ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ HỮU
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC
VỀ TƢ DUY SÁNG TẠO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ HỮU
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC
VỀ TƢ DUY SÁNG TẠO
Chuyên ngành: CNDVBC &CNDVLS
Mã số: 62 22 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
đã luôn sát cánh hỗ trợ, chia sẻ khó khăn, động viên tạo động lực cho tôi hoàn
thành luận án.
Tác giả luận án
Đào Thị Hữu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 3
CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN ............ 8
1.1. Tình hình nghiên cứu về tƣ duy, sáng tạo và tƣ duy sáng tạo .............. 8
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về tư duy ............................................................ 8
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về sáng tạo và tư duy sáng tạo ........................ 14
1.2. Tình hình nghiên cứu về các loại hình của tƣ duy sáng tạo ................ 21
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong khoa học .................. 21
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong nghệ thuật ................ 24
1.2.3. Tình hình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực khác ..... 26
1.3. Tình hình nghiên cứu về các yếu tố chủ quan và điều kiện khách quan
tác động đến tƣ duy sáng tạo......................................................................... 28
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về những yếu tố chủ quan tác động đến tư duy
sáng tạo ......................................................................................................... 28
1.3.2. Tình hình nghiên cứu về những điều kiện khách quan tác động đến tư
duy sáng tạo .................................................................................................. 30
1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu về tƣ duy sáng tạo và những vấn đề
đặt ra đối với luận án ..................................................................................... 33
CHƢƠNG 2:TƢ DUY VÀ TƢ DUY SÁNG TẠO.......................................... 37
2.1. Bản chất của tƣ duy và sáng tạo ............................................................ 37
2.1.1. Bản chất của tư duy ............................................................................ 37
2.1.2. Bản chất của sáng tạo ......................................................................... 47
tư duy sáng tạo ............................................................................................ 133
4.3.2. Những điều kiện khách quan thúc đẩy tư duy sáng tạo ở Việt Nam hiện
nay ............................................................................................................... 138
Kết luận chƣơng 4 ........................................................................................... 146
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .................................................................................. 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 151
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển của toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức trên thế giới
ngày nay, nhân loại đang tiến tới nền văn minh dựa trên tri thức và sáng tạo.
Nền tảng cho sự chuyển đổi này là nền kinh tế toàn cầu dựa trên sự đổi
mới tri thức không ngừng thay vì sự cung cấp nguồn tài nguyên và lao động giá
rẻ. Sự phát triển của nền kinh tế hiện đại ngày càng phụ thuộc chủ yếu vào sự
sáng tạo và đổi mới các sản phẩm và các quá trình. Sáng tạo và đổi mới cũng là
những thuật ngữ được nhắc đến nhiều trong các chương trình phát triển của các
quốc gia thời gian gần đây bởi vì nâng cao năng lực sáng tạo quốc gia, năng lực
sáng tạo của các cá nhân, tổ chức được coi như động lực cho sự phát triển kinh
tế và xã hội. Do đó, bài toán cơ bản đặt ra cho tất cả các quốc gia trong thế kỉ
XXIlà vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có tố chất cơ bản là
năng lực tư duy sáng tạo.
Chính phủ Việt Nam cũng đã nhận ra vai trò quan trọng của sáng tạo trong
sự phát triển kinh tế, xã hội và nỗ lực không ngừng để cải thiện năng lực sáng
tạo quốc gia bằng cách nâng cao năng lực hoạt động của thể chế, kiện toàn nền
chính trị, đầu tư cho xây dựng hạ tầng, giáo dục, nghiên cứu khoa học và công
tâm lý học sáng tạo, phương pháp luận sáng tạo. Các chuyên ngành khoa học
này đã đạt được nhiều thành tựu trong nửa cuối thế kỉ XX trở lại đây. Tuy nhiên,
mặc dù trong các nghiên cứu triết học riêng lẻ có đề cập đến và đạt được những
thành tựu nghiên cứu quan trọng về sáng tạo tri thức, nhưng ở phương Tây cho
đến đầu thế kỉ XXI vấn đề tư duy sáng tạo vẫn chưa thực sự được nhận ra như
một vấn đề triết học quan trọng. Nghiên cứu về tư duy sáng tạo do đó còn thiếu
những nghiên cứu khái quát, hệ thống về mặt lý luận.
Ở Việt Nam, số công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo còn ít ỏi, hơn nữa
chủ yếu là các công trình mang tính chất lược thuật những kết quả nghiên cứu
của các tác giả nước ngoài, đặc biệt cũng còn thiếu những nghiên cứu lý luận
mang tính khái quát.
Nghiên cứu khái quát về vấn đề này sẽ là cơ sở cho việc tìm hiểu tư duy
sáng tạo trong những lĩnh vực cụ thể, và áp dụng vào việc nâng cao năng lực
sáng tạo của mỗi người, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao vị thế cạnh tranh
4
của quốc gia. Vì lẽ đó, tôi chọn: “Một số vấn đề triết học về tư duy sáng tạo”
làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1.Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án làkhái quát một số vấn đề lý luận chung,
cơ bản về tư duy sáng tạo dưới góc độ triết học bao gồmbản chất, tính quy luật
của tư duy sáng tạo, đặc trưng củamột số loại hình tư duy sáng tạo chủ yếu và
những yếu tố, điều kiện thúc đẩy tư duy sáng tạo.
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để thực hiện mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt
ra đối với luận án.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận của luận án
Đề tài sử dụng quan điểm triết học mácxit về tư duy, quan điểm phát triển,
quan điểm thực tiễn, và một số lý thuyết mới về tư duy và sáng tạo.
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với các phương pháp
như: thống nhất lôgic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần làm rõ bản chất của tư duy sáng tạo, chỉ ra đặc điểm, các
tính quy luật và yếu tố tác động đến tư duy sáng tạo.
Luận án đã khái quát và phân tích các yếu tố mới thúc đẩy tư duy sáng tạo
như: sự giao lưu, tiếp biến văn hóa; môi trường xã hội có dân chủ và có cơ chế
để thực hiện dân chủ; tính chủ thể và sự tự do nội tâm của chủ thể sáng tạo; và
bước đầu chỉ ra một số những yếu tố chủ quan và điều kiện khách quan thúc đẩy
tư duy sáng tạo ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1.Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần hệ thống hóa, khái quát hóa, làm rõ một số vấn đề triết
học cơ bản, chung về tư duy sáng tạo. Những luận điểm có tính khái quát của
luận án có thể dùng làm cơ sở cho những nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong
các lĩnh vực cụ thể.
6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao
học và nghiên cứu sinh cùng những ai quan tâm nghiên cứu về tư duy sáng tạo.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
án bao gồm 4 chương với 12 tiết.
người, và cùng với sự vận động của đời sống ấy, tư duy luôn vận động sản sinh
quan niệm mới, tư tưởng mới về hiện thực. Đó là những quan điểm, cách tiếp
cận có tính chất nền tảng cho luận án khi nghiên cứu vấn đề tư duy và tư duy
sáng tạo.
8
Tiếp tục tư tưởng của các bậc tiền bối, trong những tài liệu nghiên cứu
chuyên sâu về tư duy có cuốn “Lôgic học biện chứng”[61] của tác giả
E.V.ILencov (2003). Những quan niệm của ông về tư duy có vai trò phương
pháp luận rất quan trọng đối với việc xác định bản chất của tư duy của luận án.
Trong sự quan tâm hết sức rộng đối với vấn đề tư duy như một vấn đề quan
trọng của triết học, đồng thời là đối tượng nghiên cứu của lôgic học biện chứng,
sáng tạo triết học nổi bật của Ilencov chính là vấn đề “cái tư tưởng”, mà qua đó
tác giả đã làm rõ nguồn gốc, bản chất của tư duy. Ilencov đã phát triển tư tưởng
về “sự đồng nhất tư duy và tồn tại”, trong đó nội dung của tư duy, do vậy cả của
tư duy sáng tạo chính là bản thân hiện thực đời sống con người, là tính quy luật
của tự nhiên đã bị “vượt bỏ” trong tồn tại văn hóa của nó. Văn hóa không phải là
sự tiếp tục của tự nhiên mà là sự “vượt bỏ” nó, là tự nhiên ở trình độ con người.
“Cái vật chất” là khởi đầu của “cái tư tưởng”. Ilencov đã nhìn ra tính thống nhất
trong chỉnh thể của “cái tư tưởng” và “cái vật chất” trong hoạt động người,
không có tư tưởng thiếu vật chất và cũng không có vật chất thiếu tư tưởng trong
sinh tầng văn hóa của tồn tại người. Trong hoạt động người diễn ra sự chuyển
hóa “cái vật chất” thành “cái tư tưởng” và ngược lại. Cũng như C.Mác quan
niệm về một “giới tự nhiên nhuốm đầy lý tính”, với Ilencov thế giới văn hóa của
con người cũng thấm đẫm “tính tư tưởng”. “Cái tư tưởng” là phương thức, hình
thức hoạt động sống của con người xã hội. Tư duy chỉ sinh thành, phát triển
trong hoạt động sống đó, trong thế giới văn hóa chứ không phải thuộc tính bẩm
sinh của bộ não. Với quan điểm của mình, Ilencov làm rõ biện chứng của sự
sinh thành năng lực tư duy, sự hình thành nhân cách con người, hơn ai hết ông
mặc dù là sản phẩm của con người nhưng nó có tính độc lập, tự trị, tự phát sinh
các vấn đề mới mẻ nằm sẵn ở đó, và sự tăng trưởng của tri thức khách quan
chính là thông qua sự tương tác, phản hồi giữa “bản thân chúng ta với thế giới
thứ ba” [103; 163]. Sự tồn tại của tri thức khách quan và thế giới thứ ba là cơ sở
nền tảng cho sự tiến bộ của tri thức, là cơ sở cho sự phát sinh ý thức “toàn diện”
của con người về bản thân. Đó là “thế giới đặc thù của loài người”, chỉ con
người với bản chất suy tư, có lý tính và khả năng phản hồi mới có khả năng
tham gia tương tác với nó. Mặc dù quan niệm có màu sắc duy tâm nhưng cách
tiếp cận của Karl Popper đã gợi mở nhiều vấn đề về quá trình sáng tạo tri thức
10
của con người. “Tri thức khách quan” là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu
về tiến hóa tri thức của loài người.
Tham gia cuộc tranh luận về sự tiến bộ của tri thức còn có tác giả Thomas
Kuhn (2008) với cuốn “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học” [66].
Đúng như tên của nó, cuốn sách trình bày, phân tích lôgic của quá trình ra đời
hay “sự lộ diện của một lý thuyết hay một phát hiện mới” [66; 24] trong khoa
học. Tác giả tập trung phân tích nguyên nhân, những điều kiện bên trong lòng
của một nền khoa học đã dẫn tới sự tiến bộ của nó như thế nào, từ đó đưa ra
quan niệm theo tác giả là “hoàn toàn mới” về bản thân lịch sử phát triển của
khoa học - đó là sự phát triển không phải bằng con đường “tích lũy”, bổ sung
những luận điểm mới mà thông qua các cuộc cách mạng làm thay đổi nền tảng
của khoa học. Mỗi tri thức hay lý thuyết mới ra đời không phải là sựgóp thêm,
hay tăng thêm vào kho tàng tri thức nhân loại mà kéo theo nó là sự dịch chuyển
các vấn đề, thay đổi cách nhìn, cách tiếp cận, thiết lập “một nền tảng mới cho
hoạt động thực tiễn của khoa học” [66;42]. Do đó: “một lý thuyết mới cũng
hiếm khi, nếu không muốn nói là không bao giờ là sự gia tăng của những gì
người ta đã biết” [66; 44]. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích quá trình phát sinh tri
đỡ” vật chất: bộ não, ngôn ngữ, thư tịch.
Với những nỗ lực không hề nhỏ, các nhà nghiên cứu phương Tây đã góp phần
làm sáng tỏ bản chất của tư duy và cách thức tiến triển của tri thức loài người.
Ở Việt Nam những nghiên cứu về tư duy theo lập trường triết học Mác
thường tập trung làm rõ, cụ thể hóa những luận điểm đã được C.Mác, Ph.
Ănghen và V.I.Lênin trình bày trong kinh điển.
Bài viết “Góp thêm một cách hiểu về tư duy” [133] của tác giả Nguyễn Thị
Thúy Vân (2013) đã phân tích bản chất và đặc trưng của tư duy ở những chiều
cạnh sâu sắc. Theo tác giả “tư duy không chỉ là sự phản ánh mà còn là một quá
trình, một hoạt động” [133; 42]. Tư duy phản ánh hiện thực khách quan nhưng
là sự phản ánh mang tính đặc thù, có sự biến đổi, cải biến “tách thoát khỏi sự tác
động trực tiếp, bề ngoài, ngẫu nhiên của đối tượng để đi đến những nhận thức
sâu sắc về bản chất, quy luật của đối tượng” [133; 44]. Tư duy còn là một quá
trình, một hoạt động tiến tới cái mới, biến đổi chính nó. Dựa trên những phân
tích của E.V. Ilencov tác giả cũng đặt ra vấn đề quan trọng về sự phát triển của
tư duy ở đó sự tái tạo đối tượng trong tư duy không chỉ phụ thuộc vào bộ não,
12
ngôn ngữ, hoạt động thực tiễn mà còn phụ thuộc vào hình thức tư tưởng, những
“biểu tượng” tồn tại trong sinh tầng văn hóa.
Các bài viết trong cuốn “Khoa học tư duy từ nhiều tiếp cận khác nhau”
[94] của tập thể các tác giả đã phân tích tư duy từ nhiều góc nhìn: triết học, tâm
lý học, xã hội học; trên nhiều phương diện và loại hình: tư duy giáo dục, tư duy
nghệ thuật, tư duy kinh tế, tư duy phức hợp, tư duy hệ thống. Cuốn sách cung
cấp những tư liệu phong phú, những suy tư đầy tính gợi mở cho luận án.
Tư duy cũng được phân loại theo nhiều lát cắt khác nhau. Tác giả Trần
Đình Thỏa (2002) với bài viết “Một số vấn đề tư duy biện chứng mác - xít”[125]
đã khái quát và chỉ ra đặc điểm của một số loại hình tư duy: tư duy biện chứng
cổ đại, tư duy siêu hình, tư duy biện chứng duy tâm, tư duy biện chứng duy vật.
Nghiên cứu về sáng tạo xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, khi các nhà triết
học Hi lạp cổ đại đưa ra những quan niệm đầu tiên về sáng tạo như quá trình
sinh thành, biến đổi không ngừng (Hêracơlit); như cảm hứng thần thánh (Plato),
thậm chí là sự mô phỏng, bắt chước (Aristotles). Nhưng chỉ đến thế kỉ
XX,nghiên cứu về sáng tạo và xây dựng khoa học sáng tạo mới thực sự trở
thành vấn đề khoa học có tính cơ bản.
Mặc dù các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không trực tiếp
nghiên cứu những vấn đề lý luận về sáng tạo nhưng thấm sâu trong quan điểm
của các ông, sáng tạo luôn được coi là thuộc tính bản chất của con người, của
hoạt động người và của văn hóa. Trong quá trình luận bàn về thế giới, con người
và tư duy của họ, chỉ ra tính đặc thù của con người và hoạt động người, cũng
như lý giải nguyên nhân, động lực cho sự tiến bộ, phát triển của xã hội các ông
đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến hoạt động sáng tạo của con người.
Con người xét về bản chất là “thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa là
thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài” [83; 232 - 234];
“hoạt động sinh sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sinh
sống của con vật...Con người là một sinh vật có ý thức, nghĩa là đời sống của
bản thân con người là một đối tượng đối với con người” [83; 234]. Nhờ tính chất
đặc biệt ấy, con người không hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên mà cải tạo tự
nhiên, sáng tạo ra đời sống của mình, không ngừng phát triển nó. Trong quá
trình hoạt động có ý thức, con người chuyển hóa tự nhiên thành văn hóa, là chủ
thể của hoạt động, từng bước vươn tới trở thành chủ thể tự do như Ph. Ăngghen
14
nhận định mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa chính là một bước tiến tới
tự do. Những chỉ dẫn có tính chất phương pháp luận trên là cơ sở triết học quan
trọng cho việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo.
Từ thế kỉ XX cho đến nay, trên thế giới, sáng tạo được quan tâm nghiên
cứu trong nhiều lĩnh vực triết học, tâm lý học, phương pháp luận mà lĩnh vực đi
tạo ra các giá trị mới. Quá trình sáng tạo có đặc trưng là kết quả của nó đồng
thời là khởi đầu cho quá trình sáng tạo tiếp theo.
Tác giả Lê Huy Hoàng (2002) với cuốn Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu
để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay [42]đã hệ thống, khái
quát những quan niệm về sáng tạo trong lịch sử triết học từ thời Hi lạp cổ đại với
quan niệm thần thánh hóa hoạt động sáng tạo nghệ thuật (Platon), thời cổ đại sáng
tạo chịu ảnh hưởng của quan niệm tôn giáo, sáng tạo đích thực là thuộc về Chúa,
đến thời Phục Hưng đề cao sáng tạo nghệ thuật “sự sáng tạo luôn được thể hiện
như một nghệ thuật, mà bản chất đặc trưng của nó là ở tính trực quan” [42; 16],
thời kì Khai sáng sáng tạo là kết quả của quá trình suy tư với khả năng thực tiễn
tạo ra sản phẩm cụ thể và ở triết học cổ điển Đức, bản chất của sáng tạo là hoạt
động thực tiễn - tinh thần mang các đặc trưng cơ bản như tính hợp lý, tự do, tính
phổ biến và tính toàn vẹn. Tác giả cũng phân tích bản chất của sáng tạo trên lập
trường triết học mácxít và chỉ ra những điều kiện cơ bản kích thích sáng tạo. Theo
tác giả: “sáng tạo là quá trình hoạt động của con người, trên cơ sở nhận thức được
các quy luật của thế giới khách quan, tạo nên những giá trị tinh thần và vật chất
mới về chất, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội” [42; 39].
Cuốn “Diện mạo triết học phương Tây hiện đại” [47] của tác giả Đỗ Minh
Hợp (2006) truyền tải nhiều quan điểm có giá trị của triết học phương Tây hiện
đại về tồn tại người, văn hóa, khoa học và lịch sử giúp soi sáng những chiều
cạnh đa dạng của sáng tạo và tư duy sáng tạo trong nền văn hóa. Ở đây, con
người được đặt ở vị trí trung tâm của triết học, con người với tư cách “thực thể
thường xuyên tìm kiếm bản thân mình, suy xét, thể nghiệm bản thân và điều
kiện tồn tại của mình” [47; 221]. Cách tiếp cận khoa học - khách quan không đủ
để làm sáng tỏ con người nhất là chiều sâu tâm linh của nó, tính người của nó.
Sáng tạo là một trong những đặc trưng cho tính người, tồn tại người: “năng lực
trở thành con người là năng lực trở nên không đồng nhất với hoạt động của
mình”; “con người vượt lên trên cái mà nó đã thực hiện” [47; 249]. Sáng tạo là
16
của tự nhiên - “là hoạt động tạo ra bất kì cái gì có đồng thời tính mới và tính ích
17
lợi” [15;21]; trình bày một cách hệ thống các phương pháp, kĩ năng sáng tạo
[17,18,19,20] và nghiên cứu tư duy sáng tạo dưới góc độ tâm lý [16].
Trụ cột chính cho các phân tích của tác giả là quan điểm sáng tạo của
Alshuller với cách tiếp cận khách quan về sáng tạo, lý thuyết giải các bài toán
sáng chế, hệ thống các phương pháp và thủ thuật sáng tạo. Tác giả coi “đây là
cách tiếp cận duy nhất hiện nay trong lĩnh vực sáng tạo và đổi mới, nhắm đến
xây dựng phương pháp luận” [21; 14]. Lý thuyết giải các bài toán sáng chế “là
một lý thuyết chứ không phải là một trong số các phương pháp sáng tạo của
phương pháp luận sáng tạo và đổi mới”, “lý thuyết tương đối khái quát về sự
phát triển của các hệ thống” [21; 40]. Nhiệm vụ của nó là đi tìm các quy luật
phát triển hệ thống dựa trên các thông tin về sự phát triển, kể cả những phát triển
không có con người tham gia. Quy luật khách quan của phát triển hệ thống giúp
xây dựng cơ chế định hướng trong tư duy sáng tạo. Ngoài ra, tác giả còn giới
thiệu cho độc giả rất nhiều các trường phái, phương pháp sáng tạo đa dạng trên
thế giới.
Khái niệm tư duy sáng tạo mới chỉ thực sự được bàn đến như một khái
niệm khoa học từ thế kỉ XX trở lại đây với hướng nghiên cứu đi sâu phát hiện
đặc điểm, phương pháp, kĩ năng đặc thù của loại tư duy này. Năm 1938, tác giả
Alex Osborn đưa ra phương pháp “tập kích não” (Brainstorming Method) nhằm
kích thích tư duy sáng tạo phát sinh ý tưởng. Phương pháp này có mục đích thu
được thật nhiều ý tưởng mới mẻ để giải quyết vấn đề bằng cách làm việc tập thể
theo những quy tắc nhất định như: tập thể phát các ý tưởng phải có những người
thuộc các ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn khác nhau; quá trình các thành viên
tạo ra ý tưởng phải thật sự tự do, thoải mái, không có bất cứ sự phê bình, nhận
xét nào; quá trình phát ý tưởng và quá trình đánh giá, phân tích các ý tưởng phải
độc lập với nhau. Đây là phương pháp hiệu quả để thu thập ý tưởng, tuy nhiên,
Trong “Đột phá sức sáng tạo” [89], tác giả Michael Michalko (2007) khảo
sát các “chiến lược tư duy” của các thiên tài nhằm phát hiện ra cách thức tư duy
tạo ra các ý tưởng mới, có tính đột phá. Thông qua chín chiến lược tư duy, tác
giả đã phân tích, gợi mở tính độc đáo của tư duy sáng tạo như: khả năng nhìn
nhận vấn đề theo nhiều góc độ, khả năng kết hợp những yếu tố ngẫu nhiên, năng
lực tưởng tượng, hình tượng hóa suy nghĩ, năng lực vượt lên kinh nghiệm đã có
19
và những điều đã được thừa nhận. Những phân tích của tác giả có sức gợi mở
lớn đối với việc làm rõ đặc điểm của tư duy sáng tạo.
Trong tác phẩm “Tâm lý học sáng tạo” [95] tác giả Phạm Thành Nghị
(2013) cũng giới thiệu nhóm các lý thuyết quan niệm tư duy sáng tạo là hoạt
động giải quyết vấn đề một cách sáng tạo bao gồm lý thuyết chức năng trí tuệ
của Guilford (trong đó tư duy phân kì và tư duy hội tụ là hai thao tác quan trọng
nhất trong cấu trúc của trí tuệ), lý thuyết tư duy định hướng của Eward de Bono,
lý thuyết ba thành tố của Sternberg, mô hình tương tác giữa lĩnh vực - cá nhân chuyên ngành của Csikszentimihalyi, tư duy ẩn dụ và giải quyết vấn đề của
Gordon, và kịch bản xã hội của Torrance. Trên cơ sở đó, tác giả đi đến khẳng
định tư duy sáng tạo như là “hoạt động giải quyết vấn đề mới”, trong đó “Tư
duy sáng tạo là sự thống nhất của yếu tố trực giác và yếu tố lôgic” [95; 219]
Tác giả Phan Dũng (2010) trong “Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới”
[15] quan niệm tư duy sáng tạo là loại tư duy “nhìn xa, trông rộng, xem xét toàn
diện, thấy và giải quyết các mâu thuẫn để tạo ra sự phát triển liên tục, đầy đủ, ổn
định và bền vững”. Tác giả khẳng định: “Sáng tạo học có đối tượng nghiên cứu và
tác động là tư duy sáng tạo (quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định)
của con người. Trong đó, các nghiên cứu cơ bản có nhiệm vụ phát hiện các quy luật
của tư duy sáng tạo. Trên cơ sở các quy luật tìm ra, các nghiên cứu ứng dụng xây
dựng và phát triển các phương pháp nhằm hoàn thiện tư duy sáng tạo” [15; 90].
Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ có bàn về tư duy sáng tạo trong đó có luận
chắc chắn, tuyệt đối đúng cả. Do đó “ta phải xem mọi quy luật hoặc lý thuyết
đều mang tính giả thuyết hay tính phỏng định, có nghĩa chúng chỉ là những
phỏng đoán” [103; 31] bởi vì tất cả chúng cuối cùng đều có nguy cơ “bị đổ”.
Vấn đề đặt ra đối với nhận thức không phải là đi tìm kiếm nền tảng chắc chắn
cho tri thức như cách mà một số nhà triết học trước ông đã làm mà cần đưa ra
tiêu chuẩn lựa chọn lý thuyết.
Trên cơ sở đó ông đã “khởi thảo phương pháp luận phê phán” của mình và
đưa ra định luật kiểm sai. Vấn đề phân biệt giả thuyết đúng - sai trong khoa học
chuyển thành vấn đề phân biệt giả thuyết bị bác bỏ - giả thuyết chưa bị bác bỏ
bởi vì cuối cùng tất cả rồi cũng sẽ bị bác bỏ, trong đó “chúng ta ưu tiên lựa chọn
những lý thuyết mà chỗ sai lầm của chúng chưa được xác định” [103; 30]. Một
21