đại học quốc gia hà nội
Khoa kinh tế Nguyễn Thu Hạnh
Quan hệ th-ơng mại Việt Nam - Nhật Bản
Thực trạng và giải pháp
Mã số: 50201 Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGUYỄN XUÂN THIÊN
Hà Nội - 2004
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN
2.1.1. Sự điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại hƣớng về
châu Á của Nhật Bản
2.1.2. Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam
2.1.3. Tác động của chính sách đối với sự phát triển hoạt
động thƣơng mại hai nƣớc Việt Nam và Nhật Bản
2.2. THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -
NHẬT BẢN
2.2.1. Xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản
2.2.2. Nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA QUAN HỆ
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN
38
38
38
45
50
53
53
59
64
64
2.3.1. Quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản góp phần
tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
2.3.2. Những hạn chế, bất cập còn đang tồn tại trong quan
hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản
71
73
80
80
85 87
89
KẾT LUẬN
91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
94 -1-
MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/ 03/1973.
Trong 30 năm qua, quan hệ kinh tế giữa hai nước không ngừng phát triển trong đó
quan hệ thương mại ngày càng được tăng cường mạnh mẽ. Đặc biệt từ khi Liên
Xô và Đông Âu tan rã, Nhật Bản đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, có
vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
Quá trình phát triển thương mại giữa hai nước có thể chia làm ba giai đoạn
; 1973 - 1986, 1987 - 1992, 1993 cho đến nay với hai bước ngoặt quyết định vào
năm 1987 và 1992. Trước năm 1987, quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn được
xuất nhập khẩu hàng hoá giữa hai nước còn nhiều bất cập Vì vậy nhiều vấn đề
đặt ra cần được nghiên cứu như : tại sao kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Nhật Bản đã tăng lên một cách nhanh chóng nhưng tỷ trọng của nó trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam lại tăng giảm thất thường? Quan hệ thương mại
Việt Nam - Nhật Bản đã tương xứng với tiềm năng vốn có của hai nước hay
chưa? Việt Nam cần phải làm gì để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của quan hệ
thương mại Việt Nam - Nhật Bản.
Mặc dù cho đến nay trong quan hệ thương mại Việt - Nhật vẫn còn khó
khăn, song trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá thương mại, gần đây Nhật Bản
cũng đã có một số động thái tích cực, đó là liên minh tự do thương mại với một số
quốc gia như Singapo, Canađa, Chilê và Mêhicô và Nhật cũng đang nỗ lực xúc
tiến việc thành lập khối mậu dịch tự do với ASEAN, nhằm mở rộng hơn nữa vai
trò cường quốc kinh tế ở khu vực châu Á. Đây là một thay đổi lớn trong chính
sách thương mại của Nhật Bản vì cho đến tận cuối những năm 1990, Nhật Bản
vẫn cứng rắn không tham gia một thoả thuận thương mại song phương nào mà
chủ yếu chỉ dựa vào các tổ chức đa phương như Tổ chức thương mại thế giới
(WTO). Chính vì thế, hy vọng rằng trước những yêu cầu mới của bối cảnh toàn
cầu hoá và khu vực hoá các hoạt động kinh tế, sự thay đổi chính sách thương mại
quốc tế của Nhật Bản cùng với sự kiện kỷ niệm trọng thể 30 năm ngày chính thức
thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản trong năm 2003, trong tương lai
gần hai nước sẽ ký kết hiệp định về thương mại song phương, khi đó quan hệ
thương mại Việt - Nhật càng có điều kiện phát triển mạnh hơn nữa. Đương nhiên
để đạt được sự phát triển như vậy, về phía Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực
thực hiện có hiệu quả cao nhất các giải pháp cơ bản về phát triển ngoại thương
Việt Nam nói chung và thương mại Việt - Nhật nói riêng.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Ở Việt Nam từ trước đến nay các công trình của một số các tác giả nghiên cứu
liên quan đến quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản là :
- Đỗ Đức Định, “ Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản đang phát triển”,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.
Bản mà đặt trong quan hệ tác động qua lại với các vấn đề kinh tế chính trị khác
như đầu tư, ODA, hoạt động chính trị và ngoại giao
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật
Bản, góp phần phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước ngày càng sâu sắc
hơn.
-4-
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu : Nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật
Bản với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản và nhập khẩu
của Việt Nam từ Nhật Bản.
- Phạm vi nghiên cứu : Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản có từ thế
kỷ XVI - XVII nhưng luận văn tập trung phân tích quan hệ thương mại Việt
Nam - Nhật Bản từ năm 1976 đến nay.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu
như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hoá khoa học, luận văn còn sử
dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và trường hợp đặc biệt sử
dụng phương pháp phân tích so sánh, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm
sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thương mại Việt
Nam - Nhật Bản.
- Làm rõ những đặc điểm nổi bật của quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật
Bản, xu hướng vận động và phát triển.
- Đề xuất những giải pháp đối với Việt Nam để thúc đẩy và nâng cao hiệu
quả quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
hàng hoá khác nhau có hiệu quả hơn những thứ khác.
Adam Smith cho rằng nếu thương mại không bị hạn chế thì lợi ích của
thương mại quốc tế thu được do sự thực hiện nguyên tắc phân công. Ông phê
phán sự phi lý của những hạn chế của lý tưởng trọng thương và chứng minh
rằng mậu dịch sẽ giúp ích cả hai bên tăng gia sản - hiểu theo ý lợi tức thực sự
qua việc thực thi một nguyên tắc cơ bản : nguyên tắc phân công.
Theo cuốn “The Wealth of Nations - Sự giàu có của một quốc gia”
Adam Smith cho rằng : phương ngôn của mọi người chủ gia đình khôn ngoan
là không bao giờ tự sản xuất những gì mà nếu đi mua sẽ được rẻ hơn. Người
thợ may không khi nào hì hục đóng đôi giày mà thường đi mua ở người thợ
giày. Và người thợ giày cũng không cần loay hoay cắt may, mà nhờ anh thợ
may may hộ. Người nông dân không tự làm lấy hai thứ trên, mà nhờ vào các
tay thợ khéo. Mọi người dân đều có lợi khi chăm chỉ làm công việc của mình
có lợi thế hơn láng giềng, và dùng một phần số sản phẩm của mình hay tiền
bán được số sản phẩm ấy để đi mua mọi thứ cần dùng khác.
-6-
Những gì trong sinh hoạt cá nhân được coi là khôn ngoan ít khi nào lại
là một điều rồ dại đối với quốc gia. Nếu một nước ngoài có thể cung cấp một
loại hàng rẻ hơn là khi ta tự sản xuất, thì tốt hơn hết nên đi mua loại hàng ấy,
dành thì giờ chuyên chú vào một hoạt động khác mà ta có lợi hơn, để bán lấy
tiền tiêu dùng.
Theo Adam Smith, nếu quốc gia chuyên môn hoá vào những ngành sản
xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối thì cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí
và hiệu quả hơn các quốc gia khác.
Nhờ sự chuyên môn hoá, các nước có thế gia tăng hiệu quả do :
1) Người lao động sẽ lành nghề hơn do họ lặp lại cùng một thao tác nhiều
lần.
2) Người lao động không phải mất thời gian chuyển từ việc sản xuất sản
phẩm này sang sản xuất sản phẩm khác.
3) Do làm một công việc lâu dài, người lao động sẽ nẩy sinh các sáng kiến,
hàng hóa khác. Đó là trường hợp lợi thế tuyệt đối tương hỗ. Mỗi nước đều có
lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một loại sản phẩm. Trong trường hợp như thế,
tổng sản phẩm của cả hai nước có thể tăng lên (so với nền kinh tế tự cung tự
cấp) nếu mỗi nước chuyên môn hoá sản xuất loại sản phẩm mà nước đó có lợi
thế tuyệt đối.
Ví dụ sau đây đưa ra tình huống giả định về sản lượng gạo và vải vóc
đều tăng lên khi mỗi nước sản xuất nhiều hơn số hàng hoá mà nước đó có lợi
thế tuyệt đối. Kết quả là sẽ có nhiều lúa gạo và vải vóc cùng một chi phí về
nguồn lực.
Bảng 1: Lượng lúa gạo và vải vóc có thể được sản xuất với một đơn vị
nguồn lực ở Việt Nam và Hàn Quốc.
Nƣớc
Lúa gạo (tạ)
Vải vóc (m
2
)
Việt Nam
10
6
Hàn Quốc
5
10
Ta có thể thấy ngay Việt Nam có lợi thế trong việc sản xuất lúa gạo, còn
Hàn Quốc trong việc sản xuất vải.
-8-
Bảng 2: Những thay đổi xẩy ra khi chuyển một đơn vị nguồn lực của Việt
Nam sang sản xuất lúa gạo, và một đơn vị nguồn lực của Hàn Quốc sang
sản xuất vải.
tự cung tự cấp. Như vậy, Việt Nam sẽ phải sản xuất nhiều lúa gạo và ít vải hơn
so với nhu cầu người tiêu dùng ở Việt Nam và Hàn Quốc sẽ sản xuất nhiều vải
và ít lúa gạo hơn so với nhu cầu của người tiêu dùng ở Hàn Quốc. Nếu người
tiêu dùng ở cả hai nước có vải và lúa gạo theo một tỷ lệ mong muốn thì Hàn
Quốc cần phải xuất khẩu vải sang Việt Nam và nhập lúa gạo từ Việt Nam.
1.1.2 . Lý thuyết lợi thế so sánh
-9-
Lợi ích thương mại vẫn diễn ra ở những nước có lợi ích tuyệt đối về tất
cả các sản phẩm vì các nước này cần phải hy sinh sản lượng kém hiệu quả để
sản xuất ra sản lượng có hiệu quả hơn. Hay nói cách khác những lợi ích do
chuyên môn hoá và ngoại thương mang lại phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ
không phải lợi thế tuyệt đối.
Khi mỗi nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng
hoá, lợi ích của ngoại thương là rõ ràng. Nhưng điều gì sẽ xẩy ra nếu một nước
có thể sản xuất có hiệu quả hơn nước kia trong hầu hết các mặt hàng? Hoặc
những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả, thì chỗ đứng của họ trong phân
công lao động quốc tế là ở đâu? hoạt động thương mại diễn ra như thế nào với
những nước này?
Trên thực tế đó là một câu hỏi mà David Ricardo từ hơn 170 năm trước
và chính ông đã trả lời câu hỏi đó trong các tác phẩm với tiếng của mình
“Những nguyên lý của kinh tế chính trị, 1817” trong tác phẩm này, David
Ricardo đã đưa ra một lý thuyết tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện
lợi ích trong thương mại quốc tế. Theo David Ricardo, cơ chế xuất hiện lợi ích
trong thương mại quốc tế là :
- Mỗi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế bởi vì
ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước : do
chỉ chuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất
khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng hoá nhập khẩu từ nước khác.
- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn nước khác hoặc bị kém
lợi thế tuyệt đối hơn các nước khác trong việc sản xuất mọi sản phẩm,
Tổng cộng
Có ngoại thương (Việt Nam sản xuất lượng
vải cần thiết còn lại)
Tăng sản xuất lúa gạo
Việt Nam
Hàn Quốc
Tổng cộng
Việt Nam
100
3
4 50
50
vải 12,5
10
22,5 6,3
20
26,3
2,5
Nam có thể sản xuất lúa gạo gấp hai lần so với Hàn Quốc, còn về sản xuất vải
thì Việt Nam lại chỉ có gấp hơn một lần.
Cho dù Hàn Quốc bất lợi về sản xuất cả hai loại sản phẩm nhưng Hàn
Quốc vẫn có lợi thế tương đối về vải. Do sản xuất lúa gạo của Hàn Quốc chỉ
bằng 50% so với Việt Nam, còn sản xuất vải chỉ bằng 75% so với Việt Nam.
Chúng ta giả thiết mỗi quốc gia đang có 100 đơn vị nguồn lực. Nếu mỗi
nước dùng một nửa đơn vị nguồn lực cho việc sản xuất mỗi sản phẩm thì Việt
Nam có thể sản xuất được 12,5 kiện vải (50/4) và 16,6 tấn lúa gạo (50/3), còn
Hàn Quốc được 10 kiện vải (50/5) và 8,3 tấn gạo (50/6).
Nếu không có ngoại thương, sản lượng lúa gạo tổng cộng là 24,9 tấn
(Việt Nam 16,6 tấn; Hàn Quốc 8,3 tấn) và 22,5 kiện vải (Việt Nam 12,5 kiện;
Hàn Quốc 10 kiện) .
Nhờ mở cửa buôn bán mà sản lượng lúa gạo và vải hay tổng cộng cả hai
loại sản phẩm có thể tăng thêm.
Nếu ta tăng sản xuất vải, mà không thay đổi sản xuất lúa gạo như trước
khi ta trao đổi, thì Việt Nam có thể sản xuất tất cả 24,9 tấn lúa gạo bằng cách
sử dụng 74,7 đơn vị nguồn lực (74,7/3) với 25,3 đơn vị nguồn lực còn lại, Việt
Nam có thể sử dụng để sản xuất 6,3 kiện vải (25,3/4). Hàn Quốc trong trường
hợp này sử dụng toàn bộ nguồn lực của mình để sản xuất 20 kiện vải. Sản
lượng lúa gạo tổng cộng là 24,9 tấn, nhưng sản lượng vải tăng lên từ 22,5 kiện
lên 26,3 kiện.
Nếu ta tăng sản xuất lúa gạo tại Việt Nam, và vẫn giữ nguyên sản lượng
vải như trước khi có buôn bán giữa hai nước, Hàn Quốc có thể sử dụng toàn bộ
nguồn lực của mình để sản xuất 20 kiện vải, Việt Nam có thể sản xuất 2,5 kiện
vải còn lại với 10 đơn vị nguồn lực (10/4); 90 đơn vị nguồn lực còn lại Việt
Nam có thể sản xuất 30 tấn lúa gạo (90/3) không cần phải hy sinh lượng vải có
sẵn trước khi có ngoại thương, lượng lúa gạo vẫn tăng lên từ 24,9 tấn lên 30
tấn.
Xét cho kỹ thì lý luận của David Ricardo chỉ là mở rộng nguyên tắc
phân công. Một cách khái quát, cho cả quốc gia cũng như cá nhân, chuyên
Anh
100
50
75
60
Chúng ta thấy, cùng một nguồn lực (đầu vào) là nhân công, Bồ Đào
Nha có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai thứ hàng, nhưng có lợi thế
tương đối hơn về rượu (100/50=2/1 so với 75/60=5/4) . Ngược lại, Anh lại có
lợi thế tương đối hơn về vải (60/75=4/5 so với 50/100=1/2).
Một cách tổng quát, có thể phát triển nguyên tắc lợi thế tương đối như sau:
Nếu với cùng một điều kiện đầu vào, người ta có thể sản xuất được a
1
và b
1
lượng hàng A và B ở quốc gia I, và a
2
và b
2
ở quốc gia II thì quốc gia I sẽ
xuất khẩu A để nhập B nếu a
1
/b
1
>a
2
/b
2
, nghĩa là so với quốc gia II, tương đối
quốc gia I có khả năng sản xuất A nhiều hơn B (hoặc có thể a
phân tích của ông về ngoại thương là dựa trên quy luật giá trị, Các Mác cho
rằng chi phí về lao động là cơ chế cho trao đổi, buôn bán hàng hoá giữa các
nước, theo đó hạ thấp được chi phí lao động thì hoạt động ngoại thương tất yếu
là có lợi. Điều có nghĩa là chi phí lao động là nguồn lực quan trọng nhất, là cơ
sở quan trọng nhất để phân tích lợi ích của ngoại thương. Trong mậu dịch quốc
tế, nguyên tắc trao đổi hàng hoá phải tuân theo nguyên tắc ngang giá. Ông đã
phê phán gay gắt quan điểm sai lầm, thô thiển của chủ nghĩa trọng thương cho
rằng “Trọng thương mại sở dĩ là một bên có lợi là vì đã làm thiệt hại bên kia”.
Thứ hai, sự hình thành và phát triển của ngoại thương là tất yếu khách
quan của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa là một nền kinh tế hàng hoá luôn đòi hỏi thị trường ngày càng
mở rộng, không chỉ là thị trường tiêu thụ sản phẩm mà còn là thị trường cung
cấp nguyên liệu cho sản xuất. Và điều quan trọng hơn hết, ngoại thương xuất
hiện là một tất yếu do sự chi phối của quy luật giá trị thặng dư tối đa.
1.2. NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM -
NHẬT BẢN
1.2.1. Xu hƣớng chung của quan hệ thƣơng mại quốc tế
* Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế
Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là từ đầu
những năm 1990 đến nay đã có tác động rất lớn đến quan hệ kinh tế giữa Việt
Nam và Nhật Bản. Bước vào thập kỷ 90, xu hướng hoà bình hợp tác và phát
-14-
triển đã trở thành chủ đề chính của thời đại. Hình thức chủ yếu của cạnh tranh
quốc tế đã chuyển từ chạy đua vũ trang thời kỳ chiến tranh lạnh sang cạnh
tranh kinh tế. Có thể nói rằng, kể từ sau chiến tranh thế giới hai, dưới sự tác
động của quốc tế hoá sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật không ngừng
phát triển, tính tuỳ thuộc lẫn nhau và bổ sung cho nhau của nền kinh tế các
nước vốn đã khá phát triển lại càng gia tăng mạnh mẽ trong xu thế của quá
trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay. Và chính quá trình toàn cầu hoá và sự phụ
khu vực và các nền kinh tế trên khắp thế giới mà còn có thể tiến sâu hơn vào
những vùng sâu, vùng xa và những nơi hẻo lánh mà trước đây không thể có
điều kiện vươn tới được.
Thứ ba, dưới tác động của toàn cầu hoá và cách mạng tin học, các quá
trình liên kết khu vực và toàn cầu cũng đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi các quốc
gia phải sử dụng tối ưu các nguồn lực để hội nhập có hiệu quả vào quá trình
hợp tác và phân công lao động quốc tế. Các tiến trình này sẽ làm nảy sinh nhu
cầu kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách thương mại với đầu tư và viện trợ,
đẩy mạnh tự do hoá thương mại bằng cách dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi
thuế quan giữa các quốc gia Các nước phát triển có điều kiện thực hiện các
chiến lược đầu tư và thương mại mà trước đó luôn bị các hàng rào bảo hộ
phong toả thông qua việc đặt các chi nhánh ở nước ngoài và cho phép các chi
nhánh đó thực hiện đầu tư trực tiếp và mở rộng buôn bán sang các nước thứ ba.
Vâỵ thực chất của toàn cầu hoá kinh tế là gì và những đặc trưng cơ bản
của quá trình này là như thế nào? thực chất của toàn cầu hoá về kinh tế: “ là sự
tự do hoá kinh tế và hội nhập kinh tế và hội nhập quốc tế, mà trước hết là về
thương mại đầu tư, và dịch vụ v v. Tự do hoá kinh tế cũng có các mức độ
khác nhau, từ giảm thuế quan đến xoá bỏ thuế quan; từ tự do hoá thương mại
đến tự do hoá về hàng hoá và dịch vụ, từ tự do hoá về kinh tế trong quan hệ đôi
bên đến nhiều bên, trong quan hệ khu vực đến toàn cầu. Hội nhập kinh tế cũng
vậy, cũng có những thứ bậc cao thấp khác nhau, song các quốc gia dù muốn
hay không dần dần đều phải hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn
cầu, cần phải có chiến lược và có chính sách để thích ứng với quá trình toàn
cầu hoá”
1
Cùng với sự phát triển không ngừng của toàn cầu hoá, sự dựa vào nhau,
tác động và ảnh lẫn nhau của kinh tế các nước ngày càng sâu sắc, trách nhiệm
của chính phủ các nước đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu ngày càng lớn,
các nước phát triển trên cơ sở tinh thần cùng gánh chịu trách nhiệm và sự rủi
ngày lên tới 1200 - 1300 tỉ USD. Những con số đã chứng tỏ sức sống của toàn
cầu hoá kinh tế, mặt khác cũng phản ánh kinh tế đang mở rộng theo cơ cấu tiền
tệ tăng lên. Chính vì thế những rủi ro liên quan đến tiền tệ cũng ngày càng gia
tăng đòi hỏi công tác quản lý và giám sát thị trường ngày càng phải chặt chẽ.
Một trong những lực lượng chủ yếu thúc đẩy sự phân công quốc tế và
quá trình toàn cầu hoá là các công ty xuyên quốc gia thực hiện phương châm 2
Toàn cầu hoá kinh tế và đối sách của các nước đang phát triển, Tạp chí tri thức thế giới, số 16,1999.
3. Bùng nổ nguồn vốn đầu tư, Báo Đầu tư, số 513, ngày 17-1-2000.
-17-
lấy thế giới làm nhà máy và lấy các nước làm phân xưởng của mình nhằm
thông qua phân công quốc tế để lợi dụng ưu thế về kỹ thuật, tiền vốn, sức lao
động và thị trường của các nước, thúc đẩy quốc tế hoá sản xuất nhanh chóng.
Tổng giá trị sản xuất của những công ty xuyên quốc gia chiếm tới 40% GDP
của thế giới, tổng kim ngạch mậu dịch chiếm 50% giá trị mậu dịch của thế giới
và tổng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chiếm tới 90% đầu tư trực tiếp của
thế giới. Hơn nữa, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc
gia chủ yếu là đầu tư qua lại lẫn nhau. Theo số liệu thống kê, 82% đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài của các công ty ở 29 nước thành viên thuộc tổ chức phát
triển và hợp tác kinh tế là đầu tư lẫn nhau giữa các nước. Năm 1999, tổng vốn
đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới đã lên tới 648 tỉ USD, tăng 34,6% so với
năm 1998 và gấp rưỡi so với 1997. Trong đó, các công ty xuyên quốc gia là
đầu tư ra nước ngoài lớn nhất, đã rót vào các nền kinh tế khoảng 441 tỉ USD và
các nước dang phát triển 165 tỉ USD.
3
Đánh giá về tình hình kinh tế trên thế
giới năm 1999, phần đông các nhà phân tích kinh tế cho rằng, các công ty
Đây là kết quả của sự phân công lao động quốc tế không ngừng sâu sắc
và cũng là một trong những tiêu chí quan trọng của toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá cũng thúc đẩy quá trình hợp tác trong lĩnh vực kinh tế không
ngừng phát triển. Sự hợp tác này được mở rộng từ lĩnh vực mậu dịch hàng hoá
hữu hình và lĩnh vực mậu dịch dịch vụ vô hình. Đầu tư quốc tế và thị trường
tiền tệ quốc tế cũng phát triển với tốc độ ngày càng cao đòi hỏi phải có các văn
bản quy định, giám sát và điều hoà. Việc chuyển nhượng và bảo vệ bản quyền
tri thức tiếp tục phát triển, việc di chuyển sức lao động trên phạm vi thế giới đã
được đưa vào nghị trình hợp tác toàn cầu. Có thể nói rằng các khâu trong hoạt
động kinh tế đối ngoại của các nước, thậm chí việc định ra chính sách kinh tế
trong nước của mỗi nước như bảo vệ môi trường, dân số, chính sách tiền tệ
đều đã trở thành những chủ đề hợp tác kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có các văn
bản quy định và điều phối. Chính vì thế, quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã lan
đến mọi quốc gia trên thế giới, từ các nước phát triển đến các nước đang phát
triển. Và chỉ có thể đi theo xu hướng lịch sử này, các nước mới có thể giành
chiến thắng trong cuộc cạnh tranh quốc tế gay gắt hiện nay.
Đối với nước ta, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế cũng có
tác động hai mặt, cả tích cực lẫn tiêu cực.
Về khía cạnh tích cực, với thế mạnh về con người, vị trí địa lý chiến
lược, tài nguyên đa dạng, nếu chúng ta thực hiện thành công quá trình hội nhập
quốc tế thì chắc chắn chúng ta sẽ phát huy được các lợi thế so sánh của đất
nước, thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài, tiếp cận được với khoa học và
-19-
công nghệ tiên tiến để có thể đối mới công nghệ, nâng cao được năng lực cạnh
tranh trên trường quốc tế, góp phần mở rộng thị trường trong nước, tạo điều
kiện cho sự khai thông giao lưu các nguồn lực trong nước với các nước trên thế
giới và trong khu vực.
Về khía cạnh tiêu cực, có thể nhiều hay ít phụ thuộc vào các chính sách,
đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại của nước ta có phù hợp hay không
phù hợp. Một số khía cạnh tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế mà một số
ta có thể sẽ biến thành thị trường tiêu thụ hàng hoá cho các hãng, các công ty
và quốc gia bên ngoài. Hơn thế nữa, nếu hàng sản xuất ra vừa đắt, vừa chất
lượng thấp, không tiêu thụ được, đầu tư không đem lại hiệu quả mong muốn,
lao động không có việc làm thì hậu quả xã hội sẽ rất nặng nề, thậm chí khó
tránh khỏi khủng hoảng.
*Xu hướng khu vực hoá được đẩy mạnh
Một xu hướng kinh tế lớn trong nền kinh tế thế giới từ sau chiến tranh
thế giới thứ hai, đó là sự trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ sự hợp tác và liên kết
kinh tế khu vực. Khái niệm khu vực hoá về mặt kinh tế đại thể được hiểu là
một nhóm nước liên hợp với nhau trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, các bên tự
nguyện hạn chế một phần quyền lợi kinh tế của mình, thậm chí nhượng bộ một
phần chủ quyền theo nguyên tắc đối đẳng; xây dựng cơ cấu chấp hành tương
ứng theo quy định nghiêm ngặt, cùng nhau quy định điều kiện lưu thông tự do
của các yếu tố sản xuất hoặc toàn bộ các yếu tố sản xuất như hàng hoá, vốn,
lao động, dịch vụ giữa các nước thành viên, từ đó làm cho nguồn vốn của các
nhóm nước này không chịu sự hạn chế của các nước thành viên và được sự ưu
tiên, sắp xếp lại trong không gian kinh tế chung của một nhóm nước, khiến cho
các nước thành viên có thể thực hiện được sự bổ sung kinh tế cho nhau, để đạt
được mục đích cùng phồn vinh.
Khu vực hoá về kinh tế có thể được thực hiện qua các tổ chức có tính
khu vực. Căn cứ vào các mức độ liên kết khác nhau, người ta có thể chia các tổ
chức kinh tế khu vực thành 6 loại bao gồm: khu thuế quan ưu đãi, khu mậu
dịch tự do, đồng minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế, khu vực
hoá toàn bộ.
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, quá trình khu vực hoá diễn ra đặc biệt mạnh
mẽ trong thời đại ngày nay. Hiện nay, trên thế giới, có rất nhiều tổ chức kinh tế
khu vực, điển hình có thể kể ra như: Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA);
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Liên minh châu
Âu (EU); Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)
-21-
ASEAN. ASEAN được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 chỉ có 5 nước
thành viên Đông Nam Á, hiện nay đã phát triển và mở rộng ra toàn bộ các
nước Đông Nam Á bao gồm 10 nước, trong đó có Việt Nam. Ngay trong ngày