Quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - Pdf 67

đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
---------------------------------------

Nguyễn Quế Th-ơng

Quan hệ kinh tế thái lan nhật bản từ sau
Khủng hoảng tài chính châu á 1997

Luận văn thạc sĩ
Chuyên nghành quan hệ quốc tế
Mã số : 60.31.40

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học : pgs. Ts. Hoàng Khắc Nam

Hà nội - 2010

1


MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Thái Lan nằm trong khu vực Đông Nam Á, luôn được coi là nước có
nền kinh tế phát triển và có vai trò lớn trong hợp tác khu vực, cũng như những
hợp tác của khu vực với bên ngoài. Nhật Bản là một trong số những quốc gia
công nghiệp hàng đầu thế giới và được suy tôn là “hiện tượng thần kỳ” của
Châu Á. Thành công của Nhật Bản được các nhà nghiên cứu đánh giá là một
điển hình về sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn hoá phương Đông và khoa
học công nghệ hiện đại phương Tây. Đối với Việt Nam cả hai nước Thái Lan,
Nhật Bản đều là hai nước láng giềng gần gũi. Vì vậy, trước hết việc nghiên
cứu dù ở bất kỳ lĩnh vực nào của Thái Lan, Nhật Bản đều hết sức cần thiết đối

mới chỉ tiếp cận được với một số công trình viết về quan hệ kinh tế Thái Lan
– Nhật Bản ở những giai đoạn trước khủng hoảng tài chính như công trình
Hiệp ước Hữu nghị Nhật Bản – Thái Lan thời kỳ chiến tranh của tác giả
người Nhật Yoshikawa Toshiharu. Công trình đề cập đến một số Hiệp ước
giữa Thái Lan và Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật
Bản đã sử dụng đất Thái Lan cho những mục đích quân sự tại khu vực Đông
Nam Á và thái độ ủng hộ, lo ngại cho chủ quyền quốc gia hay né tránh của
Thái Lan trong vấn đề này… Công trình Quan hệ Thái Lan - Nhật Bản, xem
xét từ Hiệp định và những thoả thuận trong vòng 100 năm do tác giả người
Thái Lan Phắt cha ri Xỉ rô rốt chủ biên, đã đề cập một cách khá chi tiết về
quan hệ Thái Lan – Nhật Bản từ năm 1877 đến năm 1977 thông qua các Hiệp
định và thỏa thuận mà hai nước đã ký kết với nhau trong vòng 100 năm ở hầu
hết các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, tài chính, luật pháp, văn hóa, xã
hội…Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã cho công bố
những bài nghiên cứu về vấn đề này như bài viết Quan hệ của Nhật Bản với
Vương quốc Xiêm (Thái Lan) thế kỷ XVI – XVII của tác giả Nguyễn Văn Kim
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, năm 2002, số 2 (38)
hay bài viết của tác giả Nguyễn Văn Tận: Liên minh Thái – Nhật trong cuộc
chiến thế giới thứ hai, những vấn đề lịch sử và luận giải đăng trong Tạp chí
Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, năm 2005, số 3 (57), công trình…Tất

3


cả những công trình này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc có một cái
nhìn tổng thể về quan hệ Thái Lan – Nhật Bản trong quá khứ để từ đó có thể
hiểu và lý giải được những bước phát triển trong quan hệ Thái Lan – Nhật
Bản ở những giai đoạn tiếp theo và hiện nay.
Ngoài những công trình kể trên, chúng tôi còn được tiếp xúc với những
công trình nghiên cứu mang tính tổng thể trong đó có một vài phần đề cập đến

hệ hai nước ở thế kỷ 21. Đối với chúng tôi công trình này thực sự hữu ích vì
nó đã giúp chúng tôi có được cái nhìn tổng thể về vai trò và những ảnh hưởng
của Nhật Bản đối với Thái Lan cũng như tái hiện phần nào mối quan hệ Thái
Lan – Nhật Bản trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giai đoạn cuối
thế kỷ 20 và những mục tiêu trong thế kỷ 21.
Ngoài những công trình kể trên, chúng tôi còn được tiếp cận với một số
nguồn tư liệu khác trên các bản tin Kinh tế, tài liệu tham khảo đặc biệt của
Thông tấn xã Việt Nam và một số nguồn tư liệu khai thác trên mạng
Internet…
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chủ yếu mà tôi sử dụng trong công trình này là nhận
thức luận Mác xít, coi cơ sở kinh tế vật chất là yếu tố có vai trò quyết định
căn bản đối với các hiện tượng chính trị, xã hội.
Phương pháp biện chứng và lôgic cũng được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu, đi từ bối cảnh lịch sử chung, trình bày quá trình hình thành và
phát triển của các vấn đề bằng các sự kiện điển hình, phân chia các giai đoạn
phát triển bằng các mốc lịch sử theo thời gian, sau đó rút ra kết luận khái quát
và các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế.
Ngoài ra, khi tiếp cận vấn đề này tôi còn cần sử dụng đến một số
phương pháp liên ngành từ các bộ môn khác có liên quan như: thống kê, so
sánh…
4. Nguồn tư liệu

5


Để thực hiện đề tài luận văn này chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư
liệu như một số Hiệp định, Hiệp ước đã được ký kết giữa hai nước và một số
tài liệu thứ cấp khác như các công trình khoa học đã được công bố trên sách,
báo, tạp chí nghiên cứu về quan hệ Thái Lan - Nhật Bản của các tác giả Việt

vai trò của Nhật Bản đối với Thái Lan trong khủng hoảng tài chính Châu Á.
Đây là những nhân tố khách quan và chủ quan đã ảnh hưởng và làm tiền đề
cho xu hướng phát triển mối quan hệ giữa hai nước từ sau khủng hoảng tài
chính Châu Á đến nay.
Chương 2: Tình hình quan hệ kinh tế Thái Lan – Nhật Bản sau
khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay
Đây là chương chính của luận văn. Trong chương này chúng tôi đề cập
đến quá trình ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế giữa Thái Lan và Nhật Bản.
Đây là Hiệp định hợp tác kinh tế lớn nhất giữa hai nước kể từ trước đến nay.
Bên cạnh đó chương 2 còn đề cập đến một số chương trình hợp tác kinh tế
quan trọng giữa Thái Lan và Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á
đến nay trên các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tiền tệ, dịch vụ… Tất cả
các chương trình hợp tác này đã tác động không nhỏ tới số lượng xuất nhập
khẩu, số lượng các dự án đầu tư và số vốn đầu tư… giữa hai nước. Vì thế,
phần cuối của chương 2, chúng tôi đã đề cập tới các kết quả hợp tác kinh tế
giữa Thái Lan và Nhật Bản trên các mặt: thương mại, đầu tư, quan hệ ODA.
Chương 3: Triển vọng quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản
Trong chương 3 chúng tôi đề cập đến một số thuận lợi và khó khăn
trong quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật bản, qua đó để thấy được triển vọng
quan hệ giữa hai nước trong tương lai và từ đó rút ra một số bài học và kinh
nghiệm đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế và hoạch định chính sách
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do nhiều điều kiện còn hạn chế
như năng lực nghiên cứu khoa học, sự khan hiếm nguồn tài liệu, khó khăn
trong công tác điền dã, điều tra… nên luận văn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót, khiếm khuyết. Vậy chúng tôi mong muốn nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo và các bạn.

7



Quá trình này được hình thành ngay từ thập kỷ 80 xuất phát từ ảnh hưởng của
cuộc cách mạng tin học và khoa học công nghệ, khi mà người ta có thể liên
lạc cũng như nhận tin tức giữa các nước, các khu vực trên thế giới một cách
nhanh chóng, tức thời. Ngay cả những vấn đề như sự biến động của ngoại tệ
hay đầu tư với số lượng lớn cũng có thể được thông tin ra khắp thế giới qua
hệ thống vi tính, đồng thời sản xuất và thương mại của các nước cũng đi theo
hướng của một nền kinh tế tự do và dần dần đã được phổ biến trên khắp thế
giới. Vì vậy, cùng với sự hình thành của một nền kinh tế tự do và sự phát triển
của tin học, kinh tế thương mại và tài chính giữa các nước dần giảm đi rào
cản. Với đặc điểm này, chính phủ các nước chắc chắn sẽ dần giảm đi khả
năng quản lý nền kinh tế, tài chính và thông tin trong phạm vi quốc gia của
mình như trước đây. Thay vào đó, toàn cầu hóa sẽ là thách thức đối với quyền
lực nhà nước, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử. Và điều đó sẽ làm cho các
nhà nước cần phải có sự thay đổi để bảo vệ quyền lực và sự tồn tại của mình.


Mỹ trở thành siêu cường quân sự duy nhất thế giới

Mỹ được đánh giá là siêu cường quân sự duy nhất trên thế giới và là
nước duy nhất tự cho mình quyền được đưa lực lượng quân đội đến những
điểm nóng ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Tuy nhiên trong những năm đầu thế
kỷ 21, nội bộ nước Mỹ cũng gặp phải không ít những vấn đề về mặt kinh tế
và xã hội. Những năm đầu thế kỷ 21, một loạt các công ty xuyên quốc gia của
Mỹ bị phá sản như công ty Enron, World com, Tyco, Imclone, Global
Crossing, Adelphia đã gây nên những tổn thất to lớn cho không chỉ những

9


công ty kể trên mà cho cả xã hội. Đó là nạn thất nghiệp, các công ty không

[15, tr.12]
[16, tr. 10]

10


kinh tế tự do nhưng nhiều nguyên tắc trong các khối kinh tế này lại thể hiện ra
rằng đó là những khối kinh tế có nhiều ràng buộc, hạn chế, mang tính chất
“thương mại khối”. Tình trạng này thực chất đã làm cho sự cạnh tranh giữa
các nước trở nên quyết liệt hơn mà theo nhận định của nhiều chuyên gia thì
đây giống như một cuộc chiến kinh tế. Mặc dù vậy, sự xuất hiện của những
trung tâm thương mại mang tính khu vực này cũng mang lại những lợi ích
trực tiếp cho các khu vực đó là khả năng nâng cao vị thế trong đàm phán.
Ngoài ra còn một lợi ích nữa đó là giúp cho các sản phẩm khi sản xuất ra có
cơ hội mở rộng thị trường sang nhiều khu vực với một giá thành công bằng,
hợp lý hơn.


Nâng cao vị thế của các chủ thể quan hệ quốc tế không phải là
nhà nước

Mặc dù nhà nước vẫn là một chủ thể quan trọng nhất nhưng hiện nay
trong quan hệ quốc tế còn có những chủ thể khác có vị thế quan trọng không
kém đó là các tổ chức quốc tế, các cơ quan quốc tế kể cả ở cấp khu vực và thế
giới, các công ty xuyên quốc gia hiện có vị trí ngày càng quan trọng hơn trong
các giao dịch quốc tế thậm chí nhiều nhà phân tích và nghiên cứu còn cho
rằng các công ty xuyên quốc gia hiện đang là những chủ thể cạnh tranh quyền
lực với chính phủ nhiều nhất. Mặc dù vậy cũng không thể phủ nhận những lợi
ích mà các công ty xuyên quốc gia mang đến cho đất nước như tạo nên sự
phát triển của nền công nghiệp và công nghệ hiện đại đã giúp cải thiện công

hơn 50 năm qua. Việc nghiên cứu các chiến lược trong thời điểm hiện nay
được hiểu một cách sâu rộng hơn trước, không chỉ là những vấn đề về sức
mạnh quân sự. Vấn đề an ninh ở mỗi quốc gia cũng không chỉ có nghĩa là
việc chạy đua vũ trang hay việc chống lại sự xâm lược của các thế lực bên
ngoài. Sự mâu thuẫn không chỉ có nghĩa là mâu thuẫn về mặt quân sự, Nhà
nước cũng không hẳn là nơi có quyền lực duy nhất trong việc giải quyết các
vấn đề trên. Hiện nay, nguy cơ đối với an ninh của đất nước không phải chỉ là
sự can thiệp của các thế lực quân sự bên ngoài mà những nguy cơ đối với nền
an ninh của quốc gia xuất phát từ rất nhiều vấn đề như vấn đề kinh tế, sự
xuống cấp của môi trường, buôn lậu, mua bán trái phép chất gây nghiện, vận

12


chuyển tiền trái phép, nhập cư, di cư trái phép, bệnh truyền nhiễm, khủng bố,
biểu tình chính trị và tham ô, tham nhũng… Tất cả những vấn đề trên đều có
những ảnh hưởng nhất định tới an ninh quốc gia.


Vấn đề đói nghèo ở các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay phần lớn gặp phải
tình trạng thiếu thốn do xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân từ lịch sử: phần lớn các nước đang phát triển hiện nay đều
xuất phát từ những nước trước đây là thuộc địa của đế quốc trong một thời
gian dài. Điều này đã làm cho những nước là thuộc địa bị cạn kiệt về tài
nguyên thiên nhiên do bị các nước đế quốc khai thác nguồn tài nguyên với số
lượng lớn. Người dân phần lớn không được học hành và nghèo khó.
- Nguyên nhân từ chính trị: Người dân ở những nước này phần lớn thiếu
kiến thức về chính trị và quản lý.

việc định ra các nguyên tắc cho một thế giới mới, từ những nguyên tắc trong
kinh tế, thương mại, tiền tệ, môi trường, chống khủng bố, chống ma túy,
chuyển giao công nghệ cho tới cả những vấn đề như an ninh thế giới và vũ khí
hủy diệt hàng loạt… Hiện nay, các nước lớn vẫn có những ảnh hưởng nhất
định tới những quyết định của nhiều tổ chức quân sự, kinh tế, thương mại, tài
chính quốc tế, kể cả tầm thế giới lẫn tầm khu vực và các nước lớn cũng có
những ảnh hưởng ít nhiều tới quyết định của nhiều quốc gia trên thế giới bởi
lẽ hiện tại, những bước chuyển đổi của nhóm nước này đều có những tác động
nhất định và nhanh chóng tới hầu khắp các nước trên thế giới.
1.1.2. Bối cảnh khu vực
Giai đoạn cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 khu vực châu Á cũng có những
thay đổi đáng kể, tác động không nhỏ tới chính sách đối ngoại của các nước
trong khu vực. Giữa năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra, bắt đầu từ
Thái Lan và sau đó lan nhanh sang các nước khác ở Châu Á. Mười năm sau
cuộc khủng hoảng tài chính, các thị trường tài chính châu Á lại bùng nổ trở lại

14


và một lần nữa khu vực này lại trở thành nơi mà thế giới quan tâm. Một châu
Á đang nổi lên đã đạt mức tăng trưởng trung bình hàng năm 8% trong những
năm 2005, 2006, 2007, nhanh như trước cuộc khủng hoảng tài chính. Do đó
châu Á có vẻ đã phục hồi sau cuộc khủng hoảng. Một số nhà bình luận kinh tế
cho rằng nhờ cải cách cơ cấu, những nước từng rơi vào khủng hoảng hiện trở
nên động và kiên cường hơn. Điều này được thể hiện rõ hơn vào những năm
2008 – 2009, thời điểm diễn ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nước châu
Á nhìn chung đã vững vàng hơn. Tuy nhiên, cũng trong thời điểm này Nhật
Bản có tốc độ tăng trưởng còn thấp, dưới 1%, thậm chí có nhiều năm tốc độ
2




Với việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO và thỏa
thuận thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) đã
được ký kết vào tháng 11/2002, nền kinh tế ASEAN – Trung Quốc trở thành
đối tác tích cực đối với hội nhập khu vực và toàn cầu. Là địa bàn hấp dẫn đầu
tư, thương mại của tất cả các nước, Trung Quốc không chỉ là đối tác kinh tế
lớn mà còn là đối thủ đáng gờm của Nhật Bản. Trung Quốc sẽ có vai trò đáng
kể hơn với ASEAN trong vòng 10 năm tới. Hiệp định ACFTA được hoàn tất
và theo cùng với WTO, các quan hệ hợp tác của các đối tác bên ngoài khu
vực sẽ đặt trọng tâm vào Trung Quốc bởi từ đây, họ có thể có vai trò ảnh
hưởng trên toàn khu vực, trước hết là ở Đông và Đông Nam Á. Đây có thể coi
là sức mạnh và thách thức trực tiếp đối với quan hệ hợp tác kinh tế của Nhật
với châu Á trong những năm đầu của thế kỷ 21. Nói cách khác, Trung Quốc
với khả năng trở thành một trung tâm kinh tế thế giới mới đang tỏ rõ khả năng
và sức cạnh tranh mạnh với các trung tâm kinh tế thế giới truyền thống.
Với ASEAN và Ấn Độ, hai thực thể kinh tế đang ngày càng có vai trò
đáng kể trong châu Á, Nhật Bản dành những ưu tiên đáng kể để củng cố phạm
vi ảnh hưởng vốn có và để sử dụng các nước này như là điều kiện thực hiện
của chiến lược điều chỉnh cơ cấu và nâng cao vị thế cạnh tranh của nền kinh
tế Nhật Bản. Đặc biệt, thành công khiêm tốn của liên kết kinh tế ASEAN
được xem như là hình mẫu của tổ chức liên kết kinh tế trong các nước đang
phát triển và với vị thế mới của ASEAN trong quan hệ quốc tế, các nước lớn,
trong đó có Nhật Bản, đều phải xem nó như là một đối tác kinh tế quan trọng
trong điều chỉnh chính sách kinh tế của họ.
Hợp tác trong khuôn khổ APEC với mục tiêu tạo thuận lợi và tự do hóa
trong hoạt động kinh tế của các nước thành viên, trong đó có Nhật Bản và
Thái Lan, đang đặt ra yêu cầu cho Nhật Bản và Thái Lan cũng như các nước
thành viên khác là đẩy mạnh các quan hệ hợp tác kinh tế song phương và tích


21 này, mối quan hệ Nhật Bản và ASEAN được mở rộng và hợp tác chặt chẽ
5

[26, tr. 2]

17


hơn nữa với chính sách hỗ trợ của Nhật Bản đối với những cải cách của từng
nước trong ASEAN nhằm mục đích hợp tác cùng phát triển cho một cộng
đồng bền vững. Sự hợp tác trong thế kỷ 21 bao gồm:
- Thiết lập một mạng lưới kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN
- Thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN trong lĩnh vực
an ninh
- Hợp tác trong giáo dục và phát triển nguồn nhân lực
- Thúc đẩy hợp tác và năm 2003 là năm trọng tâm trong việc trao đổi
văn hóa giữa Nhật Bản và ASEAN
- Thúc đẩy hợp tác Đông Á

6

Bên cạnh đó, trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, Thái Lan
cũng có một số thay đổi trong chính sách đối ngoại. Nếu như thời kỳ trước
khủng hoảng tài chính, Thái Lan là một nước có nền kinh tế phát triển mạnh
trong khu vực với tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và ổn định trong nhiều
năm, Thái Lan có hi vọng sẽ trở thành quốc gia đầu tầu trong ASEAN, sẽ là
cầu nối giữa các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên minh Châu
Âu với ASEAN. Vì thế, trong thời gian này chính sách đối ngoại của Thái
Lan là tập trung số một cho mối quan hệ với các nước láng giềng và với Hiệp
hội ASEAN, nhằm mở rộng thị trường thương mại, thị trường đầu tư…

đầu tư, tạo dựng niềm tin đối với các nhà đầu tư đặc biệt là thu hút các nhà
7

đầu tư lớn như Mỹ và Nhật Bản.

Như vậy, với bối cảnh quốc tế, khu vực cũng như điều kiện của từng
nước Nhật Bản và Thái Lan, có thể thấy rằng việc tăng cường hợp tác kinh tế
giữa hai nước này là hoàn toàn tất yếu. Nó xuất phát từ những ảnh hưởng của
xu thế quốc tế và khu vực cũng như nhu cầu thực tế của mỗi quốc gia.
1.2. Tiến trình phát triển quan hệ kinh tế Thái Lan – Nhật Bản
7

[24, tr.43]

19


1.2.1. Quan hệ Thái Lan - Nhật Bản giai đoạn trước khủng hoảng tài
chính Châu Á
Quan hệ Thái Lan – Nhật Bản được hình thành và phát triển từ lâu.
Ngay từ thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật Bản đã đưa các sản phẩm
công nghiệp đến bán tại Thái Lan và khi đó các sản phẩm này của Nhật Bản
đã cạnh tranh được với các hàng hóa của Anh tại đây. Nhật Bản đã gặt hái
được nhiều thành công và thu được nhiều lợi ích trong việc kinh doanh tại
Thái Lan thời kỳ này. Tiếp sau đó, trong chiến tranh thế giới thứ hai, mối
quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản ngày càng trở nên gắn bó hơn, nhất là
trong mối quan hệ đồng minh chiến tranh. Thái Lan trở thành nơi cung cấp
nguyên liệu, tài nguyên cho Nhật Bản, thậm chí còn cho phép Nhật Bản sử
dụng lãnh thổ của mình cho những mục đích quân sự. Nhưng cuối cùng, tất cả
những mối quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản được gây dựng qua hai cuộc

xuất khẩu mặt hàng này cuối những năm 70 là khoảng 50 triệu baht, đến
những năm 80 trung bình khoảng 280 triệu baht/ năm.

8

Sau chiến tranh lạnh, Thái Lan đã từ một nước nông nghiệp, với các
sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp đã trở thành một nước
sản xuất và xuất khẩu được khá nhiều sản phẩm công nghiệp. Trong những
năm 1988 – 1990 mức tăng trưởng hàng năm của Thái Lan luôn ở mức 2 con
số còn thu nhập bình quân đầu người từ 1.525 USD năm 1990 được tăng lên
9

2.065 USD vào năm 1995 . Giai đoạn này Thái Lan trở thành nước công
nghiệp mới. Ngoài ra, Thái Lan còn trở thành nước giúp đỡ, hỗ trợ cho các
nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á.
Trong quan hệ thương mại, Nhật Bản ngày càng khẳng định vai trò của
bạn hàng quan trọng của Thái Lan. Đối với Thái Lan, Nhật Bản là thị trường
8
9

[23, tr. 202]
[26, tr. 7]

21


nhập khẩu số một và là thị trường xuất khẩu thứ hai (sau Mĩ). Bên cạnh đó,
hàng năm Nhật Bản cũng xuất khẩu sang Thái Lan khoảng 3,6% tổng giá trị
xuất khẩu ra nước ngoài và nhập khẩu 2,9% tổng giá trị nhập khẩu từ các
nước. Như vậy, Thái Lan là thị trường xuất khẩu đứng hàng thứ 6 của Nhật

10 370

- 4 420

1993

6 500

12 260

- 5 760

1994

8 180

14 700

- 6 520

1995

9 360

20 410

- 11 050

1996




điểm đồng Yên mạnh gần gấp đôi so với trước. Vì thế Nhật Bản đã đề ra
chiến lược cần nhanh chóng mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Trong thời gian
này, các dự án đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài tăng lên rõ rệt, trong đó có
một phần dự án đầu tư tại Thái Lan. Đầu tư từ Nhật Bản vào Thái Lan tăng
lên trong tất cả các lĩnh vực từ các dự án thương mại và công nghiệp đến các
dự án đầu tư xây dựng và dịch vụ. Việc thương nhân Nhật Bản đến đầu tư
tăng lên tại Thái Lan trong giai đoạn sau này còn xuất phát từ sự ổn định
chính trị và kinh tế Thái Lan. Kinh tế Thái Lan có nền tảng vững chắc hơn so
với các nước Đông Nam Á khác và có đường lối phát triển ngày càng sáng
sủa. Nhận thức của cả nhà nước lẫn khu vực tư nhân về vấn đề đầu tư nước
ngoài cũng rất nhạy bén, giá nhân công không cao, lực lượng lao động đủ tiêu
chuẩn, những mâu thuẫn về tôn giáo và văn hóa ít hơn nếu so với Inđônêxia
và Malayxia. Ngoài ra thời điểm này, đồng đô la tại Thái Lan lại khá cao so
với đồng bạt, vì vậy đây là điểm lợi thế của Thái Lan khi so với Hàn Quốc và
Đài loan.
So với thời gian trước đây, những năm 1987 – 1991 số dự án đầu tư của
Nhật Bản vào Thái Lan tăng so với trước rất nhiều bao gồm tất cả 709 dự án
với số vốn đầu tư lên tới 221,6 tỉ bạt, tập trung vào các lĩnh vực như: công
nghiệp điện và điện tử chiếm tới 211 dự án chiếm tới 68,9 tỉ bạt gồm có cả sự
đầu tư lần đầu tiên của các công ti thiết bị điện gia dụng hàng đầu Nhật Bản
như công ti Shar, đầu tư sản xuất tại Thái Lan các thiết bị như: lò nướng, lò vi
sóng, tủ lạnh… tiếp sau này là sản xuất cả máy điều hòa nhiệt độ. Ngoài ra
còn có sự đầu tư của tập đoàn JVC, sản xuất máy truyền hình màu tại Thái
Lan. Bên cạnh đó còn có các công ti lớn và nổi tiếng khác của Nhật Bản đầu
tư vào Thái Lan như Fujitsu sản xuất các thiết bị điện tử như: ổ cứng, máy in,

23


tỷ bạt

11
12

Theo báo cáo hàng năm của Cơ quan Hợp tác đầu tư quốc tế của Thái lan (2007)
[23, tr. 206]

24


Năm
1993

1994

1995

1996

1997

1998

số dự án

171

258



190

284

254

số tiền

685

643

số dự án

86

56

74

220

165

177

số tiền

429

1990

27.0

1991

30.5

1992

41.8

1993

43.5

1994

39.0

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status