ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ THU HƯƠNG
NGÃ BA ĐỒNG LỘC - QUYẾT CHIẾN
ĐIỂM TRÊN MẶT TRẬN GIAO THÔNG
VẬN TẢI TRONG CHỐNG CHIẾN TRANH
PHÁ HOẠI
LẦN THỨ NHẤT (1965 - 1968)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ...........................................................................................
1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM GIAO
THÔNG VẬN TẢI Ở KHU 4 VÀ HÀ TĨNH TRONG CHỐNG CHIẾN
TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT (1965- 1968) ....................................
10
1.1. Vị trí địa lý và vai trò của giao thông vận tải trên địa bàn
10
CHIẾN ĐẤU TRÊN MẶT TRẬN BẢO ĐẢM GTVT Ở QUÂN KHU 4,
HÀ TĨNH VÀ NGÃ BA ĐỒNG LỘC TRONG CHỐNG CHIẾN TRANH
PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT. THỰC TIỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT
RA TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN
NAY .........................................................................................................
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................
113
PHỤ LỤC ...........................................................................................
117
Những chữ viết tắt
GTVT
: giao thông vận tải.
TNXP
: thanh niên xung phong.
LLVT
: lực lượng vũ trang.
tiến lên giành thắng lợi.
Từ việc xác định rõ vai trò đặc biệt của GTVT trong đấu tranh giành độc
lập, ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta đã chú ý ngay đến việc củng cố, xây dựng và phát triển mạng lưới GTVT.
Theo phương châm chỉ đạo của Người: “Giao thông là mạch máu của mọi
việc. Giao thông tắc thì việc gì cũng tắc. Giao thông tốt thì việc gì cũng dễ
dàng” [26; tr.79], với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, chỉ sau 10 năm
(1954-1964) các trục đường giao thông chính của miền Bắc được củng cố và
phát triển, hệ thống GTVT ở các địa phương được củng cố và mở rộng thêm.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất, Ngành GTVT đã góp
phần quan trọng vào công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và chuẩn bị cơ
sở vật chất cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược ra phạm vi cả nước,
Ngành GTVT cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc và ra sức chi viện cho
chiến trường miền Nam. Cũng từ đó, việc đánh phá hệ thống GTVT nhằm cắt
đứt sự chi viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam luôn là
mục tiêu chiến lược của không quân, hải quân Mỹ. Giao thông vận tải trở
thành một mặt trận vô cùng khó khăn, gian khổ, là nơi đọ sức quyết liệt giữa ý
1
chí và trí tuệ Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn và sức mạnh tối tân của
bom đạn Mỹ. Công tác bảo đảm GTVT trên tuyến chi viện chiến lược Bắc Nam chính là đảm bảo cho mạch máu giao thông giữa tiền tuyến và hậu
phương luôn được thông suốt - một nhân tố bảo đảm cho thắng lợi của cuộc
kháng chiến.
Do đặc điểm và vị trí địa lý đặc biệt của đất nước ta, dải đất hẹp Khu 4
(bao gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình) - nơi hành
lang vận tải chiến lược đi qua, trong kháng chiến chống Mỹ trở thành địa bàn
Đồng Lộc đã vượt lên những tính toán thông thường về chiến tranh của các
thế lực đế quốc và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho hôm nay và
mai sau. Vì thế, chúng tôi chọn: “Ngã ba Đồng Lộc - Quyết chiến điểm trên
mặt trận giao thông vận tải trong chống chiến tranh phá họai lần thứ nhất
(1965- 1968)” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về đảm bảo giao
thông vận tải, chi viện cho tiền tuyến qua địa bàn Khu 4, tỉnh Hà Tĩnh nói
chung và Ngã ba Đồng Lộc nói riêng. Đó là:
- Ngã ba Đồng Lộc - Quyết chiến điểm trên mặt trận GTVT (3.1968 - 10.
1968) - Khóa luận tốt nghiệp cử nhân của Nguyễn Văn Ngọc, Khoa Sử - Đại
học Tổng hợp Hà Nội năm 1981. Nội dung khóa luận đã viết khá cụ thể, sinh
động về cuộc chiến đấu trên mặt trận GTVT ở Ngã ba Đồng Lộc trong thời kỳ
đế quốc Mỹ tiến hành “ném bom hạn chế”; đã phân tích và nêu ra những nhận
xét chính xác, khoa học về vai trò lãnh đạo và tổ chức của Đảng, sự hy sinh
và đóng góp của các lực lượng cùng nhân dân địa phương làm nhiệm vụ trên
tuyến. Luận văn đã rút ra nhiều kinh nghiệm và bài học bổ ích trong công tác
lãnh đạo, xây dựng hệ thống GTVT thời bình. Tuy nhiên, do phạm vi đề tài
tác giả chọn địa bàn chủ yếu là Ngã ba Đồng Lộc mà chưa chú ý đặt trong bối
3
cảnh chung của cuộc chiến đấu trên mặt trận GTVT ở Khu 4 và Hà Tĩnh thời
kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất nên chưa nêu rõ ý nghĩa của thắng lợi ở
Đồng Lộc đã góp phần đánh bại âm mưu thâm độc của giới cầm quyền Nhà
trắng sau thất bại của cuộc Tổng tiến công đợt Tết Mậu thân và trước khi phải
ngồi vào bàn đàm phán Hội nghị Pa - ri.
- Mặt trận GTVT trên địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước - Kỷ yếu hội thảo khoa học do Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân
sự Việt Nam phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tổ chức năm 2001. Cuốn
dung đề cập đến công tác bảo đảm hậu cần trên địa bàn Khu 4 cũng được khai
thác từ nguồn tư liệu lưu trữ ở Bộ Quốc phòng, cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu
4. Tuy nhiên, phần viết về Ngã ba Đồng Lộc còn ít ỏi, hạn chế.
Trong các cuốn sách: Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ, tập 1, Nxb QĐND, 1982; Tổng kết bảo đảm GTVT
trong chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tại địa
bàn Nghệ An (1964 - 1973), Nxb QĐND, 2005, Lịch sử vận tải Quân đội
nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Lịch sử Quân chủng Phòng không, Tập 2,
Nxb QĐND, Lịch sử Sư đoàn phòng không 367 (1953- 2003)... nội dung bảo
đảm GTVT ở Khu 4 và Hà Tĩnh được đề cập đến như là một nội dung trong
quá trình chiến đấu, xây dựng, bảo đảm của các lực lượng làm nhiệm vụ trên
tuyến.
Ngoài ra, còn có một số công trình, bài viết đăng trên các báo, tạp chí
như: Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Lịch sử quân sự, báo Hà
Tĩnh.v.v. Nội dung các bài viết tập trung nghiên cứu về công tác bảo đảm
GTVT ở Hà Tĩnh và Ngã ba Đồng Lộc trên những nội dung cụ thể.
Tất cả các công trình trên là nguồn tài liệu quý giá, gợi mở để tác giả
tham khảo và kế thừa, phát triển, đồng thời đối chiếu, so sánh khi tiếp xúc với
các sự kiện lịch sử, xử lý tư liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những hoạt động, kết quả và ý nghĩa của công tác bảo đảm
GTVT ở Hà Tĩnh và Ngã ba Đồng Lộc trong thế trận hậu cần, bảo đảm chi
viện cho tiền tuyến qua địa bàn Khu 4.
- Chứng minh việc bảo đảm GTVT qua Ngã ba Đồng Lộc là vấn đề có ý
nghĩa chiến lược trên tuyến chi viện bằng đường bộ từ hậu phương miền Bắc
4.1. Nội dung
Trên cơ sở khái quát hoạt động và kết quả trên mặt trận GTVT ở Khu 4
và Hà Tĩnh trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, nội dung luận văn
tập trung đi sâu nghiên cứu vị trí, vai trò, hoạt động và kết quả đạt được trong
cuộc đọ sức quyết liệt, cam go giữa quân dân Đồng Lộc với không quân Mỹ
thời kỳ “ném bom hạn chế”. Từ đó, đề tài sẽ làm rõ hơn vị trí, ý nghĩa của
công tác giao thông vận tải trên một quyết chiến điểm chiến lược đã góp phần
làm thất bại mưu đồ “ngăn chặn”, đi đến cắt đứt tuyến chi viện Bắc - Nam với
những cố gắng cao độ để cứu vãn những thất bại của giới cầm quyền Nhà
Trắng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.
4.2. Thời gian
Thời gian quân và dân ta tiến hành chống chiến tranh phá hoại miền Bắc
lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 - 1968).
4.3. Không gian
Chủ yếu tập trung ở vùng Ngã ba Đồng Lộc huyện Can Lộc (Hà Tĩnh)
và mở rộng phạm vi ra tỉnh Hà Tĩnh và Khu 4.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
- Một số văn kiện của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh và Đảng
bộ huyện Can Lộc.
7
- Nguồn tư liệu đã xuất bản được lưu giữ ở Thư viện Quốc gia, Thư viện
Quân đội, Bảo tàng Quân khu 4, Bảo tàng Đồng Lộc.
- Nguồn tư liệu chưa xuất bản (dự thảo, bản đánh máy) được soạn thảo
và lưu giữ tại Ban Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ chỉ huy quân sự
tỉnh Hà Tĩnh.
- Nhân chứng là cán bộ, cựu thanh niên xung phong tham gia làm nhiệm
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc hiện nay đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết. Với những bài học từ trong
thực tiễn đấu tranh cách mạng để giành độc lập, thống nhất sẽ giúp người
nghiên cứu có cái nhìn toàn diện, thấu đáo hơn, góp phần cùng Đảng và nhân
dân thực hiện những chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo trong công
cuộc xây dựng đất nước tiến lên trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cục của
luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về hoạt động bảo đảm giao thông vận tải ở Khu 4
và Hà Tĩnh trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968).
- Chương 2: Ngã ba Đồng Lộc - Quyết chiến điểm trên mặt trận GTVT
trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968)
- Chương 3: Một số bài học kinh nghiệm trong cuộc chiến đấu trên mặt
trận GTVT ở Ngã ba Đồng Lộc. Thực tiễn và những vấn đề rút ra trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
9
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM GIAO THÔNG VẬN TẢI
Ở KHU 4 VÀ HÀ TĨNH
TRONG CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT
(1965- 1968)
1.1. Vị trí địa lý và vai trò của giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4.
Trên dải đất Việt Nam hình chữ S, Khu 4 ở vào khoảng 16,2 đến 20,3 độ
vĩ Bắc, 103,5 đến 108,10 độ kinh Đông. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954
thủ đất nước. Sông suối ở Khu 4 từ miền núi cao chảy cắt ngang giữa các tỉnh,
huyện, qua đường số 1, đường sắt... tạo nên một hệ thống cầu phà phức tạp.
Đây cũng là những trọng điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ, gây cho ta rất
nhiều khó khăn trong việc khắc phục, cơ động lực lượng và vận chuyển theo
đường bộ, đường sắt.
Vùng biển và ven biển Khu 4 ngoài khơi gần bờ có 11 đảo lớn nhỏ, trong
đó có những đảo lớn: Hòn Mê, Hòn Mắt, Hòn Ngư, Cồn Cỏ có vị trí quan
trọng về chiến lược, chiến thuật.
Về khí hậu, Khu 4 thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình
trên dưới 2.000mm/ 1 năm nhưng phân bố không đều. Lượng mưa tập trung
vào tháng 8, 9, 10. Ở Thanh Hoá mưa sớm hơn Nghệ An, Nghệ An mưa sớm
hơn Quảng Bình, Vĩnh Linh khoảng 1 tháng, do đó mùa mưa ở Khu 4 thường
kéo dài đến cuối tháng 12 mới hết. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10,
kèm theo gió Tây tạo ra khô nóng, nhiệt độ trung bình 25 - 300 C, có lúc lên
đến 400 C. Do mưa lớn và hạn hán kéo dài nên thường bị lũ lụt hoặc hạn hán
từ tháng 7 đến tháng 10. Nơi đây cũng thường phải hứng chịu những cơn bão
lớn hoặc áp thấp từ biển tràn vào, thỉnh thoảng có lốc xoáy trên diện rộng.
Những đặc điểm về địa hình, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt trên đây đã
ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế, văn hoá, xã hội của cư dân sống trên
địa bàn Khu 4, đặc biệt có ảnh hưởng rất lớn đối với việc xây dựng và hoạt
động GTVT.
11
Ngay khi hiệp định Giơ-ne-vơ chưa được ký kết, với tầm nhìn xa, trông
rộng, ngày 15-7-1954 tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá II) Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: Mỹ là kẻ thù chính của hoà bình thế giới, là
kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào... Chính sách của ta là
tranh thủ hoà bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ. Với đế quốc
đội Trường Sơn - tuyến đường mang tên Hồ Chí Minh đã tiến lên từ thô sơ,
gùi cõng đến vận tải cơ giới. Cũng từ đó, nhiệm vụ bảo đảm giao thông và
vận tải qua địa bàn Khu 4 tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiến lược
Trường Sơn càng được đặt ra khẩn thiết hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ vị trí địa lý đặc biệt và nhiệm vụ cách mạng chiến lược
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Khu 4 vừa là hậu phương trực
tiếp của chiến trường miền Nam và chiến trường Nam Đông Dương, vừa là
tiền tuyến của hậu phương miền Bắc XHCN. Đây cũng là nơi hội tụ đủ tất cả
các tuyến giao thông chiến lược Bắc- Nam, nơi khởi nguồn của tuyến đường
Trường Sơn huyền thoại. Từ hậu phương miền Bắc gần như hết thảy lực
lượng, vật chất chi viện cho miền Nam, Trung - Hạ Lào, Cam-pu-chia đều
phải qua vùng đất Khu 4.
Trong 10 năm (1955 - 1964) tranh thủ thời gian hoà bình, quân và dân
Khu 4 đã ra sức khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng củng
cố quốc phòng - an ninh, trong đó chú trọng củng cố và xây dựng hệ thống
giao thông vận tải, tuy chất lượng chưa cao nhưng đa tuyến, có giá trị về kinh
tế và quốc phòng, lúc thời bình cũng như thời chiến. Theo Trung tướng
Nguyễn Khắc Dương - Nguyên Tư lệnh Quân khu 4 trong bài viết tham gia
hội thảo khoa học “Mặt trận GTVT trên địa bàn Quân khu 4 trong kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước” cho biết: Tuyến đường sắt Bắc- Nam qua địa bàn
Quân khu dài 774,6 km, có 70 ga lớn nhỏ, phần lớn chạy dọc đồng bằng gần
như song song với đường số 1 cùng với các tuyến đường phụ (Cầu Giát Nghĩa Đàn; Vinh - Cửa Lò; Vinh - Bến Thuỷ). Khối lượng vận chuyển qua
13
đường sắt khá cao nhưng rất dễ bị địch khống chế, chia cắt. Tuyến đường bộ
có đường số 1 chạy dọc ven biển gần đường sắt, qua hai đèo cao (đèo Ngang,
đèo Lý Hoà); qua nhiều phà, cầu lớn nên dễ bị địch phát hiện, đánh phá.
Đường 15 từ Vạn Mai (giáp giới Thanh Hoá, Hoà Bình) chạy dọc Đông
Trường Sơn. Ngoài ra, các trục đường ngang nối Việt Nam với Lào như
đường 217 (Đồng Tâm - Sầm Nưa), đường số 7 (Diễn Châu - Nậm Cắn),
đường 8 (Bãi Vọt - Lạc Xao) cũng nhanh chóng được hoàn thành. Trên tuyến
đường thủy hầu hết các cầu cảng, kho tàng, bến bãi, luồng lạch ở những vị trí
xung yếu đã được nạo vét, tu sửa, xây dựng thuận tiện cho tàu thuyền của hải
quân và dân quân ra vào, xếp dỡ hàng neo đậu. Kênh nhà Lê được nạo vét,
khơi thông. Nhiều ghềnh thác trên sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố miền núi rừng
Hà Tĩnh, Quảng Bình được hạ thấp, nắn chỉnh, mở rộng cho thuyền mảng
xuôi ngược. Các sông Mã, sông Lam, sông La, sông Gianh được thăm dò,
khảo sát, cắm phao, biển báo và xây dựng thêm nhiều bến vượt dự phòng. v.v.
Như vậy, đến trước chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, hệ thống giao
thông đường bộ, đường thuỷ trên địa bàn Khu 4 đã được củng cố, mở rộng,
đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá tại địa phương và đảm bảo
một phần cho mặt trận giao thông vận tải sau này. Tuy nhiên, với những đặc
điểm về địa hình, thời tiết, khí hậu... đã gây cho ta nhiều khó khăn. Địa hình
Khu 4 là nơi hẹp nhất, đặc biệt là Hà Tĩnh, Quảng Bình có núi sát biển, độ
dốc rất lớn, có nơi núi cắt hẳn đường vượt, lắm sông ngòi... Đây là những nơi
dễ bị chia cắt nhất, đặc biệt khi bị địch đánh phá. Tuyến giao thông huyết
mạch Bắc - Nam là quốc lộ 1A qua địa bàn Khu 4 chủ yếu chạy sát biển nên
thường xuyên bị lực lượng không quân Mỹ từ hạm đội trên biển bay vào đánh
phá. Trên tuyến đường 1 lại phải qua nhiều cầu phà, sông ngòi mà địch
thường thả thủy lôi phong tỏa. Việc khắc phục để thông đường, thông tuyến
đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Khi tuyến đường 1 gặp nhiều khó khăn,
15
tuyến đường 15 (có hai đường ngang là 12 và 20) chạy men theo chân phía
Đông dãy Trường Sơn trở thành đường chính nhưng cũng gặp không ít khó
khăn. Trên đường 15 chủ yếu là đường đất, một số ít được rải đá, lại nằm trên
chiến tranh phá hoại, vùng đất Khu 4 đã trở thành tâm điểm đọ sức quyết liệt
giữa bản lĩnh, ý chí, mưu lược của người Việt Nam với các thủ đoạn đánh
phá, ngăn chặn bằng nhiều loại khí tài, bom đạn tối tân của đế quốc Mỹ.
Tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, cùng với âm mưu tiêu diệt
phong trào cách mạng ở miền Nam, đế quốc Mỹ rất chú trọng đến việc đánh
phá, ngăn chặn sự tiếp tế, chi viện của miền Bắc cho miền Nam vì chúng cho
rằng miền Bắc là “nguồn gốc của mọi vấn đề”. Đặc biệt từ năm 1964, trước
nguy cơ phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Mỹ- ngụy quyết định
tăng cường các hoạt động phá hoại miền Bắc lên một bước mới. Chúng triển
khai cùng lúc ba kế hoạch chống phá đó là: “Kế hoạch 34”, “Kế hoạch Đề-sôtô” (DESOTO) và kế hoạch sử dụng không quân đánh phá ở Lào. Tháng 81964, đế quốc Mỹ gây ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, tạo cớ để thực hiện các hoạt
động công khai đánh phá miền Bắc Việt Nam. Đầu năm 1965, Mỹ chính thức
tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, nhằm mục đích:
Thứ nhất, ngăn chặn nguồn viện trợ từ bên ngoài vào miền Bắc và sự chi
viện từ miền Bắc vào miền Nam; nhằm bao vây, cô lập, làm suy yếu đi đến
tiêu diệt các lực lượng cách mạng, dập tắt cuộc chiến tranh cách mạng ở
miền Nam.
Thứ hai, phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng, phá công cuộc xây dựng
CNXH ở miền Bắc, làm cho miền Bắc kiệt quệ, không thể tiến hành một cuộc
chiến tranh lâu dài, đồng thời gây cho ta những khó khăn trong xây dựng đất
nước khi chiến tranh kết thúc.
Thứ ba, uy hiếp tinh thần, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân ta, buộc ta phải nhân nhượng chấm dứt chiến tranh theo điều
kiện của Mỹ [10; 34].
17
Nhận thấy vị trí hiểm yếu của tuyến giao thông trên địa bàn Khu 4 đối
với cuộc cách mạng ở hai miền, đế quốc Mỹ đã tập trung cao độ các loại vũ
khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhằm ngăn chặn đi đến cắt đứt hệ
chai” gây ách tắc nghiêm trọng nhất, như Đò Lèn, Hàm Rồng, Phà Ghép,
Phương Tích, Xuân Sơn, Long Đại, Đồng Lộc... Mặt trận bảo đảm giao thông
vận tải qua địa bàn Khu 4 trở nên nóng bỏng nhất trong suốt cuộc chiến
tranh.
Từ việc sớm nhận thức được vị thế của Khu 4 đối với toàn bộ cuộc chiến
tranh chống Mỹ, đặc biệt là nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải, chi viện
chiến trường nên ngay sau khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại
miền Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương
Bộ Quốc phòng...đã xác định: Bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, chi viện
chiến trường là nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân; đồng thời đã có nhiều giải pháp đồng bộ kịp thời chỉ đạo sâu sát, tăng
cường lực lượng cho mặt trận giao thông vận tải ở Khu 4.
Ngày 7 tháng 5 năm 1965 Ban Bí thư và Thường vụ Hội đồng Chính phủ
ra Quyết định (Số 119-NQ/TW) Về một số vấn đề trong công tác giao thông
vận tải ở các tỉnh Khu IV xác định rõ: việc thống nhất quản lý các phương
tiện giao thông vận tải; Thống nhất việc chỉ huy các bến phà và tổ chức các
trạm dân quân địa phương báo động và bắn máy bay. Nhằm thống nhất trong
công tác lãnh đạo, chỉ huy, Trung ương quyết định thành lập Ban giao thông
vận tải các cấp bao gồm Ban giao thông vận tải các tỉnh thuộc Khu 4 và Ban
giao thông vận tải khu vực. Tăng cường Ty giao thông vận tải các tỉnh, do
một đồng chí tỉnh ủy viên có năng lực, có sức khỏe làm trưởng ty. Tại Ban
GTVT khu vực có đại diện của Bộ Giao thông vận tải làm trưởng ban, đại
diện của Bộ Quốc phòng và một đồng chí Tỉnh ủy viên. Ban này có nhiệm vụ
đảm bảo và giải quyết toàn bộ vấn đề giao thông vận tải ở khu vực mình phụ
trách trong bất cứ tình huống nào.
19
Để chủ động đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ từ trên
tuyến đường số 1, đường số 15, đường số 8, đường số 12 thông suốt”. Hội
nghị đã quyết định những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt việc phối hợp
hiệp đồng, tổ chức lãnh đạo chỉ huy, kết hợp giữa đánh địch với bảo vệ
GTVT: tổ chức làm đường, động viên lực lượng và phương tiện phục vụ
GTVT, bảo đảm bí mật an toàn…[32; tr.131-132].
Đảm nhận hoàn toàn nhiệm vụ bảo đảm giao thông và ứng cứu trên các
tuyến đường chiến lược đi qua địa bàn, với lực lượng được Bộ tăng cường và
lực lượng tại chỗ, Quân khu 4 đã thành lập và củng cố nhiều đơn vị. Trung
đoàn 152 công binh và cao xạ hỗn hợp vừa làm nhiệm vụ đánh địch bảo vệ
đường, vừa mở đường số 15 ở khu vực tây Quảng Bình và đường số 12. Lực
lượng vận tải tập trung của Quân khu từ 1 đại đội xe 36 chiếc phát triển thành
6 binh trạm, biên chế 1.160 người với 130 xe ô tô, 22 ca nô, 35 xà lan chuyên
vận chuyển cung cấp cho các lực lượng vũ trang quân khu (cả số làm nhiệm
vụ ở Lào). Các tổng đội thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước ở các
tỉnh gồm hơn 12.000 người chuyên lo làm đường mới vừa sửa đường ở một
số tuyến. Một số tuyến đường mới khác: từ Bò Lăn đi Tam Lê, từ Hoàng Mai
đi chợ Tuần, Tân Kỳ đi dốc Lụi (Nghệ An), Ba Trại (Quảng Bình) được khẩn
trương xây dựng. Lực lượng công nhân giao thông do Bộ Giao thông vận tải
quản lý tập trung thi công các tuyến đường số 7, 12, 21 và 22.
Đến cuối tháng 9 năm 1965 các tuyến đường số 1, 7, 8, 12, 15 và các
tuyến sông trên địa bàn cơ bản thông suốt. Đường sắt thông đến Hoàng Mai,
đường goòng nối liền Đức Thọ - đò Vàng. Lưu lượng xe và vòng quay tăng 2
lần. Thời gian tắc xe trên các bến giảm 50% [32; tr.138].
Trước những âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, tại Hội nghị lần thứ 12
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng(ngày 27-12-1965) đã đề ra Nghị quyết
Về tình hình và nhiệm vụ mới, trong đó nêu rõ: “Phải động viên lực lượng
của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ
21