Thực trạng sử dụng rượu bia trong thanh thiếu niên Hà Nội TT - Pdf 25


0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN XÃ HỘI HỌC
TRẦN THỊ THANH LOAN THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƢỢU BIA
TRONG THANH THIẾU NIÊN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC



Có thể tìm luận văn tại:
Trung tâm Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội
1
MỤC LỤC Trang
Mở đầu
2
Nội dung
12
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về việc
sử dụng rƣợu, bia
12 2
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra một thời kỳ
mới cho sự phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Sử dụng rƣợu là một thói quen mang đậm nét văn hóa truyền
thống tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Vào thời điểm năm
2006, mức tiêu thụ bia bình quân/ngƣời/năm ở nƣớc ta là 15,8 lít,
gần bằng 2/3 so với mức tiêu thụ chung của toàn thế giới (22 lít).
Mức tiêu thụ rƣợu bình quân/ngƣời/năm ở nƣớc ta là 3,9 lít trong
khi đó mức tiêu thụ chung trên toàn cầu là 6 lít…
Thanh thiếu niên là lực lƣợng lao động trí thức cần thiết cho sự
phát triển của đất nƣớc. Sự giàu có và phồn vinh của quốc gia đƣợc
cấu thành từ nhiều yếu tố - trong đó có yếu tố con ngƣời, và có sự
góp sức của lứa tuổi thanh thiếu niên. Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của nền công nghệ tiên tiến, toàn cầu hóa đang diễn ra mọi nơi
trên thế giới, thanh thiếu niên Việt Nam cũng có cơ hội hòa vào
dòng thác công nghệ, nhiều cơ hội để phát hiện và phát triển bản
thân. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội đó, thì thanh thiếu niên
Việt Nam phải đối đầu với những thách thức mới: đó là sƣ xâm
nhập lối sống tự do, tệ nạn xã hội, những thƣớc phim quảng cáo
rƣợu, bia mang tính toàn cầu. Lối sống đƣợc du nhập từ phƣơng
Tây: hút thuốc lá, uống rƣợu, ma túy và tình dục không an toàn
đang là vấn đề lớn của thanh thiếu niên
(http://tcyh.yds.edu.vn/2008/2008 PB T12 so 4 - YTCC). Vì vậy, tình
hình sử dụng rƣợu, bia trong thanh thiếu niên vẫn là chủ đề mang

khảo sát cho biết họ thỉnh thoảng uống rƣợu. 38,0% thƣờng rơi vào
trạng thái “hũ chìm”, 24,4% là thƣờng xuyên uống (uống hai hay
nhiều lần một tuần) và 49,8% uống tại các nơi công cộng (chẳng
hạn nhƣ tại các câu lạc bộ, đƣờng phố và công viên). Trẻ em 4
thƣờng uống rƣợu ở các nơi công cộng nhiều hơn là uống tại gia đình
(Trích lại từ Alcohol and adolescents, 2010).
Nghiên cứu của Victoria White và Jane Hayman, 2006 về “Sử
dụng đồ uống có cồn của học sinh trung học Úc vào năm 2005”.
Kết quả, tỷ lệ học sinh hiện đang uống rƣợu, bia trƣớc thời điểm
khảo sát tăng lên theo lứa tuổi với 10% ở tuổi 12 và tăng lên tới
49% ở độ tuổi 17. Cha mẹ là yếu tố có sự tác động phổ biến nhất
đến việc sử dụng rƣợu, bia của học sinh, với 37% nam giới và 38%
nữ giới cho thấy họ đã đƣợc cha mẹ họ cho uống rƣợu trong tuần
qua. Ba địa điểm mà giới trẻ thƣờng uống rƣợu là tại gia đình, tại
nhà của bạn bè hoặc tại các bữa tiệc.
Các kết quả khảo sát mới nhất của Anh cho thấy không có sự
khác biệt về giới tính trong việc sử dụng rƣợu, bia của giới trẻ và sự
tác động của bạn bè cũng nhƣ áp lực tự thân là một trong yếu tố
khiến giới trẻ tìm đến rƣợu, bia: nữ giới ngày nay đã “bắt kịp” nam
giới về việc tiếp cận và sử dụng rƣợu, bia. Ở Anh, dƣới 18 tuổi
không đƣợc phép mua rƣợu cho mình nhƣng 63% của những ngƣời
tuổi từ 16 – 17 và 10% ở độ tuổi 12 – 15 ngƣời đã say sƣa trong
năm qua nói rằng họ thƣờng mua rƣợu trong quán rƣợu, quầy bar
và câu lạc bộ đêm. Giới trẻ coi rƣợu nhƣ là một phƣơng tiện giao lƣu
xã hội với bạn bè (62%). Uống rƣợu để gia tăng sự tự tin cũng là một chỉ
báo quan trọng (www.ias.org.uk/resources/factsheets/adolescents.pdf).
Các chƣơng tình quảng cáo về rƣợu, bia trên các phƣơng tiện

hóa. Sử dụng rƣợu, bia khác nhau theo lứa tuổi và không có sự khác
biệt về giới trong việc sử dụng rƣợu, bia. Địa điểm mà giới trẻ sử
dụng rƣợu, bia là tại gia đình, tại nhà của bạn bè hoặc tại các bữa
tiệc. Cùng với gia đình thì yếu tố nhóm bạn, các chƣơng trình
quảng cáo về rƣợu, bia cũng có sự tác động nhất định đến hành vi
sử dụng rƣợu, bia của giới trẻ. 6
2.2 Các nghiên cứu của Việt Nam về rượu, bia
Ở Việt Nam các vấn đề về rƣợu, bia đã đƣợc nghiên cứu từ những
năm 90 của thập kỷ trƣớc. Các nghiên cứu chỉ ra rằng: tuổi lần đầu sử
dụng rƣợu, bia có sự chênh lệch với các nƣớc trong khu vực, nam giới sử
dụng, lạm dụng và nghiện rƣợu, bia nhiều hơn so với nữ giới, tỉ lệ đã từng
uống hết một cốc rƣợu, bia tăng theo độ tuổi.
Nghiên cứu tại phƣờng Trung Trực, Hà Nội năm 1994 với số
mẫu là 7.986 ngƣời từ 15 tuổi trở lên cho thấy nghiện rƣợu chỉ có ở
nam giới, với 1,9% nghiện rƣợu, bia và 50 – 60% tổng số ngƣời
nghiện rƣợu ở lứa tuổi 30 đến 50. Cuộc Điều tra Y tế quốc gia
(2001 – 2002), đã phát hiện 22,2% dân số trên 15 tuổi có uống rƣợu
bia từ một lần trở lên trong tuần, trong đó nam chiếm 46% và nữ
chiếm 2%; 77,9% dân số trên 10 tuổi đang dùng rƣợu, bia đã bắt
đầu uống trong độ tuổi 15 – 25. Nghiên cứu về các bệnh lý liên
quan đến rƣợu tại huyện Ba Vì khám lâm sàng trên 585 đối tƣợng từ
18 đến 60 tuổi năm 2003 cho thấy ở nam giới tỷ lệ nghiện rƣợu là 8%
trong khi đó tỷ lệ này ở nữ là 0% (Trích lại từ điều tra Y tế Việt Nam,
2006:101).
Năm 2006, đƣợc sự uỷ quyền của Dự án thành phần Chính
sách Y tế; Viện Chiến lƣợc và Chính sách Y tế, Bộ Y tế đã tiến
hành nghiên cứu đánh giá về “Tình hình lạm dụng rƣợu bia tại Việt

cũng không phải là cuộc nghiên cứu riêng về việc sử dụng rƣợu, bia
của thanh thiếu niên Hà Nội, vì vậy, vấn đề chƣa thể đi sâu và là
hạn chế nhất định với triển khai đề tài luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Nêu lên thực trạng sử dụng rƣợu, bia và làm rõ các nhân tố tác động
đến việc sử dụng rƣợu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội. Đồng thời chỉ ra
các hệ quả của việc sử dụng rƣợu, bia và xu hƣớng sử dụng rƣợu, bia 8
trong thanh thiếu niên Hà Nội. Những thông tin này sẽ bổ sung tƣ liệu cho
việc nhận định tình hình sử dụng rƣợu, bia trong thanh thiếu niên hiện
nay, góp phần định hƣớng cho thanh thiếu niên có lối sống lành mạnh
hơn.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Đề tài đặt ra 04 nhiệm vụ phải giải quyết là:
Thứ nhất là tổng quan về tình hình sử dụng rƣợu, bia của thanh
thiếu niên.
Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận và những khái niệm cơ bản có liên
quan. Vận dụng các cách tiếp cận nghiên cứu và khái niệm liên
quan vào lý giải và làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. Các cách tiếp
cận nghiên cứu: Cách tiếp cận xã hội hóa; cách tiếp cận tƣơng tác
biểu trƣng. Các khái niệm công cụ: Rƣợu, bia, lạm dụng rƣợu, bia,
vị thành niên và thanh thiếu niên.
Thứ ba là phân tích thực trạng sử dụng rƣợu, bia của thanh thiếu
niên Hà Nội.
Cuối cùng, phân tích các nhân tố tác động đến việc sử dụng rƣợu,
bia và chỉ ra những hệ quả của việc sử dụng rƣợu, bia cũng nhƣ xu
hƣớng sử dụng rƣợu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội.

trong đó có 06 trƣờng hợp thanh niên có nghề nghiệp khác nhau (03 nam,
03 nữ); 02 trƣờng hợp là phụ huynh; 02 trƣờng hợp là học sinh, sinh viên
về chủ đề liên quan đến hành vi sử dụng rƣợu, bia.
Kết quả nghiên cứu được trình bày theo 03 hình thức phân tích như
sau:
Thứ nhất: Phân tích mô tả (tần suất): cung cấp thông tin chung về
thực trạng sử dụng rƣợu, bia của thanh thiếu niên.
Thứ hai: Phân tích nhị biến (tƣơng quan hai chiều): Kiểm nghiệm
mối quan hệ giữa từng yếu tố (giới tính, tuổi, trình độ học vấn ) 10
đối với việc sử dụng rƣợu, bia của thanh thiếu niên. Kiểm định X
2

đƣợc sử dụng để xem xét mức độ mối quan hệ giữa các biến số.
Thứ ba: Nhằm xác định các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng
rƣợu, bia của thanh thiếu niên, vì vậy, trong luận văn còn sử dụng
phân tích hồi quy đa biến. Kiểm định thống kê X
2
đƣợc sử dụng để
xem xét mối quan hệ giữa các biến số đó có ý nghĩa về mặt thống
kê hay không.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Thực trạng sự dụng rƣợu, bia của thanh thiếu niên Hà Nội
5.2 Khách thể và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Thanh thiếu niên trong độ tuổi 15-24 tuổi
Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hà Nội trƣớc khi mở rộng
6. Giả thuyết nghiên cứu

Nội và một số khuyến nghị.
9. Hạn chế của đề tài
Do đặc điểm của đề tài là sử dụng số liệu có sẵn và đây là một
nghiên cứu chung về tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên và
thanh niên Hà Nội, không phải là cuộc nghiên cứu riêng về việc sử
dụng rƣợu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội nên luận văn chƣa đủ
các bằng chứng để giải thích một số vấn đề cần làm rõ trong đề tài.
Bên cạnh đó, do đây là một nghiên cứu cắt ngang nên khó xác định
đƣợc yếu tố nào xảy ra trƣớc, yếu tố nào xảy ra sau, trong khi đó
trong phần phân tích hồi quy lại tìm hiểu yếu tố nào xảy ra trƣớc,
yếu tố nào xảy ra sau, yếu tố nào tác động đến yếu tố nào nên kết
quả phân tích không đƣợc nhƣ mong đợi. 12
NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
VỀ SỬ DỤNG RƢỢU, BIA
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG RƢỢU, BIA
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
Sử dụng rƣợu, bia
Khái niệm sử dụng rượu bia trong nghiên cứu này đƣợc định
nghĩa là: Thanh thiếu niên đã có ít nhất 01 lần uống rƣợu, bia tính
đến thời điểm điều tra.
1.1.2 Lạm dụng rƣợu, bia
Lạm dụng rƣợu, bia đƣợc xác định theo quy chuẩn của Tổ
chức Y tế thế giới: Nam uống trên 3 đơn vị rƣợu/ngày (Một đơn vị

1.2 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận xã hội hóa
và cách tiếp cận tƣơng tác – biểu trƣng.
1.2.1 Cách tiếp cận xã hội hóa
Theo Neil Smelser: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá
nhân học cách thức hành động tƣơng ứng với vai trò của mình”.
Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa
chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn
mực. Chƣa đề đập tới khả năng cá nhân có thể tạo ra những giá trị,
kinh nghiệm, chuẩn mực để xã hội học theo. Nhƣ vậy, dƣờng nhƣ
cá tính của con ngƣời bị tan biến vào những đặc điểm xã hội mà cá
nhân tiếp thu đƣợc. Một nhà xã hội học khác của Mỹ Fichter đã
xem: “Xã hội hóa là một quá trình tƣơng tác giữa ngƣời này và
ngƣời khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành
động, và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”. Nhƣ vậy,
Fichter đã chú ý hơn tới tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã
hội hóa. (Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, 2001:258). 14
Định nghĩa của nhà khoa học ngƣời Nga G.Andreeva đã nêu
đƣợc cả hai mặt của quá trình xã hội hóa. Bà cho rằng: “Xã hội hóa
là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội
bằng cách thâm nhập vào môi trƣờng xã hội, vào hệ thống các quan
hệ xã hội. Mặc khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ
thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào
các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội. Nhƣ vậy,
mặt thứ nhất của quá trình xã hội hóa là sự thu nhận kinh nghiệm
xã hội thể hiện sự tác động của môi trƣờng tới con ngƣời. Mặt thứ
hai của quá trình này thể hiện sự tác động của con ngƣời trở lại môi

Tóm lại, Blumer nhấn mạnh rằng con ngƣời là những chủ thể tích
cực, hành động trên cơ sở những ý nghĩa mà họ gán cho vào tƣơng tác xã
hội của họ. Đây là quá trình xã hội trong đó đời sống nhóm, nó tạo ra và
xác nhận các quy tắc, chứ không phải các quy tắc tạo ra và xác nhận đời
sống nhóm. Theo những học giả của thuyết tƣơng tác biểu trƣng, trải
nghiệm cá nhân đƣợc bắt nguồn từ sự tƣơng tác đang tiến triển với những
ngƣời quan trọng khác và/hoặc những nhóm xã hội quan trọng. Sự tƣơng
tác này đƣợc hoạt động trung gian thông qua việc sử dụng những biểu
tƣợng cho phép con ngƣời hiểu, xây dựng và chia sẻ những sự trải nghiệm
của họ, bao gồm những hành động của họ trong xã hội. Một số đặc điểm
và tính chất của mối quan hệ giữa con ngƣời và xã hội đƣợc thuyết tƣơng
tác biểu trƣng xem xét trong phức thể các bộ phận chủ thể - khách thể, các
trải nghiệm, các hình ảnh về bản thân đƣợc hình thành dƣới tác động của
các yếu tố xã hội nhất định và bộc lộ trong những tình huống xã hội cụ thể
(Lê Ngọc Hùng, 2002:303). Nhƣ vậy, theo thuyết tƣơng tác biểu trƣng,
hành vi của một ngƣời sẽ bị ảnh hƣởng đáng kể bởi mối quan hệ tƣơng hỗ
với những ngƣời khác, đặc biệt những ngƣời trong nhóm phi chính thức.
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết tƣơng tác biểu trƣng vào phân tích thực
trạng sử dụng rƣợu, bia trong thanh thiếu niên nhằm tìm hiểu và lý giải 16
mối quan hệ giữa phần lớn bạn thân của thanh thiếu niên có sử dụng rƣợu,
bia với việc thanh thiếu niên có sử dụng rƣợu, bia, mối quan hệ giữa việc
thanh thiếu niên thấy cần thiết phải sử dụng rƣợu, bia để chứng tỏ mình
để hòa nhập với bạn bè với hành vi sử dụng rƣợu, bia của họ trên thực tế.
2. CÁC CHÍNH SÁCH VỀ PHÕNG CHỐNG RƢỢU, BIA
Nƣớc ta đã từng có thời kỳ cấm tƣ nhân nấu rƣợu, bán rƣợu
hoặc đã có chính sách hạn chế quảng cáo rƣợu bia, cấm lái xe khi
say rƣợu, cấm lực lƣợng vũ trang uống rƣợu, bia trong giờ làm

tham gia của ngƣời dân và thiếu sự đầu tƣ nguồn lực cũng nhƣ
thiếu kiểm tra giám sát thực hiện.
Hiện nay, Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế làm đầu mối xây
dựng dự án Luật Phòng, chống tác hại của lạm dụng rƣợu, bia.
Theo lộ trình, trong năm 2010, Bộ Y tế sẽ chủ trì xây dựng hoàn
thiện và trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt chính sách quốc gia
phòng chống tác hại của lạm dụng rƣợu, bia. Trong dự thảo đề
cƣơng Chính sách quốc gia phòng chống tác hại lạm dụng rƣợu, bia
giai đoạn 2010 - 2020, một trong những nội dung cơ bản là cấm
quảng cáo, khuyến mãi rƣợu, bia dƣới mọi hình thức. Nhà nƣớc sẽ
tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, quy định về thời gian và mật độ các
điểm bán lẻ rƣợu, bia, cấm trẻ em dƣới 18 tuổi và phụ nữ mang thai
sử dụng rƣợu, bia… Với sự ra đời của Luật Phòng, chống tác hại
của lạm dụng rƣợu, bia cũng nhƣ Chính sách quốc gia về phòng
chống tác hại lạm dụng rƣợu, bia.
Tóm lại, chƣơng 1 đã cung cấp những luận cứ khoa học quan
trọng cho việc xây dựng phƣơng pháp phân tích việc sử dụng rƣợu,
bia trong thanh thiếu niên Hà Nội.

18
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG RƢỢU, BIA TRONG THANH THIẾU
NIÊN HÀ NỘI
2.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƢỢU, BIA TRONG THANH
THIẾU NIÊN HÀ NỘI
* Mối tương quan giữa việc đã từng sử dụng rượu, bia của thanh thiếu
niên với giới tính và khu vực cư trú

thanh thiếu niên đã từng sử dụng rƣợu, bia 45,5% và nhóm thanh
thiếu niên có học lực trung bình thì tỷ lệ đã từng sử dụng rƣợu, bia
là 57,1%. Tỷ lệ những thanh thiếu niên đã từng sử dụng rƣợu, bia
của nhóm thanh thiếu niên đã từng bị ghi sổ học bạ vì hành vi ứng
xử kém cao gấp 1,5 lần so với nhóm thanh thiếu niên không bị ghi
sổ học bạ vì hành vi ứng xử .
* Mối tương quan giữa tần suất sử dụng rượu, bia trong tháng của
thanh thiếu niên với giới tính
Uống rƣợu, bia 1-2 ngày/tháng nam thanh thiếu niên chiếm
38,4%, nữ chiếm 34,4%. 20,9% nam thanh thiếu niên có tần suất
uống rƣợu, bia từ 3-5 ngày/tháng cao hơn 04 lần so với tỷ lệ nữ
thanh thiếu niên sử dụng rƣợu, bia từ 3-5 ngày/tháng. Tỷ lệ nam
thanh thiếu niên sử dụng rƣợu, bia từ 6 ngày trở lên là 16,3% trong
khi đó tỷ lệ nữ thanh thiếu niên sử dụng rƣợu, bia từ 6 ngày trở lên
là 2,3%.
* Mối tương quan giữa tần suất sử dụng rượu, bia trong tháng của
thanh thiếu niên với nhóm tuổi
Tần suất sử dụng rƣợu, bia có mối quan hệ thuận chiều với độ
tuổi. Nhóm thanh thiếu niên trong độ tuổi 22-24 và độ tuổi 18-21 là
nhóm có tần suất sử dụng rƣợu, bia cao hơn nhóm còn lại.
* Mối tương quan giữa việc say rượu, bia trong tháng của thanh
thiếu niên với giới tính và lứa tuổi 20
Trong số những thanh thiếu niên đã từng uống rƣợu, bia có
13,5% nam và 1% nữ đã say rƣợu, bia trong tháng, tỷ lệ nam thanh
thiếu niên đã say rƣợu bia trong tháng hơn 12,5 điểm phần trăm so
với tỷ lệ thanh thiếu niên.
Tỷ lệ thanh thiếu niên đã say rƣợu bia trong tháng tăng dần

* Ảnh hưởng của nhóm bạn đến hành vi sử dụng rượu, bia của thanh
thiếu niên
Nhóm nam thanh thiếu niên có bạn thân sử dụng rƣợu, bia cao
hơn 25,7% so với nhóm thanh thiếu niên nữ. Nhƣ vậy, so với nhóm
nữ thanh thiếu niên thì nhóm nam thanh thiếu niên có nguy cơ cao
trong khả năng tiếp cận rƣợu, bia khi bị ảnh hƣởng của bạn bè.
* Ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đại chúng đến hành vi
sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên
Kết quả cho ta thấy, những thanh thiếu niên trong 6 tháng qua
có theo dõi tin tức qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng thì
khả năng đã từng sử dụng rƣợu, bia cao hơn 18,9 điểm phần trăm
so với những thanh thiếu niên không theo dõi tin tức trên các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng trong vòng 6 tháng qua (tính
đến thời điểm khảo sát).
2.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG
RƢỢU, BIA TRONG THANH THIẾU NIÊN HÀ NỘI
Phân tích thực trạng và các nhân tố tác động đến việc sử dụng
rƣợu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội cho thấy:
Tuổi trung bình lần đầu sử dụng rƣợu, bia của thanh thiếu niên
là 18 tuổi. Có sự khác biệt về giới trong khả năng sử dụng rƣợu, bia
của thanh thiếu niên. Tần suất sử dụng rƣợu, bia trong tháng cũng
nhƣ tần suất say rƣợu, bia của nam thanh thiếu niên đều cao hơn so
với nữ giới. Có mối quan hệ thuận chiều giữa việc sử dụng và say
rƣợu, bia của thanh thiếu niên với độ tuổi của thanh thiếu niên. 22
Chƣơng 3: HỆ QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG RƢỢU, BIA VÀ XU
HƢỚNG SỬ DỤNG RƢỢU, BIA TRONG THANH THIẾU NIÊN
HÀ NỘI

lo ngại. Khi say rƣợu, bia họ sẽ không làm chủ đƣợc tốc độ, họ có
nguy cơ cao gây ra tai nạn giao thông.
3.2. XU HƢỚNG SỬ DỤNG RƢỢU, BIA TRONG THANH
THIẾU NIÊN HÀ NỘI
Với phong tục uống rƣợu trong những ngày lễ tết vào những dịp vui,
buồn đã tồn tại từ lâu đời trong đời sống của ngƣời dân và thực trạng về
tình hình sản xuất rƣợu, bia ngày càng tăng, cửa hàng, quán bán rƣợu, bia
đƣợc mọc lên ở khắp nơi, những chính sách về rƣợu, bia của nƣớc ta chƣa
có những chế tài nghiêm để xử lý và kiểm soát tình hình sản xuất, lƣu
thông quảng bá và sử dụng rƣợu, bia hiện nay. Điều đó, đã khiến cho việc
tiếp cận rƣợu, bia của ngƣời dân nói chung, của thanh thiếu niên nói riêng
trở nên dễ dàng hơn. Và, đó cũng chính là những điều kiện thuận lợi giúp
cho xu hƣớng sử dụng rƣợu, bia trong thanh thiếu niên trong thời gian tới
gia tăng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status