ĐỀ TÀI: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP potx - Pdf 11

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ N02
NHÓM 10

ĐỀ TÀI:
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
– NHẬT BẢN: THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
Danh sách thành viên: Giáo viên hướng dẫn:
Huế, tháng 11 năm 2012
LỜI NÓI ĐẦU

Từ những năm đầu của thập kỷ 90 trở lại đây, việc mở rộng hội nhập và hợp
tác kinh tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa nền
kinh tế thế giới. Những lợi ích kinh tế của việc hội nhập kinh tế quốc tế đã mang
lại cho mỗi thành viên tham gia những lợi ích kinh tế mà không một quốc gia nào
có thể phủ nhận. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Để đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện chính
sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa và các quan hệ kinh tế quốc
tế, lấy mục tiêu vì hòa bình và phát triển làm tiêu chuẩn và phương châm cho mọi
hoạt động đối ngoại. Thêm vào đó, trong bối cảnh phân công lao động quốc tế
đang diễn ra mạnh mẽ, việc hợp tác kinh tế quốc tế đã và đang trở thành cách tốt
nhất để các quốc gia phát huy được tối đa lợi thế của mình, có con đường phát triển
một cách chuyên nghiệp và đầy hiệu quả. Không nằm ngoài xu thế trên, cả Việt
Nam và Nhật Bản đều đã tìm thấy ở nhau những điều kiện thuận lợi cũng như lợi
ích kinh tế của bản thân mỗi nươc khi xây dựng, phát triển và củng cố mối quan hệ
hợp tác song phương giữa hai nước. Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt
được, trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản vẫn tồn tại một số hạn
chế cần khắc phục nhằm phát triển hơn nữa để tương xứng với tiềm năng của hai
nước, đưa mối quan hệ này lên một tầm cao mới.

tùng khác
98.558.243 700.128.930
Hàng thuỷ USD 92882566 594.667.579
sản
Gỗ và sp gỗ USD 56.313.925 366.568.662
Thuỷ tinh
và các sp từ
thuỷ tinh
USD 7.275.045 308.213.268
Sp từ chất
dẻo
USD 31.572.666 201.071.734
Máy vi tính,
sp điện tử
và linh kiện
USD 29.202.134 196.258.598
Giày dép
các loại
USD 25.303.730 184.329.516
Cà phê Tấn 6349 14.266.222 51799 116.514.231
Dây điện và
dây cáp
điện
19.952.695 108.918.564
Than đá Tấn 53043 8.487.190 610625 102.099.363
Tuí xách,
ví, vali, mũ
và ôdù
USD 15.320.946 101.005.522
Sp từ sắt

sp
USD 3.138.557 20.876.024
Sp mây, tre,
cói và thảm
USD 2.259.471 20.353.890
Quặng và
khoáng sản
khác
Tấn 1078 2.028.800 25.259 19.243.835
Cao su Tấn 757 2.516.601 5.064 18.321.293
Bánh kẹo và
các sp từ
ngũ cốc
USD 2.320.666 15229987
Xơ, sợi dệt
các loại
Tấn 1.830.812 1.853 13.665.747
Chất dẻo
nguyên liệu
Tấn 454 1.599.897 3.698 10.100.712
Hạt tiêu Tấn 137 1.172.512 900 8.125.196
Hạt điều Tấn 128 926.830 719 4.934.409
Sắt thép các
loại
Tấn 795 739.692 2674 3.870.037
Sắn và các
sp từ sắn
Tấn 730 319.903 9.138 2.925.051
II. Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam.


cùng kỳ năm 2011. Trong đó, giá trị xuất khẩu sang các khối/nước thị trường lớn
tăng trưởng khá mạnh, ngoại trừ sự sụt giảm của thị trường Châu Âu.
Nguồn: Tổng Cục Hải Quan Việt Nam/ Vasep. Đvt: Triệu USD
Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 của Việt Nam. 5
tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản sang Nhật đã có bước phát triển khá mạnh khi
tăng trưởng chung đạt mức cao nhất 35,4%, tỷ trọng giá trị xuất khẩu 5 tháng đã
tăng lên 17,5% so với mức 14,4% của 5 tháng đầu năm 2011. Trong đó tôm là mặt
hàng được xuất sang Nhật lớn nhất.
Nguồn: Tổng Cục Hải Quan Việt Nam/ Vasep. Đvt: Triệu USD
Mặc dù xuất khẩu thủy sản sang EU 5 tháng đầu năm sụt giảm so với cùng
kỳ, nhưng xét trong 5 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường
này đã tăng trở lại trong tháng 5. Ngoài ra, 2 mặt hàng chủ lực là tôm và cá tra,
ngoại trừ giá trị xuất khẩu cá tra giảm, tôm vẫn tăng.
Dầu thô: Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản:
1,79 triệu tấn, tăng 122,8%.
Một số nhóm hàng nhập khẩu chính
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng
này chủ yếu từ Nhật Bản: 1,97 tỷ USD, tăng 28,5%.
Nguyên vật liệu cho ngành dệt may da giày: nhập khẩu từ Nhật Bản: 463
triệu USD, tăng 20%; … so với cùng kỳ năm 2011.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: từ Nhật Bản: 890 triệu
USD, tăng 65,1%.
Kim ngạch nhập khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện theo tháng
năm 2010-2011 và 10 tháng năm 2012.

Nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc: 2,67 tỷ
USD, tăng 45,9%; Hàn Quốc: 2,67 tỷ USD, tăng 79,7%; Nhật Bản: 1,38 tỷ USD,
tăng 55,4%; Hoa Kỳ: 861 triệu USD, tăng 2 lần; Singapore: 842 triệu USD, tăng
162%; Malaixia: 502 triệu USD, tăng 38,3%; … so với cùng kỳ năm 2011.
Sắt thép các loại: 1,17 triệu tấn, tăng 5,6%.

nhưng nhập lại những mặt hàng công nghiệp nặng từ Nhật Bản. Rất có thể
Việt Nam sẽ còn phải nhập khẩu nhiều mặt hàng,thiết bị…trong ngành công
nghiệp nặng của Nhật Bản còn chúng ta lại không có những mặt hàng sử
dụng tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu sang Nhật Bản và cán cân thương
mại thiên về Nhật Bản.
• Các doanh nghiệp Nhật Bản rất coi trọng chữ “tín” trong quan hệ với bạn
hàng và thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong hợp đồng khi đã ký hợp
đồng, doanh nghiệp chưa thật sự hiểu biết thấu đáo về văn hóa, tập quán
kinh doanh của Nhật Bản;từ đó gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam
trong việc tiếp cận thị trường Nhật Bản.
• Nhật Bản rất khắt khe về tiêu chẩn và chất lượng của hàng hóa. Cụ thể, có
rào cản kỹ thuật đối với hàng nông sản, thủy sản. Nhật Bản kiểm tra chất
lượng an toàn thực phẩm 100%.
IV. Giải pháp cho quan hệ thương mại Việt Nam Nhật Bản.
Hiện Nhật Bản là nước viện trợ lớn nhất cho Việt Nam, đồng thời là nước
đầu tư lớn thứ 3 vào Việt Nam với tổng số vốn đầu tư theo cam kết lên tới 4,48 tỉ
USD, trong đó 3,95 tỉ USD đã được giải ngân.
• Quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam và Nhật Bản là một trong
những mối quan hệ lớn, ổn định, lâu dài trong hoạt động kinh doanh
đối ngoại của nước ta. Hơn nữa nước ta nằm trong khu vực châu Á và
là thành viên của khối các nước ASEAN nên chúng ta cùng chịu tác
động chiến lược kinh tế tài chính của Nhật Bản đối với khu vực châu
Á và của khối ASEAN đối với Nhật Bản.
• Tăng cường hợp tác kinh tế với Nhật Bản nhằm tranh thủ các lợi ích
kinh tế có được, phục vụ cho sự nghiệp kinh tế- xã hội, nhưng đồng
thời để giảm tối thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào Nhật Bản cũng như tác
động xấu đến chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong thời gian
tới, chúng ta cần xây dựng những chiến lược cụ thể trong quan hệ
kinh tế và quan hệ đối ngoại với Nhật Bản trên quan điểm: Đánh giá
đúng chiến lược kinh tế các nước trong khu vực, các tổ chức quốc tế,

chính sách thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, đội ngũ cán bộ công
nhân viên… Hiện tại, để giảm bớt sự trả giá, ngay từ bây giờ cơ cấu
xuất khẩu của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng là: làm giảm và tiến
tới loại bỏ các nguyên, nhiên liệu thô, gia tăng tỷ trọng xuất khẩu của
những mặt hàng đã qua chế biến. Cơ cấu nhập khẩu cũng phải chuyển
dịch theo hướng ưu tiên nhập khẩu những máy móc công nghệ đáp
ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nước. Có nghĩa là
các công nghệ hiện đại sẽ chiếm tỷ trọng cao trong giá trị nhập khẩu
của Việt Nam, bởi vì Nhật Bản là một nước có tiềm lực khoa học
công nghệ rất phát triển so với các quốc gia khác trên thế giới. Các
mặt hàng tiêu dùng, nếu không phải là thiết yếu thì sẽ không nhập
khẩu hoặc chỉ nhập khẩu với tỷ trọng không đáng kể, ưu tiên dành
mọi nguồn lực cho nhập khẩu máy móc, công nghệ phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
• Tình trạng yếu kém trong khả năng tài chính của các công ty Việt
Nam, nhất là các công ty nhà nước, khiến hoạt động xuất nhập khẩu
giữa Việt Nam – Nhật Bản giảm sút. Do vậy, chính phủ cũng cần có
những chính sách và biện pháp tích cực để giải quyết triệt để những
khoản nợ mà các công ty Việt Nam đang mắc phải( chủ yếu là nợ khó
đòi). Cho phép các công ty mua lại dưới hình thức trả chậm. Chính
phủ Việt Nam cũng cần phải có những biện pháp củng cố, sắp xếp,
điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh
nghiệp nhà nước kể cả những doanh nghiệp đã cổ phần hóa. Có thể
cho giải thể những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong các
lĩnh vực ít phục vụ cho nền kinh tế quốc dân. Đẩy nhanh hơn tiến
trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hơn nữa vai
trò của thị trường chứng khoán trong đời sống kinh tế quốc gia, đồng
thời khuyến khích phát triển đa dạng hóa kinh tế tư bản tư nhân rộng
rãi trong ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm,
đa dạng hóa cả những thành phần kinh tế ngoài 6 thành phần kinh tế

hút vốn đầu tư nước ngoài, phía nhà nước Việt Nam cần hết sức
quan tâm tới vốn đầu tư nước ngoài, phía nhà nước Việt Nam
cần hết sức quan tâm tới vốn đầu tư của Nhật Bản vì các nhà
đầu tư Nhật khi chuyển sang sản xuất tại Việt Nam sẽ xuất khẩu
trở lại Nhât Bản một phần, hoặc có thể toàn bộ sản phẩm của
nhà máy họ, góp phân fnaang cao kim ngạch hàng hóa sản xuất
tại Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản. Đặc biệt các nhà
đầu tư Nhật Bản cũng rất quan tâm đến sự kiện Việt Nam kí
hiệp định thương mại song song với Mỹ ngày 13/7/2000 và sự
kiện Việt Nam đăng cai tổ chức Seagames lần thứ của Đông
Nam Á. Đây là cơ hội cho các cơ sở đầu tư của họ tại Việt Nam
có thể xuất khẩu hàng hóa sang cả thị trường Mỹ và các nước
khác giúp cho việc tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói
chung và tạo ra một cơ hội cho việc tiếp thị quảng cáo giới
thiệu sản phẩm mới.
• Giải quyết khó khăn cho các nhà đầu tư Nhật Bản:
o Bộ đã tiến hành khảo sát và theo dõi 500 doanh nghiệp Nhật Bản về
thực tiễn hoạt động cũng như các vướng mắc khó khăn gặp phải khi
làm ăn tại Việt Nam. Trong đó, các khía cạnh như việc thực thi các
quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, áp dụng chính sách kế
toán, chính sách lao động, tiền lương, đất đai, xây dựng đều được
nghiên cứu. Kết quả của khảo sát trên sẽ là tiền đề quan trọng để Bộ
Kế hoạch và Đầu tư đánh giá, nghiên cứu nhằm cải thiện hệ thống
chính sách, pháp luật để giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp
Nhật Bản.
o Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/9/2012,
Nhật Bản có 758 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với
tổng vốn đầu tư đăng ký 28,6 tỷ USD, đứng thứ nhất trên 96 quốc gia
và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các dự án đầu tư của Nhật
Bản phân bố trên cả 63 tỉnh thành, tuy nhiên tập trung chính ở các

• Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Nhật Bản: Tổ chức các hội thảo nhằm đánh
giá đúng thực trạng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản và
đề ra các giải pháp khả thi để thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác này trong
tương lai trên các lĩnh vực đầu tư phát triển, thương mại, du lịch, giáo dục
đào tạo và giao lưu văn hóa.
• Hơn 30 năm qua, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt
trong giai đoạn từ đầu thập kỷ 90 đến nay, Việt Nam - Nhật Bản đã có
những bước phát triển mạnh mẽ cả về chính trị và kinh tế. Không những là
đối tác hàng đầu về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và về quan hệ
thương mại, Nhật Bản còn là một trong những quốc gia có vốn đầu tư trực
tiếp (FDI) lớn nhất vào nước ta.
o Để tăng cường thu hút đầu tư của Nhật Bản, Việt Nam cần giải quyết
sớm bài toán phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cùng với việc tháo
gỡ các vướng mắc khác đang tồn tại trong ngành này – đây chính là
chìa khóa để Việt Nam có thể đón bắt được làn sóng đầu tư mới của
Nhật Bản. Công nghiệp phụ trợ có vai trò rất quan trọng trong việc thu
hút dòng vốn FDI, bởi vì bản thân các tập đoàn và các công ty lớn về
lắp ráp hiện cũng chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên
cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một
công ty hay nhà máy.
o Trên thực tế, Việt Nam rất có tiềm năng phát triển công nghiệp phụ
trợ như lợi thế về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên. Việc ngày
càng nhiều các doanh nghiệp nước ngoài quan tâm đầu tư vào Việt
Nam đang tạo ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp trong ngành công
nghiệp phụ trợ bởi khi quyết định đầu tư, các doanh nghiệp nước
ngoài đánh giá rất cao sự hỗ trợ của các doanh nghiệp công nghiệp ở
khu vực xung quanh nhằm gia tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm. Ông
Junichi Mori, chuyên gia UNIDO cho biết, đối với các sản phẩm điện
tử tiêu dùng, chi phí vật liệu và linh phụ kiện chiếm 70% chi phí sản
xuất, phần còn lại bao gồm chi phí về lao động (khoảng 10%), chi phí

hàng đúng hạn; chất lượng sản phẩm luôn ổn định; và giá cả luôn
cạnh tranh. Đối với các doanh nghiệp FDI, tiêu chuẩn để lựa chọn đối
tác là chỉ những doanh nghiệp nào đáp ứng được đủ các điều kiện về
chất lượng, thời gian giao hàng thì mới được chọn.Các linh kiện chỉ
đạt từ 80-90% chất lượng tiêu chuẩn để lắp ráp vào sản phẩm hoàn
chỉnh sẽ không được chấp nhận.Điều này là thách thức lớn đối với các
doanh nghiệp trong nước, đặt ra yêu cầu cho các công ty này phải tự
trau dồi để nâng cao năng lực, cải tiến chất lượng. Một số nhà cung
cấp trong nước hiện là đối tác của các công ty liên doanh, công ty vốn
đầu tư nước ngoài đã phải bỏ nhiều công sức tìm hiểu đối tác, nắm bắt
công nghệ và cách quản lý, điều hành của các công ty Nhật, bên cạnh
đó là đầu tư thiết bị, nhà xưởng, cải tạo điều kiện làm việc, áp dụng
các tiêu chuẩn ISO
• Những giải pháp công nghiệp ở địa phương để thu hút công nghiệp hỗ trợ từ
Nhật Bản:
o Xác định tầm nhìn và quy hoạch. Đây là vấn đề cốt lõi xây dựng định
hướng thu hút đầu tư của địa phương. Trên cơ sở quy hoạch phát triển
kinh tế-xã hội của tỉnh, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, phân tích
các lợi thế so sánh của địa phương để xác định có thu hút phát triển
công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh hay không? Khi đã xác định nhu
cầu cần thiết phải phát triển công nghiệp hỗ trợ, nên rà soát lại quy
hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Từ đó căn cứ
vào yêu cầu của các nhà đầu tư Nhật Bản để xác định bố trí quy hoạch
khu công nghiệp dành riêng cho phát triển công nghiệp hỗ trợ. Vị trí
quy hoạch cần thỏa mãn nhu cầu xây dựng khu công nghiệp kết hợp
với đô thị mới.
o Chuẩn bị các điều kiện về môi trường pháp lý và nhân lực. Cần
nghiên cứu các chính sách khuyến khích, ưu đãi phát triển công
nghiệp hỗ trợ của Nhà nước, vận dụng có hiệu quả vào điều kiện của
địa phương, xây dựng các chính sách khuyến khích ưu đãi riêng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status