với riêng các dự án của ba nhà tài trợ lớn (WB,
ADB và Nhật Bản) thì các dự án thuộc ngành công nghiệp và năng lượng có mức
giải ngân khá hơn cả, đạt 17% tổng giá trị ký kết và các dự án cấp nước đô thị kém
hơn cả, chỉ đạt 5,8% giá trị ký kết. Các dự án giao thông, bưu điện đạt 13,6% giá
trị ký kết. Đây là những con số cho thấy mức giải ngân của các ngành còn rất thấp
cần sớm được khắc phục.
So với các dự án của ba nhà tài trợ lớn (WB, ADB, Nhật Bản) thì quy mô dự

Trong những năm qua, ngành năng lượng đã có mức giải ngân lớn nhất, do
xuất phát từ tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nó. Các dự án ODA tập trung chủ yếu
vào xây dựng nhà máy phát điện. Hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực quản
lý hệ thống cấp điện cũng đi kèm với các dự án đầu tư này. Hầu như toàn bộ mức
tăng giải ngân trong năm 1997 và 1998 xuất phát từ việc thực hiện ba dự án lớn do
JBIC hỗ trợ nhằm xây dựng và mở rộng ba nhà máy phát điện. Tuy nhiên, vẫn còn
40% dân số chưa có điện. Có thể nhanh chóng giải quyết nhu cầu điện ở nông thôn
thông qua các phương án mở rộng mạng lưới điện, ví dụ như áp dụng các hệ thống
phân cấp quản lý các hệ thống cấp điện hay sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh.
Biểu 1: Giải ngân ODA cho cơ sở hạ tầng
Triệu USD
700
600
500
400
300
200
100
0
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Năng lượng Đường giao thông Nước sạch, vệ sinh
Phát triển đô thị (Nguồn: Điều tra của UNDP)
Trong hai năm qua mức giải ngân cho ngành giao thông vận tải đã tăng lên
gấp đôi từ 110 triệu USD trong năm 1996 lên 212 triệu USD trong năm 1998. Các
chương trình tập trung vào một số ít các nhà tài trợ (JBIC Ngân hàng thế giới và
ADB). Đáng chú ý là 10 dự án đường giao thông lớn nhất chiếm khoảng 90% tổng
vốn viện trợ dành cho mục đích này từ năm 1993, trong khi đó hệ thống đường
giao thông nông thôn rất kém phát triển, làm khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm
và giảm khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản.
Các chương trình khôi phục hệ thống cấp nước và phát triển đô thị: Năm

ODA dùng để cho vay lại phục vụ tín dụng nông thôn cũng như đầu tư vào các
công trình hạ tầng cơ sở nông thôn đều tăng. Dự kiến mức đầu tư ODA cho phát
triển nông thôn sẽ tiếp tục tăng thông qua một số chương trình hỗ trợ (Chương
trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình hỗ trợ 1.715 xã nghèo và Chương trình 5
triệu ha rừng).
*)Giải ngân ODA cho phát triển con người:
Trong khuôn khổ "sáng kiến 20/20" được công bố năm1995 tại Hội nghị
Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển xã hội ở Copenhagen, cả Chính phủ và cộng
đồng tài trợ đều cam kết dành 20% ngân sách của mỗi bên cho các dịch vụ xã hội
cơ bản (DVXHCB). Theo định nghĩa của Hội nghị Copenhagen, DVXHCB bao
gồm giáo dục tiểu học và mẫu giáo, xoá mù chữ cho người lớn, chăm sóc sức khoẻ
ban đầu, các chương trình tiêm chủng, kế hoạch hoá gia đình, bệnh viện cấp huyện
và xã, cứu trợ thiên tai, nước sạch và vệ sinh nông thôn.
Biểu đồ 3: Giải ngân ODA cho phát triển con người
Triệu USD
250
200
150
100
50
0
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Giáo dục Ytế Phát triển xã hội
(Nguồn: Điều tra của UNDP)
Qua biểu đồ cho thấy, nguồn vốn ODA đã giải ngân dành cho phát triển con
người có sự tăng dần kể từ năm 1993 đến 1999. Năm 1993 mới chỉ là 68 triệu
USD, nhưng đến năm 1999 đã giải ngân được 210 triệu USD.
-Giải ngân ODA cho giáo dục có bước tăng trưởng khá. Thông qua các
chương trình hợp tác giữa các trường đại học và cơ sở giáo dục trong và ngoài
nước cũng như các chương trình đào tạo và học bổng. Một khoản 30 triệu USD

600
400
200
0
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Viện trợ không hoàn lại Cho vay
(Nguồn: Điều tra của UNDP)
Xu hướng giải ngân nguồn vốn ODA theo các điều kiện tài chính trong
những năm qua là tăng ODA cho vay và giảm ODA viện trợ không hoàn lại. Năm
1993, các nhà tài trợ cung cấp cho Việt Nam chủ yếu dưới dạng viện trợ không
hoàn lại, ODA cho vay chiếm tỷ lệ nhỏ. Nhưng năm 1999, tỷ lệ giữa ODA vốn vay
và ODA viện trợ không hoàn lại đã rất lớn. Vì vậy, nếu không sử dụng có hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status