ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------
NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ CẢNH SÁT CỦA HỌC VIÊN
TRƢỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT NHÂN DÂN VI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------
NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ CẢNH SÁT CỦA HỌC VIÊN
TRƢỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT NHÂN DÂN VI
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hữu Thụ
Hà Nội - 2015
kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Huệ
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………….
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ,
ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ CẢNH SÁT ………………………..
5
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu ……………………………………..
5
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài ……………………
5
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước ……………………..
1.3.2. Định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên trường trung
cấp Cảnh sát Nhân dân VI ………………………………………………
31
1.4. Biểu hiện định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên trường
trung cấp CSND VI …………………………………………………….
1.4.1. Định hướng giá trị đối với người vi phạm pháp luật ………...
33
33
1.4.2. Định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên trường trung cấp
Cảnh sát Nhân dân VI được biểu hiện qua quan hệ với đồng nghiệp …………..
35
1.4.3. Định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên trường trung
cấp Cảnh sát Nhân dân VI được biểu hiện trong quan hệ với bản thân….
1.5. Các yếu tố tác động đến định hướng giá trị nghề cảnh sát của học
4
36
viên trường Trung cấp Cảnh Sát Nhân Dân VI …………………………..
38
47
2.2.1. Tổ chức nghiên cứu về mặt lý luận …………………………
47
2.2.2. Tổ chức nghiên cứu thực tiễn …………………………………
48
2.3. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………
51
2.3.1. Phương pháp quan sát ………………………………………
51
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ………………………
51
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu ……………………………
53
2.3.4. Phương pháp phỏng vấn sâu ………………………………..
53
63
3.1.3. Thực trạng định hướng giá trị nghề cảnh sát thi hành án hình
sự và hỗ trợ tư pháp của học viên trường trung cấp Cảnh sát Nhân dân
VI biểu hiện trong mối quan hệ với đồng nghiệp ……………………….
69
3.1.4. Thực trạng định hướng giá trị nghề cảnh sát thi hành án hình
sự và hỗ trợ tư pháp của học viên trường trung cấp Cảnh sát Nhân dân
VI biểu hiện trong quan hệ với bản thân ………………………………..
74
3.1.5. So sánh sự lựa chọn về mức độ quan trọng các giá trị nghề
theo giới tính, theo năm học ……………………………………………...
80
3.2. Yếu tố tác động đến định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên
trường trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI ...............................................
82
3.2.1. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến định hướng giá trị nghề
cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp của học viên trường trung
cấp Cảnh sát Nhân dân VI ....................................................................
82
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Mẫu khách thể nghiên cứu theo giới tính, năm học và nghề
nghiệp chính của gia đình ……………………………………………
48
Bảng 3.1. Ý kiến đánh giá của học viên về nghề Cảnh sát Thi hành án
hình sự và hỗ trợ tư pháp ……………………………………………
57
Bảng 3.2. Kết quả điểm trung bình giữa 2 nhóm ý kiến tích cực và tiêu
cực tính trên toàn mẫu …………………………………………………..
60
Bảng 3.3. Kết quả điểm trung bình giữa 2 nhóm ý kiến tích cực và tiêu cực
theo giới tính ……………………………………………………………….. 61
Bảng 3.4. Kết quả điểm TB giữa 2 nhóm ý kiến tích cực và tiêu cực theo năm
học ………………………………………………………………………… 62
Bảng 3.5. Sự lựa chọn của học viên về các giá trị nghề cảnh sát biểu
hiện trong mối quan hệ với người vi phạm pháp luật …………………
64
Bảng 3.6. Sự lựa chọn của học viên về các giá trị nghề cảnh sát biểu
hiện trong mối quan hệ với đồng nghiệp ………………………………
70
Bảng 3.7. Sự lựa chọn của học viên về các giá trị nghề cảnh sát biểu
87
Bảng 3.14. Kết quả so sánh mức độ ảnh hưởng của 2 nhóm yếu tố đến
định hướng giá trị nghề cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp theo
năm học ………………………………………………………………….
88
Biểu đồ 3.1. Mức độ yên tâm đối với nghề Cảnh sát Thi hành án hình sự
và hỗ trợ tư pháp ………………………………………………………..
8
63
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giá trị và định hướng giá trị luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu và
có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Giá trị và
định hướng giá trị đang là vấn đề thu hút nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức
tham gia nghiên cứu. Bởi giá trị có vai trò đặc biệt quan trọng, nó xác định
được những cái cần có và có ích của chủ thể, của xã hội. Trong xã hội văn
minh, bất cứ ngành nghề nào cũng đều mang một hệ thống thang giá trị đặc
thù của ngành nghề đó. Định hướng giá trị giúp cá nhân hướng tới, lựa chọn
các giá trị thể hiện trong hoạt động của mình. Nghiên cứu về định hướng giá
trị nói chung và định hướng giá trị nghề nghiệp nói riêng có vai trò rất quan
trọng trong việc lựa chọn, phấn đấu và hoàn thành những mục tiêu mà cá
nhân đã chọn. Nếu nhận thức đầy đủ, đúng đắn về những yêu cầu của nghề,
về những phẩm chất mà nghề yêu cầu đối với bản thân thì mỗi cá nhân sẽ có
Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Định hướng giá trị nghề
cảnh sát của học viên trường trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng định hướng giá trị nghề cảnh sát của
học viên trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI, trên cơ sở đó đề xuất một
số biện pháp tâm lý giáo dục định hướng nghề cảnh sát cho học viên trường
Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Đọc phân tích tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
3.2. Khảo sát thực trạng định hướng giá trị nghề Cảnh sát của học viên
trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI.
2
3.3. Tìm hiểu yếu tố tác động đến thực trạng định hướng giá trị nghề
Cảnh sát của học viên.
3.4. Đề xuất một số kiến nghị về việc định hướng giá trị nghề Cảnh sát
cho học viên trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI nhằm nâng cao hiệu
quả, chất lượng đào tạo.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Biểu hiện định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên trường Trung
cấp Cảnh sát Nhân dân VI thể hiện qua mối quan hệ với đồng nghiệp, mối
quan hệ với người vi phạm pháp luật và mối quan hệ với bản thân.
5. Khách thể nghiên cứu
Học viên năm thứ nhất và năm thứ hai khoa Giáo dục cải tạo phạm
nhân, khoa trinh sát trại giam của trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI
năm học 2013 - 2014. Đây là hai khoa có chuyên ngành đặc thù của trường
Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI. Cụ thể: 150 học viên năm thứ nhất, 150 học
viên năm thứ 2 và 5 giáo viên đang giảng dạy tại trường trung cấp Cảnh sát
những hiểu biết định hướng giá trị nghề của họ cũng như những đánh giá của
họ về thực trạng định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên.
8.5. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học:
đánh giá định hướng giá trị nghề cảnh sát của học viên trường Trung cấp
Cảnh sát Nhân dân VI.
4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ, ĐỊNH
HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ CẢNH SÁT
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu
Vấn đề giá trị, định hướng giá trị và vấn đề định hướng giá trị nghề
nghiệp đang là vấn đề mang tính thời sự cấp bách và được nhiều tác giả trong
và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề giá trị, định hướng giá trị đã có từ rất lâu và được các nhà khoa
học nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu ở nhiều góc độ
khác nhau. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Từ năm 1968 - 1974, Viện nghiên cứu thanh niên ở Đức đã tiến hành
nghiên cứu ở 1000 học sinh phổ thông và 2000 sinh viên đại học để tìm hiểu
định hướng giá trị.
Trong những năm 1977 - 1978, Trung tâm nghiên cứu khoa học về
thanh niên ở Bungari nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên,
trong đó có đề cập đến vấn đề giá trị, đặc biệt là sự khác biệt trong thang giá
trị của thanh niên so với thế hệ cha ông.
Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chú trọng nghiên
cứu vấn đề định hướng giá trị của thanh niên ở 11 quốc gia có độ tuổi từ 18 24 tuổi. Tiếp đó, Viện khảo sát xã hội Châu Âu cũng nghiên cứu thanh niên ở
10 nước Châu Âu. Cả hai cuộc điều tra này đều đề cập đến về vấn đề định
hướng giá trị của thanh niên nhằm mục đích giúp họ chuẩn bị bước vào cuộc sống.
trong công việc và lựa chọn nghề nghiệp đã được khẳng định trong nghiên
cứu. Kết quả thu được cho thấy đa số đều đánh giá cao tầm quan trọng của giá
trị thu nhập và hầu hết những giá trị bên ngoài. Kết quả còn cho thấy có sự
khác biệt lớn liên quan đến sự lựa chọn giá trị quản lý người khác và sự sáng tạo.
6
Đề tài “Các giá trị trong công việc của sinh viên năm nhất: khám phá
sự khác biệt giữa các nhóm” do Ryan D. Duffy và William E. Sedlack đăng
trên tạp chí phát triển nghề nghiệp, tháng 6 năm 2007.
Một mẫu gồm 3. 570 sinh viên cao đẳng năm thứ nhất được khảo sát để
xác định những yếu tố họ cho là quan trọng khi lựa chọn nghề nghiệp. Đa
phần sinh viên đều khẳng định hứng thú, lương cao, đóng góp cho xã hội, và
vị thế là 4 giá trị công việc quan trọng. Sinh viên nam có khuynh hướng đánh
giá cao các giá trị bên ngoài, nữ sinh viên thì đánh giá cao các giá trị xã hội.
Dựa trên kết quả này, các nhà tham vấn học đường khẳng định các giá trị
trong công việc nằm trong tiến trình lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên.
Đề tài “Điều gì ảnh hưởng đến các giá trị trong công việc của một cá
nhân? Tương quan giữa các giá trị trong công việc, văn hóa dân tộc và ý
nghĩa tự thân” của tác giả Peter Gahan, Lakmal Abeysekera, khoa quản lý,
trường đại học Monash, Caulfield East, Úc phát hành trong tạp chí quản trị
nguồn nhân lực tháng 1 năm 2009.
Khái niệm về giá trị cuộc sống đã trở thành trung tâm trong các nghiên
cứu về động cơ và mức độ thúc đẩy hành vi cá nhân, đặc biệt trong lĩnh vực
quản trị nguồn nhân lực và hành vi tổ chức. Trong số các yếu tố khác nhau
của các giá trị cuộc sống, các giá trị công việc (hay mục tiêu trong công việc)
thường được xem như là một yếu tố trung tâm ảnh hưởng đến thái độ và hành
vi trong công việc của cá nhân. Tầm quan trọng của sự hiểu biết các giá trị
công việc được tiếp tục khẳng định bởi lực lượng lao động ngày càng đa dạng
ở các nước và thông qua việc toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến sự cần thiết phải
Đề tài mã số KX - 07 - 04 do PGS.TS Nguyễn Quang Uẩn làm chủ
nhiệm, nghiên cứu: “Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá
8
trị” đã chỉ ra xu hướng phát triển nhân cách người Việt nam trong thời kỳ đổi
mới và mở cửa.
Năm 1996, luận án phó tiến sĩ Tâm lý học của Nguyễn Thị Khoa với đề
tài: “Định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ trí thức hiện
nay” đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giá trị, định hướng giá trị và nêu ra
những đặc trưng và xu thế định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình
của nữ trí thức, từ đó xây dựng những chuẩn giá trị gia đình Việt Nam trong
xã hội hiện đại.
Cùng năm 1996, đề tài: “Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên
trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (1995) - Luận án tiến sĩ của Dương Tự
Đàm đã nêu ra một số biểu hiện đặc trưng, xu hướng phát triển và sự chuyển
đổi định hướng giá trị trong sinh viên. Trên cơ sở đó đề tài đưa ra những giải
pháp nhằm giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên theo những
yêu cầu của công cuộc đổi mới.
Năm 2002, Đỗ Ngọc Hà với luận án tiến sĩ: “Định hướng giá trị của
thanh niên, sinh viên hiện nay trước sự chuyển đổi về kinh tế, xã hội của đất
nước” đã cho thấy những giá trị nào điều tiết được cuộc sống hàng ngày và
hành vi xã hội của sinh viên, trên cơ sở đó xây dựng biểu định hướng giá trị
của sinh viên Việt Nam.
Năm 2009, luận án tiến sĩ của Phạm Tất Thắng với đề tài: “Định hướng
giá trị của sinh viên” tìm hiểu định hướng giá trị của sinh viên ngày nay trong
lĩnh vực nghề nghiệp, việc làm, giá trị chính trị, tình bạn, tình yêu, hôn nhân.
Đồng thời qua đó lý giải các yếu tố xã hội chi phối định hướng giá trị của sinh
viên hiện nay.
dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào
những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục
vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người.
10
Theo ý kiến của nhà khoa học nổi tiếng, viện sỹ X.G.Xtrumilin cho
rằng: Chuyên môn là nghề hẹp, nhưng nó hoàn toàn quy định hình thức của
một dạng hoạt động lao động và mang tên gọi đặc trưng cho nghề đó.
Như vậy chuyên môn là một khái niệm hẹp so với khái niệm nghề, nó
phân biệt sự khác nhau về từng chuyên môn trong nghề.
Theo Lê Thi, khái niệm việc làm được hiểu như sau:“Đó là công việc
đem lại lợi ích cho người lao động, tạo thu nhập để nuôi sống gia đình và bản
thân, bất cứ ngành nghề gì và khu vực kinh tế nào (quốc doanh, tập thể, tư
nhân) và không bị pháp luật ngăn cấm”.
Vậy nghề được hiểu như thế nào?
Theo E.A Klimov: “Nghề là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất
và tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự
phân công lao động mà có) nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao
động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và
phát triển”.
Tóm lại, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ
được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các
loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được nhu cầu của xã hội
nhằm duy trì sự tồn tại của bản thân mỗi người và góp phần thúc đẩy sự phát
triển của xã hội.
1.2.2. Giá trị
1.2.2.1 Khái niệm giá trị
a) Khái niệm giá trị theo từ điển
nhiên, ở đây chủ yếu được xét theo quan điểm Macxit nên giá trị được coi là
12
những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động
sáng tạo của con người. Giá trị là sự thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan.
Dưới góc độ xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân,
điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị
nhất định của một xã hội.
Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục
đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của
nhân cách. Tâm lý học xã hội nghiên cứu giá trị và định hướng giá trị trong
cộng đồng, đồng thời giải thích vai trò của chúng trong sự hình thành và phát
triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị hiếu,
tập quán, lối sống của các nhóm xã hội.
c) Khái niệm giá trị trong tâm lý học
J. H. Fichter, nhà xã hội học Mỹ đã cho rằng: “tất cả cái gì có ích lợi,
đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có một giá
trị” [53, tr.53].
Tác giả V.P. Tugarinov (Liên Xô) lại cho giá trị là những khách thể,
những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho
con người (ích lợi, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng
như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thoả mãn những nhu cầu
và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là
chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, đáng
quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể”.
Tác giả Trần Văn Giàu cho rằng: “Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ giữa
chủ thể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người trong
14
Tóm lại dù trình bày cách này hay cách khác, theo quan điểm nào thì thì
nội dung khái niệm “giá trị” mang những đặc điểm sau:
- Bất cứ sự vật nào cũng có thể xem là có giá trị dù nó là vật thể hay phi
vật thể miễn là nó được người ta thừa nhận, người ta cần đến nó như một nhu
cầu hoặc cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ.
- Giá trị luôn mang tính khách quan. Sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi
của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức con người mà phụ thuộc
vào sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người. Không
phải do ý thức mà do yêu cầu của hoạt động thực tiễn qui định giá trị. Thực
tiễn là tiêu chuẩn của mọi giá trị.
- Cần phân biệt cái gọi là bản chất và quy luật của sự vật hiện tượng với
cái gọi là giá trị của chúng. Sự vật hiện tượng nào cũng có thuộc tính bản chất
và tuân theo các quy luật nhất định, chúng tồn tại độc lập với nhu cầu của con người.
- Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và
yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật hiện tượng mang giá
trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể.
- Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự biến
động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và cộng đồng.
- Phân biệt các thuật ngữ có liên quan đến vấn đề giá trị như : ước
muốn, nhu cầu, động cơ.
Trước hết, giá trị không đồng nhất với ước muốn và nhu cầu. Các nhu
cầu nảy sinh từ sự thiếu hụt, những đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cấn
thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Ước muốn là sự mong mỏi nhằm vào một
đối tượng hay trạng thái nhất định, những ước muốn có thể trở thành một nhu
cầu, trong đó pha trộn những ước muốn tương ứng. Còn giá trị là những cái
cần và có ích cho chủ thể.