ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ ANH TUẤN
“QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN
TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 - 1998”
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ ANH TUẤN
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
“QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN
TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 - 1998”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Vũ Văn Hà
Hà Nội - 2014
song phƣơng Việt Nam - Nhật Bản............................................................... 38
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM NHẬT BẢN TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH KHU VỰC CHÂU
Á 1997 - 1998 ................................................................................................... 45
2.1. Sự biến động tổng lƣợng kim ngạch hàng hóa ..................................... 45
2.2. Đặc trƣng cơ cấu hàng hóa hai chiều .................................................... 52
2.3. Đánh giá chung ........................................................................................ 65
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƢƠNG MẠI HAI
CHIỀU VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN TỚI ................ 69
3.1. Thuận lợi và khó khăn ............................................................................ 69
3.2. Những vấn đề đặt ra trong quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản76
3.3. Một số giải pháp ...................................................................................... 81
Kết luận ........................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 94
Danh mục các chữ viết tắt
Chữ viết tắt
JICA
JETRO
KEIDANREN
JVTA
ODA
ASEAN
Tên tiếng Việt
Tên tiếng Anh
Cơ quan Hợp tác
Quốc tế Nhật Bản
MOF
Bộ Tài chính Nhật Bản
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
Gross Domestic Product
BTA
Hiệp định thƣơng mại song
phƣơng Việt Nam – Mỹ
VJEPA
Hiệp định Đối tác toàn diện
Việt Nam - Nhật Bản
VASEP
Hiệp hội Chế biến và Xuất
khẩu Thủy sản Việt Nam
Bilateral Trade
Biểu đồ 4: Cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ thời kỳ 1993-2012 cho Việt
Nam (đơn vị tính: tỷ USD) .............................................................................. 30
Bảng 5: Thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Nhật Bản ............. 45
giai đoạn 1997 - 2013 (Đơn vị tính: triệu USD) ............................................. 45
Bảng 6: Bốn đối tác thƣơng mại lớn nhất của Việt Nam ................................ 49
trong năm 2013 (đơn vị tính: tỷ USD) ............................................................ 49
Bảng 7: Tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giữa
Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn 2007-2013 .................................................... 53
Biểu đồ 9: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân ................ 58
thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn năm 2005 - 2012 ....................... 58
và 11 tháng năm 2013 ..................................................................................... 58
Biểu đồ 11: Tỷ trọng hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản trong năm
2013 ................................................................................................................. 61
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia có quan hệ truyền thống lịch sử
lâu đời. Sau chiến tranh Lạnh, mối quan hệ này phát triển nhanh chóng trên
nhiều lĩnh vực và hiện đã bƣớc sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều
sâu. Các mối quan hệ kinh tế, chính trị, thƣơng mại, giao lƣu văn hóa, giáo
dục không ngừng đƣợc mở rộng; sự quan tâm và hiểu biết giữa nhân dân hai
nƣớc không ngừng tăng lên. Có thể nói rằng, Việt Nam và Nhật Bản hiện nay
không chỉ có sự gắn bó khá chặt chẽ, mà còn có sự tƣơng tác lẫn nhau trong
quá trình phát triển.
Trong xu hƣớng gia tăng quan hệ song phƣơng giữa hai quốc gia, quan
hệ kinh tế mà trong đó có quan hệ thƣơng mại đã tăng trƣởng nhanh chóng và
ấn tƣợng. Nhật Bản luôn là bạn hàng thƣơng mại quan trọng hàng đầu với
nhiều mặt hàng xuất - nhập khẩu chiến lƣợc đối với thị trƣờng Việt Nam cũng
nhƣ đối với thị trƣờng Nhật Bản nhƣ dầu lửa, thủy hải sản, thiết bị công
Quốc, bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế nói chung, thƣơng
mại nói riêng càng quan trọng hơn bao giờ hết.
Với tất cả các ý nghĩa đó, em đã lựa chọn đề tài: “Quan hệ thƣơng mại
Việt Nam - Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998” để
thực hiện luận văn cao học chuyên ngành Quan hệ Quốc tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về chủ đề quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã có khá nhiều công trình đề
cập đến từ các góc độ khác nhau. Ở nƣớc ngoài tiêu biểu có thể kể đến các
công trình của Giáo sƣ Shiraishi, GS. Furutamoto, GS. Sakurai… Các giáo sƣ
đã tập trung nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Nhật Bản khá toàn diện, với
nhiều ý kiến đánh giá xác đáng.
Ở trong nƣớc, đây là chủ đề đƣợc giới nghiên cứu quan tâm do tầm
quan trọng của chủ đề nghiên cứu. Có thể nêu một số nhà khoa học với các
công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: GS. Dƣơng Phú Hiệp, PGS. TS Vũ Văn
Hà, TS Trần Anh Phƣơng...
Những nghiên cứu, công trình khoa học chủ yếu tập trung vào phân tích
quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, hoặc
khái quát về mối quan hệ kinh tế, thƣơng mại, hoạt động của nguồn vốn
ODA, hợp tác nhân lực, giáo dục, văn hóa, du lịch .... giữa hai nƣớc. Về
nghiên cứu quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản nói riêng, cũng đã có
các bài viết chủ yếu đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành, hay tham luận
tại các hội thảo, hội nghị trong và ngoài nƣớc.
Có thể nêu ra nhƣ
* Cuốn sách “25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 1973-1998” do các tác
giả Dƣơng Phú Hiệp - Ngô Xuân Bình - Trần Anh Phƣơng (đồng chủ biên)
(xuất bản năm 1999) điểm lại các thành tựu chủ yếu về chính trị, ngoại giao,
kinh tế, thƣơng mại, văn hóa, giáo dục, xã hội... mà Chính phủ và nhân dân
hai nƣớc đã đạt đƣợc trong khoảng thời gian này.
thị phần, thị trƣờng...
- Nguồn tài liệu, tƣ liệu sử dụng đƣợc lấy từ các báo cáo số liệu của Bộ
Kế hoạch và Đầu tƣ, Bộ Công Thƣơng, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê,
Tổng cục Hải quan, các báo cáo liên quan của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật
Bản - JICA, Tổ chức Thƣơng mại Quốc tế Nhật Bản – JETRO, Đại sứ quán
Nhật Bản tại Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á thuộc Viện Hàn lâm
Khoa học Xã hội Việt Nam, các Tạp chí Thƣơng mại, Niên giám thống kê,
các nghiên cứu, báo kinh tế Việt Nam và tổng hợp thông tin từ các nguồn
Internet chính thống…..
6. Những đóng góp chủ yếu
- Về mặt lý luận: làm rõ cơ sở khoa học của việc gia tăng quan hệ
thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản
- Về mặt thực tiễn: cố gắng nghiên cứu một cách hệ thống và tƣơng đối
chuyên sâu đầy đủ về sự phát triển quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản
từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998 trên cơ sở so sánh sự tăng
giảm các mặt hàng, ngành hàng, tổng kim ngạch.
Thông qua tìm hiểu thực tế mối quan hệ thƣơng mại hai nƣớc Việt Nam
- Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á 1997 - 1998, đề
xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy, gia tăng cả về chất và lƣợng của mối
quan hệ này, tạo thêm động lực cho sự mối quan hệ hai nƣớc ở tầm cao mới:
Quan hệ đối tác chiến lƣợc sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở bài và kết luận, danh mục bảng biểu số liệu, một số
hình ảnh về quan hệ Việt Nam- Nhật Bản nói chung, tài liệu tham khảo, luận
văn đƣợc chia làm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở thúc đẩy quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản từ
sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998
Chƣơng 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản từ sau
(1986 - 1990) đạt 3,5 tỷ USD, gấp 3,1 lần so với 5 năm trƣớc đó (1981 -
1985) trong khi nhập khẩu cũng diễn biến theo xu hƣớng ngày càng tăng từ
2,1 tỷ USD lên 3,8 tỷ USD (gấp 1,6 lần). Trong số tất cả các bạn hàng, nổi bật
lên Nhật Bản với vị trí thứ hai (sau Liên Xô cũ) kể cả về xuất khẩu và nhập
khẩu, cho dù tỷ trọng kim ngạch còn rất khiêm tốn. Bảng xếp hạng các đối tác
xuất khẩu lớn nhất của ta thời kỳ 1976 – 1990 cho thấy rõ điều này
Bảng 1: Danh sách 5 bạn hàng nhập khẩu lớn nhất
từ Việt Nam (1976 - 1990)
Nƣớc và vùng
Tỷ trọng % trong tổng
lãnh thổ
kim ngạch nhập khẩu
Liên Xô
44,1
1
Nhật Bản
10,6
2
Nam vẫn là nƣớc nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế. Ngoài các quan hệ hợp tác
kinh tế, thƣơng mại với Liên Xô và các nƣớc XHCN khác (khi đó đã có
những dấu hiệu khó khăn, khủng hoảng về kinh tế và chính trị...), Việt Nam
về cơ bản vẫn bị cô lập với các nền kinh tế còn lại trong khu vực và thế giới,
nhất là các nƣớc TBCN phát triển.
Tình thế đó đòi hỏi Việt Nam phải đổi mới, chuyển hƣớng chiến lƣợc
phát triển theo đƣờng lối mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo định
hƣớng XHCN. Chính sự chuyển hƣớng này đã bật đèn xanh để Việt Nam có
cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ hơn
với các nƣớc khu vực II, trong đó có Nhật Bản là một cƣờng quốc TBCN từ
lâu đã có sự quan tâm đến Việt Nam.
- Thứ ba: Về phía Nhật Bản, thực ra trong quan hệ thƣơng mại với Việt
Nam, hai bên đã có một quá trình hình thành và phát triển từ các thế kỷ trƣớc.
Quan hệ này nếu tính từ thời điểm hai nƣớc thiết lập quan hệ ngoại giao
(21/9/1973) cho đến nay đã trải qua nhiều thăng trầm, song nhìn về toàn cục
thì sự tồn tại và phát triển đó không chỉ là một tất yếu khách quan về nhu cầu
hợp tác phát triển kinh tế mà còn là một tất yếu khách quan về nhu cầu phát
triển các quan hệ an ninh, chính trị và ngoại giao trong bối cảnh khu vực hoá,
toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ.
Chính các yếu tố cơ bản trên khiến quan hệ thƣơng mại Việt Nam Nhật Bản trong những năm 1986 -1990 có sự gia tăng mạnh mẽ hơn trƣớc cho
dù thời gian này (trƣớc năm 1989) hai nƣớc còn có những bất đồng quan điểm
quanh việc Việt Nam đƣa quân đội vào Campuchia từ năm 1979. Thực tế là
Nhật Bản vẫn đang trong thời gian thi hành chính sách “nguội lạnh” với Việt
Nam; cùng với đó là ảnh hƣởng từ lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt
Nam đang rất căng thẳng.
Kể từ năm 1989 khi Việt Nam rút hết quân đội ra khỏi Campuchia, hoà
bình đƣợc thiết lập ở Đông Dƣơng, kinh tế - xã hội Việt Nam sau vài năm
thực hiện Đổi mới đã ngày càng ổn định hơn..., tạo ra những tiền đề kinh tế,
1989 và nếu so với năm 1986 là năm đầu tiên Việt Nam tiến hành Đổi mới thì
đã tăng hơn 323,2%. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật
Bản ngay từ đầu thập niên 1990 đã tăng rất nhanh. Cụ thể, năm 1986 mới chỉ
đạt 83 triệu USD, nhƣng năm 1991 đã vọt lên 662 triệu USD, tăng 797,6%.
Nhật Bản đã vƣơn lên trở thành bạn hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam,
thay thế vị trí của Liên Xô cũ. (nguồn: sdd [2] tr 87- 89)
1.1.2. Giai đoạn những năm 1990 (đến trước khủng hoảng)
Kết thúc năm 1990, công cuộc Đổi mới của Việt Nam tƣởng nhƣ vẫn
tiếp tục thuận buồm xuôi gió với những kết quả khả quan bƣớc đầu ở hầu hết
các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động ngoại thƣơng. Song, bƣớc
sang năm 1991, chúng ta đã gặp phải khó khăn đột biến do sự tan vỡ của hệ
thống XHCN thế giới, khiến cho hoạt động ngoại thƣơng Việt Nam bị hụt
hẫng lớn. Chúng ta mất đi khoảng 70-80% tổng giá trị xuất nhập khẩu mỗi
năm nếu không tìm kiếm thị trƣờng khác thay thế kịp thời. Sự đổ vỡ của Liên
Xô và các nƣớc Đông Âu còn gây tâm lý hoang mang, dao động trong không
ít ngƣời về sự sụp đổ của mô hình CNXH, hoài nghi về công cuộc Đổi mới ở
nƣớc ta, khi đó mặc dù có kết quả bƣớc đầu song chƣa đủ kinh nghiệm để
quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Đã xuất hiện nhiều kẽ hở cho
nạn tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, nhiều tệ nạn xã hội khác phát triển cùng
với tình trạng thất nghiệp có nguy cơ ngày càng gia tăng do nhiều cơ sở kinh
doanh không cạnh tranh nổi với kinh tế thị trƣờng phải chấp nhận thua lỗ, giải
thể...
Quan hệ hợp tác kinh tế, thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản từ đầu thập
niên 1990 đến năm 1997 đã phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng.
Chúng ta bƣớc đầu tận dụng và ngày càng phát huy có hiệu quả hơn các lợi
thế so sánh sẵn có về nhân công dồi dào giá rẻ, cùng với đó là một số mặt
214
809
156,8
381
662
217
879
108,7
445
1992
870
451
1.321
150,3
419
2.637
132,2
795
1996
2.020
1.140
3.160
119,8
880
1997
2.198
1.283
3.481
110,2
915
4.871
149,3
371
xuất khẩu
nhập khẩu
1990
595
1991
Nguồn: Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương), Bộ Kế hoạch và
Đầu tư Việt Nam, Tổng cục Hải quan Việt Nam, Tổng cục Thống kê Việt Nam,
Bộ Tài chính Nhật Bản (MOF), JETRO, Hội mậu dịch Nhật - Việt (JVTA)
Thực tiễn phát triển cho thấy, từ năm 1992 ghi nhận nhƣ một giai đoạn
thịnh vƣợng nhất của quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản.
Nếu nhƣ năm 1990 chúng ta xuất khẩu sang Nhật 595 triệu USD trong
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là 809 triệu USD thì chỉ 2 năm sau tăng lên
870 triệu USD, và năm 1993 con số này đã lần đầu tiên vƣợt ngƣỡng 1.000
triệu USD, đạt 1.069 triệu USD trên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 1.708
triệu USD (tăng 79,66% về kim ngạch xuất khẩu và 111,12% về tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu hai chiều).
Các năm tiếp theo, hai con số này liên tục tăng, cụ thể năm 1994 là
giai đoạn trƣớc và sau thời kỳ Đổi mới của Việt Nam, và ngay cả trong cùng
thời kỳ Việt Nam đã thực hiện Đổi mới. Cụ thể là, từ năm 1987 trở về trƣớc,
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu, và ngƣợc lại phía Nhật Bản là giá trị xuất khẩu
(loại trừ hai năm 1973 và 1974; song giá trị xuất siêu của Việt Nam không
đáng kể - năm 1973 là 3 triệu USD và năm 1974 là 9 triệu USD).
Trong khi đó, diễn biến của động thái cấu thành giá trị xuất nhập khẩu
Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1988 đến năm 1997 lại xảy ra theo chiều ngƣợc
lại tức là ngày càng xuất siêu lớn hơn về phía Việt Nam.
Chúng ta đã lần đầu tiên xuất siêu sang thị trƣờng Nhật Bản, với con số
còn khá khiêm tốn 2 triệu USD vào năm 1988. Và ngay năm sau, giá trị này
tăng 89 lần, đạt 178 triệu USD. Các năm tiếp theo cũng đều ghi nhận sự tăng
liên tục, năm 1990 là 381 triệu USD, năm 1992 là 419 triệu USD.... năm 1995
là 795 triệu USD. Khi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á bắt đầu
xảy ra, Việt Nam vẫn xuất siêu 915 triệu USD sang Nhật, gấp 2,2 lần so với
năm 1992 và gấp 457,5 lần so với năm 1988.
Thực tế là tăng trƣởng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật luôn luôn
cao hơn so với tăng trƣởng của nhập khẩu từ Nhật vào Việt Nam. Cụ thể, tính
chung cho 10 năm (1988-1997), Việt Nam xuất 11.023 triệu USD sang Nhật
trong khi chỉ nhập khẩu 5.872 triệu USD từ Nhật. Tốc độ tăng trƣởng thƣơng
mại bình quân hàng năm là 27,7%.
Còn nếu so sánh về tổng xuất siêu của 5 năm sau (1993-1997) tƣơng
ứng 3.726 triệu USD với tổng xuất siêu của 5 năm trƣớc (1988-1992) tƣơng
ứng 1.425 triệu USD ta thấy giá trị này tăng có 2,6 lần.
Nếu nhƣ năm 1990 chúng ta mới chỉ nhập 214 triệu USD giá trị hàng
hóa từ Nhật trên tổng kim ngạch thƣơng mại hai chiều 809 triệu USD, thì đến
năm 1991 con số này gần nhƣ không đổi với 217 triệu USD, và tăng lên con
số 451 triệu USD năm 1992 (trên tổng kim ngạch 1.321 triệu USD) tƣơng ứng
tăng 107%.
tiền thì có thể xảy ra khủng hoảng tài chính.
Nhƣ vậy, khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm đƣợc sử dụng
chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thƣờng
gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phƣơng tiện dùng để thanh
toán tại một thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khủng hoảng tài chính có đặc
điểm của khủng hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra
trong nền kinh tế thị trƣờng.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á nổ ra năm 1997 trƣớc hết
xuất phát từ Thái Lan. Ngày 2/7/1997, Ngân hàng Trung ƣơng Thái Lan tuyên
bố thả nổi đồng Baht, chấm dứt một thời kỳ dài duy trì tỷ giá hối đoái gần nhƣ
cố định so với đồng USD (năm 1991 là 25,28; năm 1992 là 25,19 và năm
1996 là 25,61). Ngay sau đó, đồng Baht đã mất giá 20%. Tháng 1/1998 tỷ giá
hối đoái đạt mức 53 Baht/USD.
Ngày 11/7/1997, Philippines tuyên bố thả nổi đồng Peso. Ngày
11/8/1997, Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trƣờng hối đoái (thực
chất là thả nổi đồng Ringgit). Ngày 14/8/1997, Indonesia tuyên bố thả nổi
đồng Rupiah. Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won của Hàn Quốc là 884,2
Won/USD thì ngày 30/9/1997 là 914,8 Won/USD. Ngày 14/12/1997, đồng
Won đƣợc thả nổi.
Có thể nói sự mất giá nhanh với quy mô chƣa từng có của các đồng nội
tệ nói trên là biểu hiện dễ nhận thấy của sự bùng nổ khủng hoảng kinh tế-tài
chính ở các nƣớc này.
Bảng 3: Sự mất giá của một số đồng nội tệ khu vực
Châu Á năm 1996 - 1997
Quốc gia
Đồng tiền
Năm 1996
Năm 1997
Ngày 9/4/1997: tỉ giá hối đoái tăng lên mức 26,08 Baht/USD
Ngày 25/6/1997: tổng số công ty tài chính bị đóng cửa là 58/91 (chiếm
64% trên toàn quốc)
Để giữ tỉ giá hối đoái, chính phủ phải bán ngoại tệ khiến dự trữ ngoại tệ
giảm mạnh từ 38,78 tỷ USD tháng 6/1996 còn 37,7 tỷ USD vào tháng
12/1996 và còn 31,4 tỷ USD vào 30/6/1997.
Nếu mức độ giảm sút dự trữ quốc gia của Quý 2 năm 1997 kéo dài
thêm khoảng 2-3 Quý nữa thì lúc đó dự trữ ngoại tệ quốc gia chỉ còn khoảng
10 tỷ USD, bằng 1/3 mức dự trữ ngoại tệ năm 1997, và chính phủ sẽ buộc
phải thả nổi tỉ giá hối đoái vì hoàn toàn không còn khả năng bán ngoại tệ để
duy trì tỉ giá hối đoái. Kết quả là tháng 6/1997: tỉ giá 25 Baht/USD và tháng
1/1998: tỉ giá 53 Baht/USD (tăng 112% chỉ trong 6 tháng).
Tóm lại, Thái Lan và một số nƣớc Đông Nam Á khác rơi vào cuộc
khủng hoảng tiền tệ là do các nƣớc này đã dùng đô la Mỹ để đảm bảo giá trị
cho đồng tiền riêng của họ. Một hệ thống tiền tệ cố định, thiếu linh động nhƣ
vậy tất yếu sẽ bị khủng hoảng. Vì tỷ giá hối đoái cố định sẽ không cho phép
có đƣợc sự điều chỉnh quy củ có trật tự nhƣ trong trƣờng hợp tỷ giá hối đoái
đƣợc thả nổi. (nguồn: tr 3-7, ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Khoa Kinh tế - Luật,
Bộ môn kinh tế đối ngoại, Môn học: Tài chính quốc tế, Đề tài: Diễn biến và
nguyên nhân khủng hoảng tài chính 1997 - 1998, GVHD: TS. Lê Tuấn Lộc).
Thống kê cho thấy, khủng hoảng này đã gây thiệt hại cho các nƣớc
Châu Á ít nhất 300 tỷ USD, khoảng 20% GDP của các nƣớc bị khủng hoảng
và thiệt hại chung của nền kinh tế toàn cầu lên đến 500 tỷ USD. Niềm tin của
các nhà đầu tƣ từ khu vực này giảm mạnh, các dòng vốn cũng sụt giảm theo.
Ngoài ra, căng thẳng tình trạng bất ổn định về chính trị theo đó gia tăng.
1.2.2. Tác động khủng hoảng tới nền kinh tế-thương mại Việt Nam và Nhật