MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Sử dụng rượu đã trở thành tập quán lâu đời trong đời sống gia đình và các cộng
đồng dân cư. Ở nước ta, nhiều vùng coi rượu, bia như là vật chứng để thể hiện sự biết ơn
của con người với trời đất, sự thành kính với tổ tiên, sự trọng thị của người thân, bạn bè
và những người xung quanh. Bởi vậy mà rượu, bia là một thứ không thể thiếu trong các
dịp lễ tết, hội hè…“Phi tửu bất thành lễ”. Đối với một số người rượu, bia còn là chuẩn
mực đánh giá bản lĩnh, tính cách của nam giới “Nam vô tửu như kỳ vô phong”.
Kinh tế nước ta ngày càng phát triển nên xu hướng sử dụng rượu, bia trong cuộc
sống hằng ngày, những dịp lễ hội, quan hệ công việc…ngày càng gia tăng. Để đáp ứng sự
gia tăng về nhu cầu sử dụng, các mặt hàng rượu, bia trên thị trường cũng trở nên phong
phú hơn với nhiều loại và giá thành khác nhau. Theo điều tra về vị thành niên và thanh
niên Việt Nam (SAVY) năm 2003 kết luận: “Tỉ lệ thanh niên đã có uống rượu bia rất cao,
trong đó có một nhóm nhỏ say bia rượu thường xuyên”.[21]
Điều này khiến nhiều người nhớ đến thông tin Việt Nam đứng đầu khu vực Đông
Nam Á về tăng trưởng ngành rượu bia, với khoảng 3 tỷ USD/năm chi cho bia và khoảng
16.000 tỷ đồng/năm (tính theo mức giá rẻ nhất) cho rượu nhà máy. Lượng rượu, bia trung
bình sử dụng trên thế giới không tăng trong 10 năm vừa qua, trong khi Việt Nam tăng
trưởng theo đường thẳng đứng do năm 2010 ở mức 6,6 lít/người/năm, gần gấp đôi giai
đoạn 2003-2005 là 3,8 lít. Việt Nam là nước đứng đầu Đông Nam Á về tiêu thụ rượu, bia.
[22]
Và con số đó vẫn không dừng lại, lượng rượu được sử dụng ở Việt Nam đang tiếp
tục tăng. Dự báo đến 2025 ở mức 7 lít/người/năm. Ngoài ra còn lượng rượu lớn do dân tự
nấu mà chưa đánh giá được con số chính xác.
Điều đáng nói là chúng ta đang đối mặt với tình trạng gia tăng tai nạn giao thông,
với gần 30 người chết mỗi ngày, mà 70% số vụ tai nạn lại có liên quan đến rượu, bia.
Rượu, bia cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến 60% số vụ bạo hành gia đình ở Việt
Nam. Nhiều tấn bi kịch gia đình, án mạng chết người đã xảy ra trong cơn say. Tai nạn xảy
“Tỉ lệ thanh niên đã có uống rượu bia rất cao, chủ yếu là nam, trong đó có một nhóm nhỏ
say bia, rượu thường xuyên”.
Còn theo báo cáo của Vụ học sinh, sinh viên (Bộ GD-ĐT) trong “Hội thảo tổng
kết năm năm thực hiện chương trình quốc gia phòng chống tội phạm” (tháng 12-2004),
90% những vụ vi phạm pháp luật trong học sinh, sinh viên là do bia rượu gây ra.
Xuất phát từ thực trạng như vậy chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu hành vi sử
dụng rượu, bia của sinh viên nam trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng.”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu hành vi sử dụng rượu bia của nam sinh viên trường
đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng. Từ đó đề xuất những biện pháp tác động nhằm hạn
chế việc sử dụng rượu, bia của nam sinh viên trường Đại học Sư Phạm- Đại học Đà
Nẵng.
3. Đối tượng nghiên cứu
Hành vi sử dụng rượu, bia của sinh viên nam trường Đại học Sư phạm- Đại học
Đà Nẵng
4. Khách thể nghiên cứu
Nam sinh viên trường Đại học Sư Phạm- Đại học Đà Nẵng.
5. Khách thể khảo sát
200 nh viên nam trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng.
6. Giả thuyết khoa học
Tỷ lệ sử dụng rượu, bia của sinh viên nam trường ĐHSP- ĐHĐN hiện nay khá cao.
Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: ảnh hưởng từ gia đình, thất
tình, chán đời, cô đơn, muốn khẳng định mình, đua đòi,…gây nhiều tác hại đối với bản
thân, gia đình và xã hội.
-
Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+
+
+
-
Phương pháp trò chuyện.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp thống kê trong toán học.
10. Bố cục của bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo. Nội dung chính gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu về hành vi sử dụng rượu, bia.
1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu về hành vi sử dụng rượu, bia trên thế giới.
Báo cáo toàn cầu về thực trạng rượu, bia và sức khỏe 2011-WHO thì thế giới tiêu
thụ 6,13 lít/người/năm và mức độ tiêu thụ dường như không có sự thay đổi trong suốt
bia chủ yếu tập trung ở nam giới tuổi 15-59.
Nếu tính đến ảnh hưởng có lợi của sử dụng rượu bia hợp lý đối với bệnh tim mạch
thì tổng số các trường hợp tử vong liên quan đến sử dụng rượu, bia là 2,25 triệu (năm
2004)- GNBT toàn cầu (tử vong và không tử vong- DALYs).
Rượu, bia là nguyên nhân gây ra 20 - 50% trường hợp ung thư, động kinh, ngộ
độc, tai nạn giao thông và một số loại ung thư.
Phí tổn về kinh tế, chiếm 2% - 8% GDP của mỗi quốc gia. Chi phí cho sử dụng
rượu bia chiếm 11% thu nhập hộ GĐ tại Ru Ma Ni; 24% ở Ấn Độ và >30% ở Srilanca…
Rượu bia là yếu tố nguy cơ thứ 3 toàn cầu, là yếu tố nguy cơ hàng đầu ở khu vực
Tây Thái Bình Dương và ở châu Mỹ, là yếu tố nguy cơ thứ hai ở châu Âu.
1.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu về hành vi sử dụng rượu, bia tại Việt Nam.
Trong khi mức tiêu thụ đồ uống có cồn của toàn thế giới trong gần 2 thập kỷ qua
hầu như không thay đổi thì Việt Nam lại là một trong số ít quốc gia có xu hướng tăng
nhanh. Mức tiêu thụ rượu bia bình quân/người/năm quy đổi ra cồn nguyên chất đã tăng
từ 1,35lít năm 2001 lên 3,3 lít năm 2007; 3,54 lít năm 2008 và khoảng 4 lít năm2010,
trong đó tỷ trọng từ bia cao hơn từ rượu. Năm 2008, trong 3,54 lít cồn nguyên chất được
tiêu thụ bình quân/người, bia chiếm 51,4%, tương đương 1,82 lít (BộCông thương, 2009).
Mức tiêu thụ bia, rượu của người Việt Nam trong 10 năm trở lại đây tăng gấp 2 lần, dự
báo đến năm 2025 sẽ tăng lên đến 7 lít/người/năm.
Những năm gần đây, rượu tự nấu không bảo đảm chất lượng hoặc các loại rượu
được sản xuất/chế biến không hợp pháp đang là vấn đề rất đáng lo ngại ở Việt Nam. Theo
thông lệ phân loại quốc tế, những đồ uống có cồn không chính thống này chiếm tỷ trọng
rất cao, ước tính có thể chiếm tới khoảng 70% mức tiêu thụ bình quân/người/năm ở Việt
Nam (TCYTTG, 2012). Tình trạng gian dối trong kinh doanh rượu hoặc rượu tự pha chế,
chủ yếu là pha Methanol gây hậu quả chết người vẫn còn ghi nhận tại một số địa phương.
Năm 2008, tỷ lệ có sử dụng rượu bia là 79,9% đối với nam giới và 36,5% đối với
nữ giới, trong đó có 60,5% nam giới và 22% nữ giới cho biết đã từng say rượu bia.
Việt Nam còn đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng nhanh tỷ lệ vị thành niên
Hiện nay trong lí luận cũng như thực tiễn, thuật ngữ hành vi chưa được xác định
một cách rõ ràng, dứt khoát. Nói chung, con người vẫn dùng thuật ngữ hành vi cho cả
động vật và người. Ở người, thuật ngữ hành vi, hành động, hoạt động, việc làm, cách cư
xử thường được dùng thay thế lẫn nhau tùy trường hợp, tùy văn cảnh.
Theo X.L.Rubinshtejn: Hành vi là kết quả của hành động tích cực của chủ thể đối
với các đối tượng chủ thể gặp trong một hoàn cảnh nào đó [4, tr. 172].
Hành vi con người không còn đơn thuần là hành vi phản ứng mà thành hành vi
tích cực.
Theo A.N.Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một cơ
thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động.
Theo Hersey và Hard, đơn vị cơ sở của hành vi là một hành động. Toàn bộ hành vi
là một chuỗi hành động [4, tr. 29].
Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện (1995), trang 138, Nxb Thế Giới
Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em, Hà Nội: Hành vi là từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của
một động vật khi bị một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích; các yếu tố bên ngoài
và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống, và tiến trình của ứng xử để thích ứng
có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh. Khi nhấn mạnh về tính khách
quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng
có thể quan sát được, chứ không như tình ý bên trong, thì nó là ứng xử. Khi nhấn mạnh
định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi.
Trong Tâm lí học xã hội thì hành vi được quan niệm như “hành động hay ý định
hành động mà cá nhân sẽ ứng xử với đối tượng”. Khi nói đến hành vi người, chúng ta
hiểu đó “là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí
bên trong của chủ thể” [6, tr.325].
Theo Phạm Minh Hạc, hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao
giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích [5, tr. 105].
Theo Từ điển Tâm lí học, Vũ Dũng định nghĩa: Hành vi là sự tác động qua lại giữa
cơ thể sống với môi trường xung quanh, do tính tích cực bên ngoài (kích thích) và bên
Những yếu tố tạo nên hành vi sử dụng:
+ Những hành động cấu thành phải là những hành động có mục đích.
+ Những hành động này phải tác động lên các công cụ, phương tiện nhằm đạt
được mục đích.
+ Những hành động tạo nên hành vi sử dụng phải chứa đựng tình cảm, thái độ đối
với khách thể chịu tác động của hành động như sự thích thú, sự chán nản, sự tích cực, hay
sự không quan tâm tới những việc mình đang làm.
Như vậy, có thể hiểu: Hành vi sử dụng rượu bia là một hiện tượng đa dạng và phức
tạp nó tồn tại ở mọi nơi, trong tiến trình phát triển của xã hội.
Có 4 cấp độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia là: Mức độ an toàn – nguy cơ thấp,
mức độ có hại, mức độ nguy hiểm, mức độ phụ thuộc/nghiện rượu bia. Trong đó, việc sử
dụng rượu bia chỉ an toàn và có nguy cơ thấp là khi người sử dụng không nên uống và
nếu uống thì chỉ nên giữ ở mức không quá 2 đơn vị rượu/ngày đối với nam và không quá
1 đơn vị rượu/ngày đối với nữ.
Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta, việc sử dụng rượu bia nhằm những mục đích giải
tỏa, vui chơi là chính, do vậy nên hầu như người sử dụng rượu bia đều sử dụng gấp nhiều
lần giới hạn trên. Ngoài ra, người ta cũng khuyến cáo cấp độ an toàn nói trên chỉ là lý
thuyết trong điều kiện lý tưởng. Việc áp dụng phải tính toán theo thực trạng sức khỏe của
mỗi người.
1.3.2 Phân loại hành vi sử dụng rượu, bia
Trong phạm vi phần này, chúng tôi phân loại hành vi căn cứ vào khía cạnh giá trị.
Nghĩa là, hành vi con người sẽ được phân loại thành hai hướng chính: Hành vi tích cực
và hành vi tiêu cực
- Hành vi sử dụng rượu, bia tích cực: Đó là các hành vi lành mạnh, sử dụng rượu
bia một cách có chừng mực
- Hành vi sử dụng rượu, bia tiêu cực: Là các hành vi có nguy cơ hoặc có tác động
xấu đến một cá nhân, một nhóm người hay có thể cả một cộng đồng thực hành, lạm dụng
rượu, bia một cách quá mức
căng thẳng, nặng nề. Chính trạng thái tâm lý này khiến SV tìm đến rượu, bia như một
phương thức “giải sầu”. Mặc khác nếu SV không khẳng định được bản thân ở trong các
lĩnh vực nên tìm cách khẳng định mình “trong mâm nhậu”, để được mọi người nể phục.
Nguyên nhân về mặt xã hội
Rượu, bia là một chất gây nghiện được xã hội công nhận tuy nhiên rượu, bia có
thể dễ dàng kiếm được, rẻ tiền và ngay trong một số trường hợp việc uống rượu được dự
kiến trước. Do tư tưởng dùng rượu bia để giao tiếp, những người đàn ông có tửu lượng
cao thường được xem là có tính khí đàn ông, đáng khâm phục và từng trải.
Bên cạnh đó quảng cáo rượu, bia tràn lan. Hiện nay hoạt động quảng cáo rượu, bia
chưa có quy định hạn chế nào. Do đó, việc quảng cáo rượu, bia như hàng hóa, dịch vụ
bình thường, không hạn chế về đối tượng tiếp cận, nội dung, thời gian và không gian
quảng cáo. Theo thạc sĩ Trần Thị Trang, Vụ phó Pháp chế, Bộ Y tế ho rằng, hiện Luật
Quảng cáo chỉ quy định cấm quảng cáo đối với “rượu từ 15 độ trở lên” tức là hoạt động
quảng cáo đối với rượu dưới 15 độ và bia là không bị kiểm soát về đối tượng tiếp cận, nội
dung, thời gian và không gian quảng cáo. Do đó, việc quảng cáo đối với các sản phẩm
này hiện nay được thực hiện như đối với hàng hóa thông thường.[27] . Quảng cáo tràn
lan dễ làm lệch lạc nhận thức, nhất là của giới trẻ về rượu, bia. Hiện nay hoạt động quảng
cáo bia chưa có quy định nào hạn chế nào. Do đó, việc quảng cáo bia như hàng hóa, dịch
vụ bình thường, không hạn chế về đối tượng tiếp cận, nội dung, thời gian và không gian
quảng cáo. Các quy định về hạn chế tính sẵn có và nhu cầu sử dụng rượu, bia còn thiếu
rất nhiều như: Quy định liên quan đến việc trưng bày rượu, bia và in cảnh báo sức khỏe
trên nhãn sản phẩm rượu, bia; quy định hạn chế quảng cáo, khuyến mãi rượu dưới 15 độ
và bia; quy định kiểm soát hoạt động tài trợ nhằm tiếp thị của các mặt hàng bia của các
cơ sở kinh doanh bia; quy định về ngày, giờ bán lẻ rượu, bia, ; quy định về địa điểm cấm
bán và sử dụng rượu, bia…
Thiếu quy định nhằm huy động sức mạnh cộng đồng tham gia vào can thiệp giảm
tác hại đối với lạm dụng rượu, bia như việc quy định cụ thể đối với lĩnh vực xây dựng đời
sống văn hoá cơ sở không rượu, bia hoặc sử dụng hạn chế rượu, bia: Gia đình văn hoá,
Rượu, bia là một chất gây hại, tác động bất lợi trực tiếp và gián tiếp đến nhiều cơ
quan của cơ thể như:
+ Ảnh hưởng đến não bộ
Bia, rượu làm tăng hoạt động GABA (gamma – aminobutyric) và ức chế ảnh
hưởng của glutamate, khiến thông tin truyền đi trong não bộ chậm hơn bình thường.
Các tế bào thần kinh ở não bộ rất nhạy cảm trước bất cứ chất độc nào, do đó với
lượng cồn lớn trong bia rượu được đưa vào từ đường máu sẽ gây ra những rối loạn trầm
trọng trong sự hoạt động của vỏ não và làm cho vỏ não không còn kiểm soát, điều chỉnh
được hoạt động của các trung tâm dưới vỏ. Từ đó, gây ra các hành động tiêu cực của
người uống như đi đứng loạng choạng, phản ứng chậm, mất kiểm soát và liều lĩnh hơn.
Ngoài ra, lượng cồn có trong rượu, bia còn làm cho trí nhớ của bạn bị suy giảm.
Nếu nồng độ cồn trong máu là 15g/100cc, bạn bắt đầu không thể ghi nhớ những gì đã làm
trong ngày. Khi nồng độ này tăng lên 20g/100cc là lúc bạn mất đi khoảng 50% trí nhớ
ngắn hạn.
+ Gây hại cho cơ tim
Rượu bia làm cho cơ tim bị thoái hóa, bộ máy tim mạch bị tổn thương: Đau đầu
xuất hiện, khó thở, mắt cá sưng to. Dùng rượu mạnh trong thời gian dài có thể gây giãn
cơ tim, phì đại tâm thất và xơ hóa.
+ Tác hại đối với dạ dày
Rượu, bia bị phân hủy từ ethanol thành các acetaldehyde (chất rất độc) có thể gây
viêm loét dạ dày. Khi lượng bia, rượu đưa vào cơ thể quá nhiều sẽ gây ra bệnh viêm dạ
dày cấp, lóet dạ dày và tá tràng.
Nghiện rượu cũng gây ra các biến chứng như thủng dạ dày và chảy máu dạ dày.
+ Tác hại đối với gan
Khi rượu vào cơ thể, nó được hấp thu nhanh với 20% hấp thu tại dạ dày và 80%
tại ruột non, sau 30-60 phút toàn bộ rượu được hấp thu hết. Sau đó, rượu được chuyển
hóa chủ yếu tại gan (90%). Chính vì lý do này mà chức năng ngăn các chất độc khác
nhau, tùy thuộc vào các yếu tố như: Tuổi; giới tính; đặc điểm sinh học; mức dung nạp
bình quân; địa điểm, bối cảnh và cách thức uống của người sử dụng... Sử dụng rượu, bia
là nguyên nhân chủ yếu gây ra 30 bệnh và là nguyên nhân kết hợp gây nên 200 bệnh theo
ICD 10 năm 1992. Riêng đối với hệ thần kinh trung ương, rượu, bia gây tác hại ở nhiều
mức độ khác nhau và đặc biệt ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe tâm thần.
Nếu người dân Việt Nam uống rượu bia ở mức thấp nhất (0-2,5 gam quy đổi theo
cồn nguyên chất/ngày) thì số trường hợp tử vong hằng năm có thể giảm được ít nhất là
13.923 trường hợp ở nam giới và 1.558 trường hợp ở nữ giới.[28]
Hậu quả đối với xã hội
Rượu, bia ức chế vùng vỏ não điều khiển sự tự chủ, kiềm chế của chúng ta. Nếu
vùng vỏ não này bị ức chế, ta sẽ dám làm những việc trước đây không dám làm. Uống
nhiều rượu, bia sẽ làm tê liệt hệ thần kinh tự chủ, sự phán đoán và ý thức đạo đức.
Nhiều người sau khi uống rượu, bia như bị “kích thích”, nói năng có khi bất chấp,
có những hành động mà bình thường không dám làm nên tưởng rằng rượu có tác dụng
“kích thích”.
Hậu quả tất yếu của lạm dụng rượu bia là hành vi bạo lực, tai nạn giao thông và tệ
nạn xã hội. Đã xảy ra nhiều vụ “rượu vào... dao ra” làm chấn động dư luận. Rất nhiều vụ
bạo lực gia đình diễn ra với sự “giúp sức” của rượu bia.
Ở Việt Nam có 9.000 người tử vong hàng năm do sử dụng rượu bia khi tham gia
giao thông. Cùng với đó, 30% các vụ gây rồi nơi công cộng liên quan đến rượu, bạo lực
gia đình. Bởi lẽ, ngay khi chỉ uống một lượng vừa phải cồn trong máu- tùy theo cân nặng
và cấu tạo của cơ thể- cồn đã có tác động đến hệ thống thần kinh và đặc biệt là lên não:
góc nhìn bị thu hẹp lại và thời gian phản ứng chậm đi. Các nhà nghiên cứu của Đại học
Stockholm đã tìm thấy rằng uống 50 g cồn hằng ngày sẽ để lại tác hại vĩnh viễn. Ước
lượng vào khoảng 100.000 tế bào não sẽ bị giết chết khi uống một ly bia. Trong một cơn
say rượu con số tế bào não chết đi có thể lên đến 10.000.000.[29]
Có tới 83% nạn nhân của tai nạn giao thông liên quan đến xe máy, thậm chí có
nhiều người tự ngã do sử dụng quá nhiều đồ uống có cồn với nồng độ cồn cao. Nhiều
thành tệ nạn xã hội
Trong quy hoạch 2010-2015 của Bộ Công Thương, đến năm 2015, chỉ tiêu lượng
bia tiêu thụ được đưa ra là 2,7 tỷ lít, nhưng đi chưa tới nửa chặng đường quy hoạch (năm
2013) thì con số này đã "vượt chỉ tiêu". Bia tiêu thụ với số lượng lớn mang lại niềm vui
cho các nhà sản xuất bao nhiêu thì lại khiến các nhà quản lý, nghiên cứu xã hội băn
khoăn bấy nhiêu. Theo các chuyên gia kinh tế, số lượng sản xuất rượu, bia không đủ phục
vụ nhu cầu trong nước, đương nhiên sẽ không thể xuất khẩu… và làm mất đi nguồn lực
quốc gia. Việc tiêu thụ rượu, bia quá lớn phá hủy lợi ích kinh tế khi nó trở thành tệ nạn xã
hội vì những cơ thể say xỉn thì chắc chắn không thể lao động một cách hiệu quả. .[32]
Theo bà Vũ Thị Minh Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách y tế
(Bộ Y tế), thực trạng uống bia, rượu đang trở nên đáng báo động và nếu không có biện
pháp kiểm soát kịp thời, mức độ tiêu thụ bia, rượu gia tăng hằng năm với mức hơn 10%
sẽ khiến cho nỗ lực của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội trong phát triển kinh tế cũng
như chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng bị “hòa tan” cùng với rượu, bia, bên cạnh đó
còn ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội, sự phát triển bền vững của đất nước.[33]
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng rượu, bia
Theo quan điểm của tâm lý học Macxit, cả ý thức và hành vi đều tồn tại một cách
khách quan, khái niệm hành vi không tách rời khái niệm hoạt động. Hành vi chính là sự
biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của hoạt động, đứng trên nền tảng của hoạt động.
Hành vi sử dụng rượu, bia được hiểu là những “biểu hiện cụ thể” của con người ra
bên ngoài thế giới khách quan dưới hình thức cụ thể. Hành vi của con người được ý thức
kiểm soát và ý chí điều khiển. Đối với một số hành vi lạm dụng rượu, bia lúc đầu là hành
động ý chí sau trở thành thói quen từ đó dẫn đến nghiện. Để hiểu hơn về bản chất hành vi
sử dụng rượu, bia, chúng ta nên tìm hiểu một số yếu tố như sau:
+ Nhận thức: Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người. Trong quá trình
sống và hoạt động con người nhận thức – phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực
của bản thân mình, trên cơ sở đó người ta tỏ thái độ và hành động với thế giới xung
quanh với chính bản thân mình. Nhận thức là tiền đề để con người lựa chọn hành vi phù
thức về
ý thức
vấn đề
về vấn đề
Giai đoạn 1
Nhận thức
Giai đoạn 2
Giai đoạn 3
Chấp nhận
Có ý định
Giai đoạn 4
Giai đoạn 5
Thực hiện
Duy trì
Giai đoạn 1: Từ chỗ đối tượng chưa biết, chưa có ý thức về vấn đề đến chỗ có ý
thức về vấn đề (hình thành ý thức có vấn đề).
Giai đoạn 2: Từ chỗ có ý thức về vấn đề đến tìm hiểu chấp nhận vấn đề và học các
kỹ năng (tìm hiểu và chấp nhận vấn đề).
chưa ổn định, còn phụ thuộc về địa vị xã hội do chưa thực sự tham gia vào guồng máy
sản xuất của xã hội. Vì vậy, đặc điểm tâm lí của họ có phần khác so với thanh niên cùng
lứa tuổi nhưng đã có việc làm ổn định và trưởng thành về nghề nghiệp.
Về thể chất: Đây là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương, cơ bắp,
tạo ra nét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên. Các tố chất về thể lực: Sức mạnh, sức bền,
dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết
cũng như sự tăng trưởng các hoóc môn nam và nữ.
Về nhận thức: Bản chất hoạt động nhận thức của sinh viên là đi sâu, tìm hiểu
những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được
đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, quy luật của các khoa học đó, với mục đích trở thành
những chuyên gia về các lĩnh vực nhất định. Hoạt động nhận thức của họ một mặt phải kế
thừa một cách có hệ thống những thành tựu đã có, mặt khác phải tiệm cận những thành
tựu của khoa học đương đại và có tính cập nhật, thời sự. Chính vì thế mà nét đặc trưng
cho hoạt động học tập của sinh viên là sự căng thẳng về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều
thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá.
Về sự tự đánh giá, tự ý thức: Tự đánh giá ở tuổi sinh viên là một hoạt động nhận
thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu
thập, xử lý thông tin về chính mình, chỉ ra được mức độ nhân cách tồn tại ở bản thân, từ
đó có thái độ hành vi, hoạt động phù hợp nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện
và phát triển... Đặc điểm tự đánh giá ở sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc.
Biểu hiện cụ thể của nó là sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân mình có tính
chất bên ngoài, hình thức mà còn đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị của nhân cách. Tự
đánh giá của họ không chỉ trả lời câu hỏi: Tôi là ai? mà còn: Tôi là người thế nào? Tôi có
những phẩm chất gì? Tôi có xứng đáng không? v.v... Hơn thế họ còn có khả năng đi sâu
lý giải câu hỏi: Tại sao tôi là người như thế? Những cấp độ đánh giá ở trên mang yếu tố
phê phán, phản tỉnh rõ rệt. Vì vậy, tự đánh giá của sinh viên vừa có ý nghĩa tự ý thức, tự
giáo dục.
Tự ý thức là một trình độ phát triển cao của ý thức, nó giúp sinh viên có hiểu biết
- Nghiên cứu hành vi sử dụng rượu bia của nam sinh viên trườn ĐHSP- ĐHĐN để
có biện pháp hình thành thái độ nhận thức đúng đắn đối với bản thân và xã hội, thay đổi
hành vi sử dụng rượu bia của bản thân. SV sư phạm nói chung và nam SV Sư phạm nói
riêng là những người giáo viên tương lai vì vậy hành vi, thái độ, nhận thức của họ sẽ tác
động mạnh mẽ đến lớp thế hệ trẻ sau này.