ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN ANH
ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA
CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI
CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
(1969 – 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2011
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN ANH
ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA
CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI
CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
(1969 – 1975)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: TS.
1.1.2. Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam
Việt Nam
22
1.2. Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
28
1.2.1. Lãnh đạo tranh thủ sự công nhận quốc tế
28
1.2.2. Lãnh đạo phối hợp hoạt động và phát huy ưu thế ngoại giao “tuy
hai mà một, tuy một mà hai” trên bàn đàm phán Hội nghị Paris
31
1.2.3. Lãnh đạo đấu tranh cáo tội ác đế quốc Mỹ, tranh thủ dư luận thế
giới bên ngoài bàn đàm phán Hội nghị Paris
56
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA
CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT
NAM TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1975
64
3.1. Một số nhận xét cơ bản
110
3.1.1. Chủ trương phối hợp hoạt động và phát huy ưu thế ngoại giao hai
miền là một sáng tạo độc đáo của Đảng
110
3.1.2. Chủ trương đối với hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Đảng hoạch định trên cơ sở phân
tích đặc điểm tình hình và nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn 1969 – 1975
114
3.1.3. Đảng đã chỉ đạo Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam triển khai các mũi tiến công ngoại giao khác nhau, nhằm tạo
hiệu quả ngoại giao cao nhất
118
3.1.4. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của Chính phủ
Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam giai đoạn 1973 – 1975 vừa
có sự thống nhất căn bản, vừa có bước phát triển nhất định so với giai đoạn
1969 – 1972
123
3.1.5. Quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách
161
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BBT:
Ban Bí thư
BCT:
Bộ Chính trị
BCHTƯ:
Ban Chấp hành Trung ương
BLHQS:
Ban Liên hợp quân sự
CHDC:
Cộng hòa dân chủ
CHND:
ĐCS:
Đảng Cộng sản
ĐCSVN:
Đảng Cộng sản Việt Nam
MTDTGP:
Mặt trận dân tộc giải phóng
TBT:
Tổng Bí thư
USD:
Đô la Mỹ
VNDCCH:
Việt Nam Dân chủ cộng hòa
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam
là một bản trường ca bất hủ về tinh thần đấu tranh, lòng yêu nước và khát khao
- Các công trình chuyên khảo, tham khảo
Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 [8]; Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì
sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945 - 1975) [76]; 50 năm ngoại giao Việt
Nam, tập 1, 2 [79]; Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1965 1975 [118]; Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh [85]; Các cuộc
thương lượng Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris [80]; Quá trình Đảng lãnh
đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris về Việt Nam (1968 – 1973) [90]…
Đây là nhóm công trình khá phong phú, trong đó có rất nhiều công trình
nghiên cứu của các nhà ngoại giao kỳ cựu – những người từng tham gia đấu
tranh trên mặt trận ngoại giao thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Nhìn chung, các
công trình này tập trung trình bày chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước
Việt Nam và các quan hệ ngoại giao của Việt Nam từ năm 1945 trở đi. Các
công trình đã phân tích một cách khái quát đường lối đối ngoại của Đảng, các
sự kiện ngoại giao chủ yếu diễn ra từ sau khi nước ta giành độc lập và trong
mạch chảy chung ấy, đã đề cập đến hoạt động ngoại giao của
CPCMLTCHMNVN. Trong một số công trình, các tác giả cũng đã khái quát
quá trình Đảng lãnh đạo phối hợp hoạt động ngoại giao hai miền, hình thành
nên nền ngoại giao độc đáo “tuy hai mà một” chưa từng có trong lịch sử. Trong
nhóm các công trình này, hai công trình nghiên cứu: “Các cuộc thương lượng
Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris” (tác giả Lưu Văn Lợi, Lê Anh Vũ); “Quá
trình Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris về Việt Nam
(1968 – 1973)” (tác giả Lương Viết Sang) đã cung cấp những tư liệu phong
phú, phản ánh khá rõ nét những hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN.
7
- Các công trình mang tính chất hồi ức, hồi ký
Mặt trận dân tộc giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị
Paris về Việt Nam (Hồi ức) [9]; Chung một bóng cờ [47]; Trại Davis Sài Gòn mùa xuân 1973 [52]; Từ Geneva đến Paris [11]…
Các tác phẩm này là hồi ký của những người trực tiếp tham gia vào tiến
ngoại giao và cuộc đàm phán Paris [69], Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ
Việt Nam giai đoạn đàm phán Hiệp định Paris [96], Một số vấn đề về Hiệp
định Paris [124]… Khảo cứu kỹ nội dung các bài viết, có thể nhận thấy rằng,
về phạm vi thời gian, các bài viết này tập trung chủ yếu vào giai đoạn đấu tranh
ký Hiệp định Paris (1965 - 1973); đồng thời, đi sâu tổng kết nguyên nhân thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đánh giá thành tựu của đấu tranh ngoại
giao. Hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã được đề cập đến, nhưng ở mức độ tổng quát. Tuy nhiên, các bài viết này với
những góc độ tiếp cận khác nhau đã cung cấp cho tác giả luận văn những nhận
thức bổ ích xung quanh vấn đề nghiên cứu.
Các công trình của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài
Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập II (1969 - 1975) [26]; Nền hòa bình
mong manh – Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp định Paris [2], “The
real war” [125]; “Việt Nam, The Ten Thousand Day War” [126]; “Cuộc chiến
tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam” [16]; "Những bí mật của
cuộc chiến tranh Việt Nam" [45]; “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ”
[51]; …
Đây là công trình nghiên cứu nước ngoài hoặc bằng tiếng Anh, hoặc đã
đã được dịch ra tiếng Việt. Điều đáng lưu ý là đa phần các công trình nghiên
cứu này là của những nhà nghiên cứu người Mỹ. Qua các công trình này, có thể
nhận thấy cái nhìn từ phía người Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam và quá trình
đàm phán Hiệp định Paris. Với cách tiếp cận khá độc đáo và nguồn tư liệu rất
phong phú do các tác giả có điều kiện khai thác những nguồn tư liệu đa chiều,
cả đã giải mật và chưa giải mật, nên các công trình này đã cung cấp thêm một
số chi tiết, sự kiện, số liệu về quá trình kết hợp đấu tranh ngoại giao của ngoại
giao hai miền Nam, Bắc Việt Nam trên bàn đàm phán Paris; về những thành
9
công của ngoại giao Việt Nam giai đoạn này dưới góc nhìn của học giả nước
đối ngoại của CPCMLTCHMNVN đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; làm
rõ những tồn tại, hạn chế, đúc rút những kinh nghiệm lịch sử quan trọng từ quá
trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN… Đó đồng
thời cũng là mục tiêu, nhiệm vụ mà luận văn cố gắng hoàn thành.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương, đường lối và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động
đối ngoại của CPCMLTCHMNVN từ năm 1969 đến năm 1975; trên cơ sở đó,
rút ra những kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đi sâu phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với
hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN qua hai giai đoạn: 1969 – 1972;
1973 – 1975.
- Hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã có, bổ sung thêm những tư
liệu mới, khôi phục một cách khách quan các hoạt động đối ngoại chủ yếu của
CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hai giai đoạn: 1969 –
1972; 1973 – 1975.
- Nêu lên những thành tựu, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm
lịch sử từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của những năm
1969 – 1975.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của
CPCMLTCHMNVN từ năm 1969 đến năm 1975.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những đường lối, chủ trương cơ bản của
Đảng trong quá trình chỉ đạo CPCMLTCHMNVN tiến hành các hoạt động đối
ngoại và những sự kiện chính, quan trọng, những mốc lớn trong hoạt động đối
11
- Nguồn tài liệu tham khảo mà luận văn sưu tầm, khai thác và giới thiệu
là nguồn tư liệu có giá trị, có thể sử dụng phục vụ việc nghiên cứu về ngoại
giao, về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết:
Chương 1. Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1972
Trong chương 1, luận văn tập trung làm rõ những yêu cầu lịch sử đối với
việc thành lập CPCMLTCHMNVN trong giai đoạn lịch sử mới; đồng thời đi
sâu phân tích những hoạt động đấu tranh ngoại giao của CPCMLTCHMNVN
dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN trên ba nội dung chính: 1). Tranh thủ sự công
nhận quốc tế; 2). Đấu tranh trên bàn đàm phán Hội nghị Paris; 3). Đấu tranh tố
cáo tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn bên ngoài bàn đàm phán.
Chương 2. Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1973 đến năm 1975
Chương 2 tập trung phân tích hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN
dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN sau khi Hiệp định Paris được ký kết đến khi đất
nước thống nhất. Đó là hoạt động đối ngoại tích cực tranh thủ mọi sự ủng hộ
quốc tế và buộc địch phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris. Những hoạt
động đối ngoại ấy đã tận dụng mọi cơ hội thuận lợi, đẩy mạnh cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước nhanh chóng đi tới thắng lợi.
Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm
Trên cơ sở những nội dung nghiên cứu đã giải quyết ở chương 1 và 2, tại
chương 3, luận văn đưa ra những nhận xét về quá trình hoạch định chủ trương,
đường lối và chỉ đạo thực hiện của ĐCSVN đối với hoạt động đối ngoại của
CPCMLTCHMNVN. Trong quá trình đó, bên cạnh những thành tựu nổi bật,
vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Những nhận xét đó là cơ sở để luận
các nước Á, Phi, Mỹ Latinh phát triển mạnh mẽ. Phần lớn các nước bị CNTD
thống trị lần lượt được giải phóng, trở thành những nước độc lập ở những mức
độ khác nhau. Hệ thống thuộc địa của CNĐQ ngày càng bị thu hẹp. Đầu những
năm 50 (XX), các nước mới giành độc lập tập hợp nhau trong Phong trào
14
không liên kết. Đến năm 1970, Phong trào đã có 54 thành viên, trở thành một
lực lượng chính trị mới trên vũ đài quốc tế. Từ Hội nghị cấp cao lần thứ 3 ở
Luxaca (tháng 9 – 1970), xu hướng chống đế quốc của Phong trào ngày càng
trở nên mạnh mẽ, trong đó có việc cổ vũ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước của nhân dân Việt Nam.
Mặc dù có những thành tích trong xây dựng và phát triển kinh tế, khoa
học – kỹ thuật và quốc phòng, nhưng những khuyết tật của các nước XHCN
cũng đã sớm bộc lộ. Đến cuối những năm 60 (XX), trong phe XHCN xuất hiện
những vụ rối loạn chính trị nghiêm trọng tại một số nước và những bất đồng
trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng ngày càng trở nên phức
tạp. Đặc biệt, sự bất đồng giữa Liên Xô – Trung Quốc – hai nước XHCN lớn,
những nước viện trợ chủ yếu trên các phương diện khác nhau cho Việt Nam, là
một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của Mặt trận nhân dân thế giới
đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Dù có những khó khăn, bất đồng nhất
định, song, các nước XHCN vẫn luôn sát cánh và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu
tranh của nhân dân Việt Nam, nhất là đối với chủ trương vừa đánh, vừa đàm
của chúng ta. Các nước XHCN nói chung vẫn tăng cường ủng hộ về chính trị
và vật chất cho chúng ta. Hai nước XHCN lớn là Liên Xô, Trung Quốc dù mâu
thuẫn ngày càng sâu sắc, song không ngừng giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam. Liên
Xô tuyên bố ủng hộ Chính phủ VNDCCH, ủng hộ Chính sách 10 điểm của
MTDTGP, coi đó là “những đề nghị chính đáng và hợp lý” và “kiên quyết ủng
hộ những đề nghị đó” [12, tr. 217]. Dù không tán thành việc chúng ta đàm phán
đầu về trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công
nghiệp dân dụng, được dư luận phương Tây suy tôn là “thần kì Nhật Bản”.
Trên cơ sở những thành tựu kinh tế, bằng hành động đấu tranh đòi chủ quyền
về quần đảo Okinawa mà Mỹ chiếm từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật
Bản đã tách dần ra khỏi ảnh hưởng của Mỹ.
Ở các nước Tây Âu, CNTB lũng đoạn nhà nước không chỉ dừng lại trong
phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, biểu hiện là sự ra đời của
Khối thị trường chung châu Âu (EEC, tháng 3 – 1957). Sự ra đời của cộng
đồng kinh tế này cho phép các nước Tây Âu thực hiện hiệu quả cuộc cạnh tranh
16
về kinh tế, tài chính và thương mại với những nước ngoài khối, đặc biệt đối với
Mỹ và Nhật Bản.
Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong thế giới tư bản dần dần
hình thành ba trung tâm kinh tế là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Trong thế chân
kiềng này, thế lực kinh tế của Mỹ ngày càng suy giảm so với sự phát triển của
Tây Âu và Nhật Bản. Điều đó đã thúc đẩy khuynh hướng các nước Tây Âu và
Nhật Bản tách khỏi sự khống chế của Mỹ về kinh tế và sau đó là về chính trị.
Cùng với sự gia tăng các mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc khác,
các khối quân sự, liên minh quân sự như Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO), Hiệp định an ninh Mỹ - Nhật, khối ANZUS, SEATO, CENTO cũng
đã bộc lộ các bất đồng. Mâu thuẫn trong khối NATO xuất hiện ngay khi thành
lập với việc Anh – Mỹ tranh nhau quyền lãnh đạo và ảnh hưởng ngày càng trở
nên phức tạp hơn khi Pháp và Tây Đức cũng đấu tranh đòi Mỹ chia sẻ quyền
lực; các đồng minh khác cũng đòi độc lập hơn với Mỹ. Bên cạnh đó, các cuộc
khủng hoảng tiền tệ trong thế giới tư bản và các cuộc “chiến tranh kinh tế”
ngày một gay gắt. Sau thất bại quân sự năm 1968 và trước xu thế Mỹ phải
xuống thang chiến tranh ở Việt Nam, quan hệ giữa Mỹ và các nước chư hầu có
quân tham chiến ở Việt Nam cũng bớt gắn bó.
cố rút bớt quân đội Mỹ ở chiến trường, thì phong trào phản chiến càng phát
triển, lan rộng trong xã hội Mỹ, thậm chí trong cả giới cầm quyền và cơ quan
lập pháp. Những rạn nứt trên buộc nhà cầm quyền Mỹ phải có những sự điều
chỉnh chiến lược, thậm chí phải sử dụng tới cả những trò lừa bịp hòng đạt được
mục tiêu cuối cùng.
Những mâu thuẫn trong nội bộ phe ĐQCN và nội bộ nước Mỹ đã làm
giảm đáng kể uy thế của Mỹ trên trường quốc tế. Tình hình đó tạo ra khả năng
thuận lợi cho Đảng ta lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ các nước đế quốc, lập
Mặt trận nhân dân thế giới chống Mỹ xâm lược Việt Nam.
Trong khi tình hình thế giới có nhiều biến động, thì cách mạng Việt Nam
cũng có những bước phát triển vượt bậc trên cả ba mặt trận: Chính trị, quân sự,
ngoại giao.
18
Những thắng lợi của quân và dân cả nước, đặc biệt là quân và dân miền
Nam trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm cho “ý
chí xâm lược của Mỹ bị lung lay rõ rệt” [36, tr. 118]. Thất bại nặng nề đó càng
đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế phòng ngự, bị động, song vẫn ngoan cố tìm mọi
cách kéo dài chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta. Thực hiện âm mưu đó,
đầu năm 1969, Tổng thống R. Nixon lên cầm quyền đã điều chỉnh chiến lược
toàn cầu phản cách mạng, đề ra “học thuyết Nixon” với mục tiêu giảm bớt các
“cam kết quốc tế” của Mỹ, đòi hỏi các nước đồng minh phải “chia sẻ trách
nhiệm” với Mỹ để chống lại phong trào cách mạng thế giới, ổn định tình hình
nội bộ, duy trì lực lượng quốc phòng, giữ thế cân bằng và răn đe, khai thác, lợi
dụng mâu thuẫn các nước XHCN, chia rẽ, lôi kéo các nước lớn, mua chuộc, uy
hiếp các nước nhỏ.
Ở Việt Nam, Tổng thống R. Nixon buộc phải xuống thang chiến tranh,
thực hiện “phi Mỹ hóa chiến tranh” - thực chất là thực hiện chiến lược “Việt
thị miền Nam và đánh chiếm vùng nông thôn ven đô, gây khó khăn cho các
cuộc tấn công đợt 2 và 3 của chúng ta. Thực tế là, “khi tổng tấn công chúng ta
đã tung hết lực lượng ... cho nên đến khi địch phản kích thì chúng ta không có
lực lượng (…), chúng ta lâm vào tình hình rất khó khăn trong những năm 1969,
1970, 1971” [78, tr. 57]. Nhân cơ hội đó, địch tập trung đánh phá ác liệt các
vùng giải phóng, tiêu diệt và đẩy lùi các đơn vị chủ lực của ta ra khỏi các nơi
đứng chân ở Trị Thiên, Khu V, Nam Bộ… Lực lượng vũ trang của chúng ta bị
tổn thất, không kịp bổ sung, lương thực tiếp tế gặp khó khăn. Bước vào năm
1969, ở Đông Nam Bộ và khu IV, địch lấn chiếm và hầu như kiểm soát toàn bộ
vùng nông thôn bao quanh Sài Gòn và các tỉnh Phước Long, Bình Tuy và vùng
đồng bằng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận… cơ sở ở nông thôn bị tổn thất,
căn cứ bị thu hẹp nhiều nơi, chủ lực của ta không còn chỗ đứng chân phải trú
chân trên đất bạn. Từ khi đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt
Nam, chưa bao giờ chúng ta gặp khó khăn như hai năm này (1969, 1970). Tóm
lại, thực hiện chủ trương “phi Mỹ hoá chiến tranh”, R. Nixon đã sử dụng “sức
mạnh tối đa về quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao rất
xảo quyệt, hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của
20
nhân dân ta” [43, tr. 18]. Rõ ràng, thực hiện “Việt Nam hoá chiến tranh”, đế
quốc Mỹ đặt mục tiêu phá vỡ khối đoàn kết thống nhất của dân tộc Việt Nam,
khối đoàn kết ba dân tộc Đông Dương; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối
với miền Nam; cản trở sự ủng hộ của Mặt trận nhân dân thế giới đối với cuộc
kháng chiến của nhân dân ta.
Bên cạnh việc tăng cường hoạt động quân sự, đẩy mạnh bình định nông
thôn, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức lôi kéo, tập hợp các phe phái
tay sai, nhất là lực lượng phản động trong các tôn giáo, các đảng phái để tạo
chỗ dựa. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã dùng mọi thủ đoạn để mua chuộc
lãnh tụ các đảng phái chính trị với lời kêu gọi tập hợp xung quanh chính phủ,
nhân dân. Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, Uỷ ban nhân dân giải
phóng cũng được thành lập ở nhiều vùng ven đô thị và cả trong lòng các đô thị.
Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 14 (1 – 1968) đã khẳng định: “Phải nhanh
chóng tổ chức chính quyền cách mạng của nhân dân” [35, tr. 60]. Thực hiện
chủ trương trên, ngày 15 – 1 – 1968, Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban
Trung ương MTDTGPMN ra Chỉ thị “Tích cực, khẩn trương, củng cố, xây
dựng, phát triển chính quyền cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
ở xã, ấp”. Ngày 29 – 2 – 1968, Trung ương Cục ra Chỉ thị bổ sung, khẳng
định: Phải nhanh chóng xây dựng chính quyền cách mạng các huyện, quận,
tỉnh. Ngày 25 – 5 – 1968, Trung ương Cục và Ủy ban Trung ương
MTDTGPMN ra Chỉ thị quan trọng: “Ra sức xây dựng chính quyền cách mạng
các cấp theo kịp sự phát triển của tình hình”. Các Chỉ thị đều có chung nội
dung: Miền Nam Việt Nam đang tiến hành cuộc CMDTDCND, trước mắt là
đánh đổ chính quyền tay sai, thành lập chính phủ liên hiệp. Chính quyền này
phải bảo đảm tính chất chuyên chính và rộng rãi. Do vậy, Chính phủ Trung
ương và chính quyền ở các thành phố cần có sự liên hiệp rộng rãi. Trong chính
quyền cấp xã, huyện, tỉnh, công nông phải là thành phần chủ yếu. Thông qua
bầu cử dân chủ mà hình thành Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân giải
phóng các cấp. Ấp không phải là cấp chính quyền nhưng có vị trí quan trọng
trong chiến tranh, nên cần tổ chức Ban giải phóng ấp. Những xã ở vùng tranh
chấp gay gắt không thể tổ chức bầu cử được thì lập Hội đồng quân dân xã.
22
Chủ trương của Trung ương Cục và Ủy ban Trung ương MTDTGPMN
được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt. Chỉ sau 6 tháng thực hiện các chỉ thị trên,
chính quyền cách mạng ở các cấp được xây dựng rộng rãi. Theo số liệu chưa
đầy đủ, đã có tới 516/1800 xã được xây dựng chính quyền; chính quyền cấp
huyện được xây dựng trong 21/170 huyện; 3/44 tỉnh (Cà Mau, Gia Lai, Mỹ
tranh thủ tối đa sự ủng hộ rộng rãi của mọi lực lượng ở miền Nam trên cơ sở
mở rộng MTDTGPMN, lập ra một chính phủ liên hiệp lâm thời đại diện cho
nhân dân miền Nam trong mọi hoạt động, nhằm cô lập ngụy chính quyền Sài
Gòn, thúc đẩy Hội nghị Paris đạt kết quả.
Ngay từ giai đoạn cuối của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Trung
ương Đảng đã có chủ trương mở Hội nghị hiệp thương giữa MTDTGPMN với
Liên minh các lực lượng dân chủ và các phe phái khác ở miền Nam. Ngày 24 –
1 – 1964, BCT đã gửi Điện số 32 kèm Bản dự thảo lời kêu gọi của Ban vận
động hiệp thương tới đồng chí Phạm Hùng, gợi ý ba bước thực hiện hiệp
thương: Mở Hội nghị hiệp thương giữa MTDTGP miền Nam với Liên minh các
lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình miền Nam, nhằm “thống nhất nhận định,
chủ trương và phương hướng đấu tranh cho việc lập một nội các hòa bình ở Sài
Gòn” [84, tr. 712]; tổ chức vận động nhiều nhóm, cá nhân trong và ngoài nước
tham gia hiệp thương chính thức; mở Hội nghị hiệp thương chính thức. Bức
điện nhấn mạnh bước thứ hai là bước quan trọng nhất và nêu rõ mục đích của
Hội nghị hiệp thương là “nhằm đề ra một chương trình hành động tối thiểu phù
hợp với tình hình trước mắt, có khả năng tập hợp đông đảo lực lượng đẩy
phong trào đấu tranh đánh đổ Thiệu – Kỳ, lập nội các hòa bình, thương lượng
với MTDTGP, thúc đẩy Hội nghị Paris đi đến kết quả, đem lại hòa bình, độc
lập, chủ quyền, trung lập cho miền Nam” [84, tr. 713].
Để đẩy nhanh việc chuẩn bị cho Hội nghị hiệp thương ở miền Nam,
ngày 11 – 2 – 1969, BCT đã gửi thư chỉ đạo cho các đồng chí Trung ương Cục
về đẩy mạnh phong trào đấu tranh tiến tới thành lập Mặt trận thứ ba gồm những
lực lượng đứng giữa các xu hướng yêu nước chân chính chống bọn phản động
cực đoan tay sai của đế quốc Mỹ. Trong thư, BCT đã gợi ý một số ý kiến:
“Trong quá trình vận động thành lập Mặt trận thứ ba, ta nên tổ chức hiệp
24
thương giữa Mặt trận dân tộc giải phóng và Liên minh để thảo luận việc lập