ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN KHXH VIỆT NAM
ĐẠI HỌC KHXH VÀ NHÂN VĂN
VIỆN XÃ HỘI HỌC
TRẦN THỊ THANH LOAN
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƢỢU BIA TRONG THANH THIẾU
NIÊN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHXH VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHXH VIỆT NAM
VIỆN XÃ HỘI HỌC
TRẦN THỊ THANH LOAN
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƢỢU BIA TRONG THANH THIẾU
NIÊN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Xã hội học
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
5
NỘI DUNG
19
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
VỀ VIỆC SỬ DỤNG RƢỢU, BIA
19
1. Cơ sở lý luận nghiên cứu về rượu, bia
19
1.1 Một số khái niệm công cụ
19
1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu
22
2. Các chính sách về phòng chống rượu, bia
75
KẾT LUẬN
80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
84
CÁC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
86
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Bảng 1
Nội dung
Trang
Thực trạng nam và nữ thanh thiếu niên đã từng sử dụng
32
Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng sử dụng rượu, bia do ảnh
46
hưởng từ các phương tiện truyền thông đại chúng
Bảng 7
Mô hình hồi quy yếu tố tác động đến khả năng đã từng sử
56
dụng rượu, bia của nam thanh thiếu niên
Bảng 8
Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến việc sử dụng
59
rượu, bia trong tháng của nam thanh thiếu niên
Bảng 9
Mô hình hồi quy về các yếu tố tác động đến việc say rượu,
62
bia trong tháng của nam thanh thiếu niên
3
67
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu
Biểu 1
Nội dung
Trang
Tần suất sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên trong 30
33
ngày
Biểu 2
Tần suất sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên theo nhóm
37
tuổi
Biểu 3
Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng sử dụng rượu, bia theo môi
38
trường học tập
Biểu 4
gắn máy khác sau khi uống rượu, bia hoặc ngồi trên xe người
khác lái mà người đó vừa uống rượu, bia, theo độ tuổi
Biểu 9
Vấn đề sử dụng rượu của thế hệ trẻ hiện nay
78
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát
triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đất nước ta đã trải qua hơn 20 năm
đổi mới và hiện nay là thành viên của tổ chức WTO. Quá trình đổi mới và phát triển
nền kinh tế những năm qua đã giúp cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao.
Xu hướng sử dụng rượu, bia trong sinh hoạt hàng ngày, trong những dịp lễ, hội, trong
quan hệ công việc… đang ngày càng gia tăng và sự gia tăng nhanh chóng về mặt hàng rượu,
bia trên thị trường đã kéo theo mức tiêu thụ rượu, bia bình quân/người/năm ngày một tăng.
Sử dụng rượu là một thói quen mang đậm nét văn hóa truyền thống tại nhiều quốc
gia trong đó có Việt Nam. Vào thời điểm năm 2006, mức tiêu thụ bia bình
quân/người/năm ở nước ta là 15,8 lít, gần bằng 2/3 so với mức tiêu thụ chung của toàn
thế giới (22 lít). Mức tiêu thụ rượu bình quân/người/năm ở nước ta là 3,9 lít trong khi
đó mức tiêu thụ chung trên toàn cầu là 6 lít… Và, theo báo cáo xu hướng sử dụng đồ
uống có cồn của Tổ chức Lương thực Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) cho thấy
việc tiêu thụ rượu, bia của Việt Nam đã tăng lên rõ rệt trong hai thập kỷ qua. Từ mức tiêu
thụ trung bình năm 1989 là khoảng 0,8 lít/người/năm đã tăng lên mức 1,4 lít/người/năm vào
năm 2000 (Trích lại từ điều tra Y tế Việt Nam, 2006:103).
Sử dụng rượu, bia với mức độ hợp lý có thể đem lại cho con người cảm giác hưng
tuổi, nên khi say rượu, bia có thể có những hành vi nguy hiểm như lái xe với tốc độ cao
gây tai nạn, đánh nhau, lạm dụng tình dục… Thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay đang
sống, học tập và làm việc với một số lượng đông đảo nhất trong lịch sử, do đó, trước sự
thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, thay đổi giá trị, lối sống và xu hướng tiêu thụ
rượu, bia tăng lên ở Việt Nam, việc ngăn ngừa tình trạng lạm dụng rượu, bia và các hậu
quả về sức khỏe, kinh tế, xã hội do rượu, bia ở thanh thiếu niên là rất cần thiết. Vì vậy,
tình hình sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên vẫn là chủ đề mang đầy tính thời sự
6
và cần được quan tâm, tìm hiểu nhiều hơn nữa. Đó cũng chính là lý do khiến tác giả
lựa chọn vấn đề: Thực trạng sử dụng rƣợu bia trong thanh thiếu niên Hà Nội để
nghiên cứu. Tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm trả lời cho câu hỏi: Sử dụng rượu,
bia trong thanh thiếu niên Hà Nội như thế nào? Những nhân tố tác động đến việc sử
dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên? Và, xu hướng sử dụng rượu, bia trong thanh
thiếu niên trong thời gian tới diễn ra như thế nào?
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu của phương Tây về rượu, bia
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, khoảng 1/3 dân số thế giới (2 tỷ người)
có sử dụng rượu, trong đó 77 triệu người lạm dụng rượu. Cách đây khoảng 20 – 30
năm, lạm dụng rượu tập trung nhiều ở các nước Châu Âu. Hơn 80% trên 15 tuổi ở Tây
Âu, Đông Âu và các nước phát triển của Tây Thái Bình Dương uống rượu. Tuy nhiên,
hiện nay xu hướng tiêu thụ rượu tại các thị trường này rất khác nhau: chẳng hạn như
lượng rượu tiêu thụ ở Anh đã tăng lên 50% kể từ năm 1970, còn ở Pháp và Ý lại đang
giảm xuống. Tại các nước đang phát triển, lượng rượu tiêu thụ tuy tương đối thấp
nhưng đang tăng cao dần, chủ yếu là ở Châu Á, dưới tác động của tăng trưởng kinh tế
và các chiêu bài tiếp thị mạnh mẽ. Nhật Bản tiêu thụ 55 lít bia/đầu người, Trung Quốc
uống bia hàng năm 18 lít/đầu người. Tỷ lệ uống rượu của Đông Nam Á tương đối thấp
ở 21% đối với nhóm gồm Thái Lan, Inđônêxia, Srilanca và 14% đối với các nhóm bao
rượu, bia trước thời điểm khảo sát tăng lên theo lứa tuổi với 10% ở tuổi 12 và tăng lên
tới 49% ở độ tuổi 17. Cha mẹ là yếu tố có sự tác động phổ biến nhất đến việc sử dụng
rượu, bia của học sinh, với 37% nam giới và 38% nữ giới cho thấy họ đã được cha mẹ
họ cho uống rượu trong tuần qua. Ba địa điểm mà giới trẻ thường uống rượu là tại gia
đình, tại nhà của bạn bè hoặc tại các bữa tiệc.
Các kết quả khảo sát mới nhất của Anh cho thấy không có sự khác biệt về giới
tính trong việc sử dụng rượu, bia của giới trẻ và sự tác động của bạn bè cũng như áp
lực tự thân là một trong yếu tố khiến giới trẻ tìm đến rượu, bia: nữ giới ngày nay đã
8
“bắt kịp” nam giới về việc tiếp cận và sử dụng rượu, bia. Ở Anh, dưới 18 tuổi không
được phép mua rượu cho mình nhưng 63% của những người tuổi từ 16 – 17 và 10% ở
độ tuổi 12 – 15 người đã say sưa trong năm qua nói rằng họ thường mua rượu trong
quán rượu, quầy bar và câu lạc bộ đêm. Giới trẻ coi rượu như là một phương tiện giao lưu
xã hội với bạn bè (62%). Uống rượu để gia tăng sự tự tin cũng là một chỉ báo quan trọng
(www.ias.org.uk/resources/factsheets/adolescents.pdf).
Các chương tình quảng cáo về rượu, bia trên các phương tiện truyền thông đại
chúng có sự tác động nhất định đến việc sử dụng rượu trong thanh thiếu niên. Một
nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của việc quảng cáo rượu đối với thanh thiếu niên ở
Ai-len cho thấy: Đa số những thanh thiếu niên được khảo sát đều khẳng định là họ yêu
thích các chương trình quảng cáo về rượu. Và, hầu hết các thanh thiếu niên tin rằng nội
dung của các chương trình quảng cáo sẽ góp phần định hướng cho hành động hay mục
tiêu cho họ, bởi vì các chương trình quảng cáo mô tả cảnh - nhảy múa, sự giải trí ở hộp
đêm, âm nhạc sôi động... Thanh thiếu niên coi những quảng cáo về rượu, bia như là
những gợi ý, những chương trình quảng cáo rượu, bia tạo nên khuynh hướng bao trùm
rằng rượu sẽ đem đến thành công trong cuộc sống và tình dục… (Trích lại từ Alcohol
and advertising, 2010)
Việc lạm dụng rượu, bia còn gây ra các gánh nặng lớn về kinh tế cho xã hội chủ
thập kỷ trước. Các nghiên cứu chỉ ra rằng: tuổi lần đầu sử dụng rượu, bia có sự chênh
lệch với các nước trong khu vực, nam giới sử dụng, lạm dụng và nghiện rượu, bia
nhiều hơn so với nữ giới, tỉ lệ đã từng uống hết một cốc rượu, bia tăng theo độ tuổi.
Nghiên cứu tại phường Trung Trực, Hà Nội năm 1994 với số mẫu là 7.986 người
từ 15 tuổi trở lên cho thấy nghiện rượu chỉ có ở nam giới, với 1,9% nghiện rượu, bia và
50 – 60% tổng số người nghiện rượu ở lứa tuổi 30 đến 50. Trong một nghiên cứu khác
được thực hiện ở 6 tỉnh (Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tây, Quảng Nam – Đà Nẵng, Tp.
10
Hồ Chí Minh và Kiên Giang) cho biết khoảng 75% em trai và 50% em gái đã từng
uống bia, 54% em trai và 20% em gái đã từng uống rượu. Nghiên cứu của Kim Bảo
Giang và cộng sự cũng báo cáo tỷ lệ say rượu, bia ở nam giới huyện Ba Vì, Hà Tây
(nay thuộc Hà Nội) là 5,7% trong khi tỷ lệ này ở nữ giới chỉ là 0,06%. Cuộc Điều tra Y
tế quốc gia (2001 – 2002), đã phát hiện 22,2% dân số trên 15 tuổi có uống rượu bia từ
một lần trở lên trong tuần, trong đó nam chiếm 46% và nữ chiếm 2%; 77,9% dân số
trên 10 tuổi đang dùng rượu, bia đã bắt đầu uống trong độ tuổi 15 – 25. Nghiên cứu về
các bệnh lý liên quan đến rượu tại huyện Ba Vì khám lâm sàng trên 585 đối tượng từ 18
đến 60 tuổi năm 2003 cho thấy ở nam giới tỷ lệ nghiện rượu là 8% trong khi đó tỷ lệ này ở nữ
là 0% (Trích lại từ điều tra Y tế Việt Nam, 2006:101).
Năm 2006, được sự uỷ quyền của Dự án thành phần Chính sách Y tế; Viện Chiến
lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế đã tiến hành nghiên cứu đánh giá về “Tình hình lạm
dụng rượu bia tại Việt Nam”, cuộc điều tra đã chỉ ra rằng: Tỷ lệ sử dụng rượu (ít nhất
là 1 lần/tuần) tại các địa bàn nghiên cứu là 33,5%. Tỷ lệ sử dụng rượu trong nhóm nam
là 64%, cao hơn so với số liệu điều tra về tình hình sử dụng rượu, bia tại 12 quốc gia
đang phát triển (50%) và thấp hơn so với tỷ lệ sử dụng rượu của nam giới trong khu
vực Tây Thái Bình Dương là 84%. Lý do của việc sử dụng rượu, bia chủ yếu là do sự tác động
của bạn bè và trạng thái hưng phấn của cá nhân người sử dụng. Tuổi bắt đầu sử dụng rượu
trung bình là 24 và có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, các khu vực. So với thế giới tuổi
3.1 Mục đích của luận văn
Nêu lên thực trạng sử dụng rượu, bia và làm rõ các nhân tố tác động đến việc sử dụng
rượu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội. Đồng thời chỉ ra các hệ quả của việc sử dụng rượu,
bia và xu hướng sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội. Những thông tin này sẽ bổ
sung tư liệu cho việc nhận định tình hình sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên hiện nay,
góp phần định hướng cho thanh thiếu niên có lối sống lành mạnh hơn.
12
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Đề tài đặt ra 04 nhiệm vụ phải giải quyết là:
Thứ nhất là tổng quan về tình hình sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên.
Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận và những khái niệm cơ bản có liên quan. Vận dụng
các cách tiếp cận nghiên cứu và khái niệm liên quan vào lý giải và làm sáng tỏ vấn đề
nghiên cứu. Các cách tiếp cận nghiên cứu: Cách tiếp cận xã hội hóa; cách tiếp cận
tương tác biểu trưng. Các khái niệm công cụ: Rượu, bia, lạm dụng rượu, bia, vị thành
niên và thanh thiếu niên.
Thứ ba là phân tích thực trạng sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên Hà Nội.
Cuối cùng, phân tích các nhân tố tác động đến việc sử dụng rượu, bia và chỉ ra
những hệ quả của việc sử dụng rượu, bia cũng như xu hướng sử dụng rượu, bia trong
thanh thiếu niên Hà Nội.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Trong phân tích này, tác giả sử dụng 02 cách tiếp cận: Cách tiếp cận xã hội học về
xã hội hóa; cách tiếp cận tương tác biểu trưng để phân tích thực trạng sử dụng rượu, bia
và các nhân tố tác động đến việc sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên Hà Nội.
4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Tác giả không tiến hành một nghiên cứu riêng, mà thông qua phân tích tài liệu,
tổng quan tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực rượu, bia. Và sử dụng phương pháp số liệu có
định thống kê X2 được sử dụng để xem xét mối quan hệ giữa các biến số đó có ý nghĩa
về mặt thống kê hay không.
14
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng sự dụng rượu, bia của thanh thiếu niên Hà Nội
5.2 Khách thể và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Thanh thiếu niên trong độ tuổi 15-24 tuổi
Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hà Nội trước khi mở rộng
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
6.1 Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài đưa ra 04 giả thuyết nghiên cứu như sau:
Giả thuyết 1: Hành vi sử dụng rượu, bia có sự khác biệt giữa nam, nữ thanh thiếu niên
và khu vực cư trú, độ tuổi.
Giả thuyết 2: Các yếu tố: trình độ học vấn; học lực; môi trường học tập, bị ghi sổ học
bạ vì hành vi ứng xử kém và hiện đang đi học là những yếu tố có thể làm tăng hoặc
giảm nhu cầu sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên.
Giả thuyết 3: Việc hiện có/không đi làm kiếm tiền tạo ra sự khác biệt trong tần suất sử
dụng rượu, bia của thanh thiếu niên.
Giả thuyết 4: Các yếu tố: gia đình, phương tiện truyền thông đại chúng và nhóm bạn có
sự tác động đến hành vi sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên. Trong đó, phương tiện
truyền thông đại chúng và nhóm bạn là những nhân tố tác động mạnh đến hành vi sử
dụng rượu, bia trong nam thanh thiếu niên.
15
- Hệ biến số
Biến số độc lập
- Đặc trưng nhân khẩu – xã hội của cá nhân:
+ Giới tính: Nam/Nữ
16
+ Độ tuổi: 15-24
+ Học vấn được đánh giá qua 04 chỉ báo:
Hiện nay có đang đi học
Bậc học cao nhất đã hoàn thành
Lực học trong suốt quá trình học tập
Bị ghi học bạ vì hành vi ứng xử kém
+ Hiện đang đi làm có thu nhập
+ Khu vực cư trú: Nông thôn/Thành thị
- Ảnh hưởng của gia đình
- Ảnh hưởng của nhóm bạn:
+ Phần lớn những người bạn thân của bạn có uống rượu, bia
+ Có cần uống rượu, bia để chứng tỏ hoặc hòa nhập với bạn bè
- Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng
+ Có theo dõi tin tức qua các phương tiện truyền thông đại chúng không (Đài/radio,
tivi, internet, báo, tạp chí)
Biến số phụ thuộc
Thực trạng sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội
Biến số can thiệp
Môi trường văn hóa, xã hội
Các chính sách của Đảng và Nhà nước về rượu, bia
17
DỤNG RƢỢU, BIA
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG RƢỢU, BIA
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.1.1 Sử dụng rƣợu, bia
Khái niệm sử dụng rượu bia trong nghiên cứu này được định nghĩa là: Thanh
thiếu niên đã có ít nhất 01 lần uống rượu, bia tính đến thời điểm điều tra.
1.1.2 Lạm dụng rƣợu, bia
Lạm dụng rượu, bia được xác định theo quy chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới:
Nam uống trên 3 đơn vị rượu/ngày (Một đơn vị rượu tương đương 10 gram rượu
nguyên chất chứa trong dung dịch uống – pure nit of alcohol = 01 cốc chuẩn. Một cốc
chuẩn tương đương: 01 lon bia 330ml nồng độ 5%, 01 cốc rượu vang 125ml nồng độ
11%, 01 ly rượu vang mạnh 75ml nồng độ 11%, 01 ly rượu vang mạnh 75ml nồng độ
20%, 01 chén rượu mạnh 30ml nồng độ 30%) hoặc 21 đơn vị rượu/tuần; nữ uống trên
02 đơn vị/ngày hoặc 14 đơn vị/tuần (Tạp chí Y học thực hành (650) – Số 3/2009:40).
1.1.3 Vị thành niên và thanh niên
Vị thành niên là một trong những khái niệm được hiểu một cách đa nghĩa và dễ
gây tranh luận nhiều cả về nội hàm lẫn ngôn từ của nó trong tư duy xã hội học. Tuỳ
thuộc vào vị trí tiếp cận, góc nhìn cũng như chức năng, nhiệm vụ của mỗi chuyên
ngành mà vị thành niên lại được giải thích theo một cách thức riêng.
Theo, Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em quy
định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi". Trong khi đó, Công ước của
Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1989) được Việt Nam phê chuẩn năm 1990 lại xác
19
định trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy
định tuổi thành niên sớm hơn (Điều 1).
Điều 20 Bộ luật Dân sự Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (có hiệu lực
1/7/1996) cũng quy định rằng: “... Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”;
09/12/2005 thì độ tuổi của Thanh niên là “từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”
Trong khuôn khổ của luận văn này, Vị thành niên và thanh niên được gọi
chung là thanh thiếu niên, độ tuổi của thanh thiếu niên được xác định là từ 15-24 tuổi.
Trong luận văn này tác giả lựa chọn thanh thiếu niên ở nhóm tuổi 15 – 24 tuổi để
nghiên cứu về thực trạng sử dụng rượu, bia. Vì:
Thứ nhất, trong độ tuổi 15-18, vị thành niên muốn thành người lớn, muốn độc
lập nhưng lại dễ bắt chước người lớn và bạn bè các hình thức như hút thuốc, uống
rượu, bia… Vị thành niên muốn suy nghĩ, hành động khác khuôn phép của người lớn
nhưng lại không tự định hướng được mình, dễ bị cuốn theo cách suy nghĩ của bạn bè
và những hình ảnh, câu chuyện trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Ở lứa tuổi
này, trẻ thường có nhu cầu giao tiếp, muốn được khẳng định vị trí trong nhóm, muốn
được tán thưởng. Do đó, luận văn tập trung vào lứa tuổi này nhằm tìm hiểu nguyên
nhân thúc đẩy các em tìm đến rượu, bia là gì? Và vì sao, các em lại chọn rượu, bia chứ
không phải một loại đồ uống khác?
Thứ hai, độ tuổi 19-24, đây là lứa tuổi có sự giao thoa giữa tuổi vị thành niên và
tuổi thanh niên. Ở lứa tuổi này, mỗi cá nhân đã trải qua hàng loạt những thay đổi về thể
chất, tinh thần và xã hội. Họ đã trưởng thành hơn trong việc xây dựng và củng cố hệ
thống giá trị cho bản thân. Vậy lý do họ sử dụng rượu, bia là gì? Có khác gì so với
nhóm tuổi 15-18?
21
1.2 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận xã hội hóa và cách tiếp cận
tương tác – biểu trưng.
1.2.1 Cách tiếp cận xã hội hóa
Theo Neil Smelser: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức
hành động tương ứng với vai trò của mình”. Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân
trong quá trình xã hội hóa chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị,
nhân cách con người.
Trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng thì nhóm bạn cùng tuổi thường ganh
đua với ảnh hưởng của bố mẹ. Điều này đơn giản bởi lẽ khi các mẫu xã hội thay đổi
nhanh chóng, thì quan tâm và thái độ của bố mẹ và trẻ khác nhau đáng kể - như thể
hiện bằng nhóm từ quen thuộc “khoảng cách thế hệ”. Tầm quan trọng của nhóm bạn
cùng tuổi thường nhiều nhất trong thời thanh niên, khi thanh niên bắt đầu sống xa cách
gia đình và nghĩ về bản thân là những người lớn có trách nhiệm. Đặc biệt trong giai
đoạn này của đời sống nhóm bạn cùng tuổi tạo áp lực mạnh đối với thành viên phải
tuân thủ (Jonh. Macionis, 2004: 170). Những gì gia đình dạy con cái không phải tất cả đều
có chủ ý. Trẻ luôn học hỏi từ loại môi trường do người lớn hình thành một cách vô tình trong
gia đình (Jonh. Macionis, 2004: 168).
Bên cạnh sự ảnh hưởng xã hội hóa của gia đình và bạn bè thì phương tiện truyền
thông đại chúng cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xã hội hóa của mỗi
cá nhân. Trong các phương tiện truyền thông đại chúng thì truyền hình là phương tiện
truyền thông đại chúng thuyết phục nhất, tác động mạnh đến quá trình xã hội hóa,
truyền hình là một phương tiện lập trình thái độ và niềm tin của chúng ta và truyền
hình vẫn còn là chủ đề tranh luận đến mức làm méo mó các mối quan hệ của chúng ta
bằng cách ủng hộ các mẫu rập khuôn truyền thống (Jonh. Macionis, 2004: 172).
23