ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------- ----------
NGUYỄN THÁI HẬU
BỘ CÔNG AN THƢ̣C HIỆN CHỦ TRƢƠNG CỦA
ĐẢNG VỀ TẬP TRUNG GIÁO DỤC, CẢI TẠO
NHƢ̃ NG PHẦN TƢ̉ NGUY HẠI CHO XÃ HỘI
TƢ̀ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------- ----------
NGUYỄN THÁI HẬU
BỘ CÔNG AN THƢ̣C HIỆN CHỦ TRƢƠNG CỦA
ĐẢNG VỀ TẬP TRUNG GIÁO DỤC, CẢI TẠO
NHƢ̃ NG PHẦN TƢ̉ NGUY HẠI CHO XÃ HỘI
TƢ̀ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1975
Chuyên ngành:
NXB:
Nhà xuất bản
TTGDCT:
Tập trung giáo dục, cải tạo
UBHC:
Ủy ban Hành chính
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 3
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 3
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 7
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu ................................................... 7
6. Đóng góp của đề tài ...................................................................................... 8
7. Kết cấu luận văn ........................................................................................... 8
Chƣơng 1. BỘ CÔNG AN THỰC HIỆN CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VỀ
TẬP TRUNG GIÁO DỤC, CẢI TẠO NHỮNG PHẦN TỬ NGUY HẠI
CHO XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1961 - 1964. ........................................................ 9
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
3.2.3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong công tác
TTGDCT. ....................................................................................................... 92
3.2.4. Đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu công tác TTGDCT………...98
KẾT LUẬN .................................................................................................... 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 104
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960) đã
khẳng định “Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên cơ sở liên minh công nông
và được ủng hộ của toàn thể nhân dân, phải thực hành chuyên chính với bọn
phản cách mạng, nghiêm trị những kẻ chống lại cách mạng xã hội chủ nghĩa
và công cuộc thực hiện thống nhất nước nhà. Phải kiện toàn cơ quan Công an
nhân dân, cơ quan Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân; giáo dục nhân dân
nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng: động viên và tổ chức quần chúng
tham gia giữ gìn trật tự trị an, đấu tranh nhằm trừng trị bọn phản cách mạng
và cải tạo những phần tử lạc hậu” [37]. Như vậy, cùng với xây dựng nhà
nước dân chủ nhân dân cần phải thực hiện chuyên chính với kẻ chống lại cách
mạng XHCN. Ngày 04/10/1961, Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ đạo: Vấn
đề tập trung giáo dục, cải tạo những phần tử nguy hại cho xã hội là một công
tác rất quan trọng và phải tiến hành một cách khẩn trương.
Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng Công an nhân dân đã tổ chức tập trung
giáo dục, cải tạo hàng vạn phần tử gây nguy hại cho xã hội trở thành những
người lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội, góp phần giữ vững an
ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt từ năm 1961 đến năm 1975, công tác
giáo dục tập trung giáo dục, cải tạo đã đạt được những thành tựu to lớn góp
- Đề tài “Tổng kết lịch sử công tác tập trung giáo dục cải tạo đối tượng
hình sự 1945 - 2000”, công trình nghiên cứu khái quát về công tác TTGDCT
đối tượng hình sự: Sự hình thành và phát triển công tác TTGDCT 1945 1961; công tác tập trung giáo dục góp phần bảo vệ an ninh trật tự thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược 1961 - 1975; tập trung cải tạo đối tượng hình sự góp
phần bảo vệ an ninh trật tự trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
4
Nam xã hội chủ nghĩa (1975 - 2000). Công trình nghiên cứu những Chỉ thị,
Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an về công tác TTGDCT đối
tượng hình sự trong suốt 55 năm từ năm 1945 đến năm 2000 và rút bài học
kinh nghiệm về công tác quản lý, giam giữ đối tượng hình sự trong giai đoạn
hiện nay.
- Cuốn sách “Lịch sử lực lượng Cảnh sát trại giam 60 năm xây dựng,
chiến đấu và trưởng thành”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005, đề cập
toàn diện các mặt công tác của lực lượng Cảnh sát trại giam trong từng giai
đoạn, sự ra đời trưởng thành của các đơn vị trại giam, cơ sở giáo dục, trường
giáo dưỡng trong từng thời kỳ.
- Kỷ yếu “Hội thảo lực lượng Cảnh sát quản lý trại giam trong sự
nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 2010”, nghiên cứu về vai trò
của các trại giam trong việc quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân và
đối tượng TTGDCT góp phần bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Qua đó rút ra những bài học
kinh nghiệm của lực lượng Cảnh sát trại giam trong công tác hiện nay.
- Cuốn sách “Đồng chí Trần Quốc Hoàn về công tác Công an”, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội 2011, với nội dung là những bài viết và bài phát
biểu của Đồng chí Trần Quốc Hoàn về những vấn đề mang tính chiến lược về
chủ trương, đường lối chính sách; nguyên tắc, phương châm, hình thức và
biện pháp đấu tranh chống phản cách mạng và các loại tội phạm khác nhằm
bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của đất nước trong
Việt Nam và quá trình thực hiện của lực lượng Công an nhân dân trong công
tác tập trung giáo dục, cải tạo thời gian từ năm 1961 đến năm 1975.
- Hệ thống hóa và trình bày quá trình Bộ Công an thực hiện chủ trương
của Đảng về tập trung giáo dục cải tạo những phần tử nguy hại cho xã hội qua
2 giai đoạn 1961 - 1964 và 1965 - 1975.
6
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và đúc rút những bài học kinh nghiệm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các chủ trương chính sách Đảng và Nhà nước về công tác tập trung
giáo dục, cải tạo.
- Các kế hoạch, biện pháp của Bộ Công an trong công tác tập trung giáo
dục cải tạo những phần tử nguy hại cho xã hội từ năm 1961 đến năm 1975.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
- Bối cảnh lịch sử và những yêu cầu đặt ra đối với công tác tập trung
giáo dục, cải tạo trong những năm 1961 - 1975.
- Quá trình Bộ Công an quán triệt chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước về công tác tập trung giáo dục, cải tạo và tiến hành tổ chức thực
hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Về thời gian: Từ năm 1961 đến năm 1975
Về không gian: Ở miền Bắc Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgíc, ngoài ra trong đề tài còn sử dụng một số phương pháp như thống kê,
tổng hợp…
Nguồn tư liệu:
- Các Văn kiện, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định của Đảng và Nhà nước
giáo dục cải tạo.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội nảy sinh từ quá trình lao động của loài
người, thực chất của nó là truyền thụ cho người khác những kinh nghiệm về lao
động sản xuất những tri thức khoa học tự nhiên và xã hội đã được hình thành.
V.I.Lênin cho rằng: Giáo dục là một hiện tượng xã hội biến đổi theo sự
biến đổi của quan hệ xã hội của phương thức sản xuất cho nên giáo dục cũng
là một hiện tượng lịch sử, không có một nền giáo dục chung chung trên tất cả
các giai cấp mà giáo dục bao giờ cũng bị chi phối bởi nền kinh tế và chính trị
của một xã hội nhất định. Như vậy giáo dục có tính chất giai cấp rõ ràng.
Theo C.Mác “Sự tồn tại của giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn
phát triển lịch sử nhất định của sản xuất” [28, tr.662]. Sự phân hóa giai cấp
trong xã hội có nguyên nhân sâu xa là tình trạng phát triển nhưng chưa đạt tới
trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất.
Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa về
giai cấp như sau: “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những
người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất
định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ
này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về
vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách
thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng”
[76, tr.17-18].
9
Như vậy, thực chất của sự phân hóa những con người trong một cộng
đồng xã hội thành các giai cấp khác nhau, đối lập nhau là do có sự khác nhau
và đối lập nhau về địa vị của họ trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định,
do đó tất yếu dẫn đến việc “tập đoàn này có thể chiếm đoạt được lao động của
tập đoàn khác”. Do vậy V.I.Lênin khẳng định “Giai cấp là những tập đoàn
người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ
trung tâm và cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội. Bất cứ cuộc đấu
tranh giai cấp nào nếu chưa giải quyết được vấn đề chiếm giữ quyền lực nhà
nước thì chưa thể giải quyết được những vấn đề căn bản nhất của cuộc đấu
tranh giai cấp. Tuy nhiên, không phải mọi cuộc đấu tranh giai cấp đều xác
định vấn đề chính quyền nhà nước, quyền lực nhà nước là vấn đề trung tâm,
chỉ có sự phát triển của đấu tranh giai cấp đạt đến trình độ đấu tranh chính trị
thì vấn đề đó mới trở thành vấn đề trung tâm và cơ bản của nó. Đó cũng là
vấn đề cơ bản của mọi cách mạng xã hội với tư cách mà đỉnh cao của sự phát
triển đấu tranh giai cấp.
Sự ra đời và tồn tại của nhà nước là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp
trong xã hội đã bị đẩy đến chỗ không thể giải quyết được thì tất yếu giai cấp
thống trị cần đến sức mạnh bạo lực đặc biệt để duy trì xã hội trong vòng một
“trật tự” theo ý chí của nó, thực hiện lợi ích của nó. Sự ra đời và tồn tại của
nhà nước không phải để giải quyết mâu thuẫn mà là để duy trì trật tự xã hội
trong điều kiện mâu thuẫn không thể giải quyết được.
Khác với các kiểu nhà nước khác trong lịch sử nhà nước chuyên chính
vô sản là nhà nước kiểu mới, là “nửa nhà nước”, “nhà nước không còn
nguyên nghĩa đen của nó”, tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
là công cụ bạo lực có tổ chức và công cụ quản lý kinh tế - xã hội của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động.
11
Nhà nước ta mang tính chất xã hội chủ nghĩa, vì vậy nhà nước được tổ
chức để làm công cụ quản lý - kinh tế. Nhà nước ta cũng tổ chức những lực
lượng vũ trang bảo vệ bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ chính trị của mình. Lực
lượng đó bao gồm tổ chức trấn áp những đối tượng chống phá cách mạng,
chống phá chế độ chính trị, làm mất ổn định trật tự xã hội.
Công cụ vũ trang của Nhà nước không chỉ trấn áp và bắt giữ những đối
tưởng của Bác về giải phóng một bộ phận những người phạm phải sai lầm,
khuyết điểm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên nhân sai phạm của con người ở
khía cạnh xã hội: Con người không có ai bẩm sinh đã là hiền hay dữ, lớn lên
họ trở nên tốt xấu chủ yếu do được hưởng một sự giáo dục đúng hay sai. Các
loại tệ nạn, tội phạm như buôn lậu, trộm cắp, gái điếm... chỉ là nạn nhân của
chế độ xã hội cũ mà thôi. Trên tinh thần “nhân vô thập toàn” Người khẳng
định “không có ai là người bỏ đi, ai cũng có mặt tốt, mặt xấu” và tất yếu con
người không ai giống ai, có người thế này có người thế khác, như bàn tay phải
có ngón ngắn ngón dài. Tuy nhiên, ai cũng có lòng yêu nước. Nếu có ai đó
chống lại Tổ quốc là do lầm đường, chứ đâu phải sinh ra họ đã là kẻ phản bội,
làm tay sai cho ngoại bang. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 13/6/1946,
Người nhấn mạnh: “ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà
quên nghĩa lớn”, cái vụ lợi nhỏ đó đâu có gì khác là do điều kiện sống đưa
đẩy, do thiếu tiếp thu giáo dục ở mỗi con người.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đối xử với người lầm lỗi là
trấn áp kết hợp khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ: Đối với đồng
bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ, Người chỉ rõ:
13
“Trong mấy triệu con người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này
thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta... vậy nên ta phải khoan hồng đại độ”.
Biết tha thứ cho người lầm lỗi cũng là biện pháp để đoàn kết toàn dân
tộc, tạo nên sức mạnh của dân tộc. Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng
bào Nam Bộ có nhắc nhở đồng bào “Đối với những đồng bào lạc lối, lầm
đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đại đoàn
kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắc sẽ vẻ vang”.
khuyết điểm, có việc làm thì có sai lầm” và “sai lầm là vì không hiểu, không
biết”. Trách nhiệm của chúng ta phải giúp họ sửa chữa sai lầm để trở thành
người tốt. Xuất phát từ quan điểm “hiền dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều
do giáo dục mà nên”, nếu có phương pháp giáo dục thích hợp thì “ai cũng có
thể trở thành người tốt” “không ai là người bỏ đi”. Từ niềm tin đó, Bác
khẳng định sự cần thiết phải làm tốt công tác giáo dục, cải tạo. Người nhắc
nhở lực lượng Công an: “Phải kiên quyết làm thật tốt việc giáo dục cải tạo
những người trước kia là tề nguỵ và phỉ, những người trước kia đã tham gia
các đảng phái phản động. Việc này phải làm kiên quyết, nhưng phải hết sức
cẩn thận và khôn khéo”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho tư tưởng chủ đạo “biến quá
trình giáo dục cải tạo thành tự cải tạo” Người nhấn mạnh: “Muốn họ thành
tâm sửa chữa phải giải thích rõ ràng, làm cho họ trông thấy, tự nhìn vào sai
lầm đó, làm cho họ vui lòng sửa đổi, chứ không phải bị cưỡng bức mà sửa
đổi”. “Trong cuộc vận động này giáo dục là chính, làm cho những người phạm
tội có dịp để thật thà, cải quá tự tân”. Quan điểm này cũng đã được Hồ Chủ tịch
khẳng định trong thư gửi cho nguỵ binh ngày 20/8/1951 là: “Nặng về giáo dục,
nhẹ tay xử phạt để dìu dắt các người bỏ đường tà theo đường chính”.
Một trong những phương pháp giáo dục rất quan trọng mà Hồ Chí
Minh nêu ra là “phải làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở để đẩy
15
lùi phần ác, giống như ánh sáng đẩy lùi bóng tối”. “Cái ánh sáng đó nhiều khi
chỉ còn là đốm lửa leo lét, chập chờn trong cái màn vô minh của tâm hồn đã
bị rượu, ma tuý, các tham vọng cá nhân lệch lạc, bệnh hoạn che phủ”. Tiếp thu
lời Bác những người làm công tác giáo dục lại, phải biết giáo dục những người
lầm lỗi để họ tích cực cải tạo để trở thành người lương thiện.
Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò trong Di chúc: “Đối với những nạn nhân
của chế độ xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu... thì nhà nước
Trị… Mặc dù đó là các hoạt động trái phép, song khi chính quyền can thiệp
thì chúng liều lĩnh, công khai, trắng trợn chống lại, gây ra các vụ bạo loạn lớn
như ở Ba Làng (Thanh Hóa), Phát Diệm (Ninh Bình), Diễn Tiến (Nghệ An).
Một số đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái phản động, địa
chủ đã chôn giấu vũ khí, cấu kết với gián điệp cài lại, ra sức xây dựng lại cơ
sở, điều tra thu thập tin tức tình báo, chuẩn bị vũ khí để khi có điều kiện sẽ
phá hoại các công trình kinh tế - quốc phòng, ám sát cán bộ và tung tin bịa
đặt, nhân dân hoang mang lo lắng, không yên tâm sản xuất, gây mất an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội. Các đối tượng trong các đảng phái phản
động như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng, Phục quốc… lập các nghiệp
đoàn giả hiệu để lôi kéo quần chúng và thành lập tổ chức phản động âm mưu
lật đổ chính quyền.
Ở nông thôn, địa chủ cường hào gian ác, số đối tượng thuộc tầng lớp
phú nông chưa cải tạo cũng ngóc đầu dậy, cùng số phần tử phản động trong
ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái phản động cũ, ngấm ngầm hoặc công khai
chống phá phong trào hợp tác hóa, chống chính sách nghĩa vụ quân sự, dân
công, lương thực của Nhà nước. Khi Đảng phát hiện tiến hành sửa sai trong
cải cách ruộng đất, số đối tượng này cấu kết với gián điệp, tề, ngụy, phỉ, đảng
phái phản động cũ, số lưu manh côn đồ, lôi kéo một số người bị oan sai, tổ
chức các cuộc vây bắt, đánh đập cán bộ cốt cán và đoàn cán bộ cải cách ruộng
17
đất để trả thù. Lợi dụng những sai lầm và công tác sửa chữa sai lầm trong cải
cách ruộng đất và công tác chỉnh đốn tổ chức của Đảng, những biến chuyển
xấu ở một số nước XHCN.
Số gián điệp, biệt kích đã tìm cách xâm nhập vào vùng dân tộc miền
núi, cấu kết với các đối tượng phản động tiếp tục hoạt động phá hoại, ám sát
cán bộ, cưỡng bức tài sản nhân dân, gây rối an ninh trật tự. Số này đã lôi kéo
được một số phần tử phản động trong tầng lớp trên của đồng bào dân tộc miền
Ngoài ra còn có thêm số ngụy binh, con cháu địa chủ… cũng tham gia các
hoạt động tội phạm này.
Để xây dựng thành công CNXH và củng cố trâ ̣t tự, an ninh vững chắ c ở
miề n Bắ c , làm cơ sở vững chắc cho c
uô ̣c đấ u tranh ở miề n Nam
, ngày
17/02/1960, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 186CT/TW về mấy công tác lớn phải làm để đẩy mạnh công tác đấu tranh, chống
bọn phản cách mạng, nhằm bảo vệ công cuộc cải tạo XHCN và xây dựng
CNXH ở miền Bắc. Trong Chỉ thị có nêu lên “Những bọn phản cách mạng ở
miền Bắc nước ta bao gồm: những bọn gián điệp của các nước đế quốc, các
nước tư bản và của bọn Diệm, bọn phản động lợi dụng đạo Thiên chúa; và các
lực lượng phản động khác có tổ chức hoặc cá nhân chưa có tổ chức chống đối
lại cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp thống nhất nước nhà” [38, tr.1].
Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu cần phải: Tích cực
giáo dục, cải tạo bọn tề, ngụy, phỉ cũ, tổ chức phản động cũ và các cơ sở xã
hội khác mà bọn phản cách mạng dễ dàng lợi dụng “Đi đôi với việc giáo dục
chung của Đảng về chủ nghĩa xã hội, đối với nhân dân yêu cầu của việc cải
tạo các tầng lớp này chủ yếu là làm cho bọn họ nhận rõ trước kia họ có tội với
nhân dân, nay đã được Chính phủ và nhân dân khoan hồng, thì cần phải tích
cực cải tạo thành người làm ăn lương thiện, tuân theo pháp luật của Nhà nước,
tích cực thực hiện các chính sách, ủng hộ cách mạng xã hội chủ nghĩa, không
được có những lời nói phản động hoặc hành động phá hoại” [38].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tháng 9 năm 1960 đã đề
ra nhiệm vụ “đi đôi và kết hợp với phát triển kinh tế, cần ra sức củng cố quốc
19
đó, tổ chức an ninh miền Nam lần lượt hình thành ở các địa phương từ khu,
tỉnh, huyện, nhiều nơi có cả bảo vệ an ninh xã.
Ngày 01/03/1961, Ban Chấp hành Trung ương có Chỉ thị số: 13CT/TW về tăng cường công tác đấu tranh chống cách mạng, giữ gìn trật tự an
ninh trong đó có nêu lên công tác TTGDCT: “Đối với những phần tử phản
cách mạng nguy hiểm cho trật tự an ninh chung để ở ngoài xã hội không có
lợi, nhưng hiện nay đưa ra Tòa án xử cũng không có lợi thì cần phải cưỡng
bức tập trung lao động cải tạo lâu dài để chủ động ngăn chặn những hoạt động
phá hoại của chúng và làm cho chúng trở thành người lao động lương
thiện”[39, tr.3].
Quán triệt tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) và các
Chỉ thị của Đảng , ngày 20/06/1961 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
Nghị quyết số 49/NQ/TVQH về việc tập trung giáo dục, cải tạo những phần
tử có hành động nguy hại cho xã hội, quy định những đối tượng từ đủ 18 tuổi
trở lên, có hành động nguy hại cho xã hội, đã được giáo dục nhiều lần mà
không chịu hối cải, nhưng xét thấy không cần đưa ra tòa án nhân dân để xử
phạt, đối tượng TTGDCT gồm 2 loại sau: Những phần tử phản cách mạng
ngoan cố có hành động phương hại đến an ninh chung và những phần tử lưu
manh chuyên nghiệp. Việc TTGDCT thực hiện theo phương châm giáo dục
chính trị kết hợp với cải tạo bằng lao động nhằm khuyến khích người được
giáo dục cải tạo cố gắng lao động sản xuất, học tập nghề nghiệp, cải tạo tư
tưởng để trở thành người lương thiện.
Ngày 09/08/1961, Hội đồng Chính phủ ra thông tư 121/CP hướng dẫn
thực hiện Nghị quyết số 49/NQ/TVQH, cụ thể hóa các loại đối tượng cần
TTGDCT. Hội đồng chính phủ đã quy định cụ thể các loại đối tượng trong đó
những phần tử lưu manh chuyên nghiệp phải đưa đi tập trung giáo dục cải tạo
gồm các đối tượng cụ thể là:
21
“1. Những tên cầm đầu lưu manh và những tên chuyên sống bằng nghề