NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG - Pdf 67

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
1.1 Khái niệm và một số loại hình Ngân Hàng:
1.1.1 Khái niệm:
Ngân hàng thương mại là một doanh ngiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh tiền
tệ, tín dụng.
Ở các nước khác nhau, quan niệm về NHTM cũng có một số điểm khác nhau.
Tuy nhiên, điểm chung là đều coi NHTM là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh
tiền tệ và cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế thị trường. Ở Việt Nam,
theo pháp lệnh “Ngân Hàng, hợp tác xã tín dụng và công ti tài chính ban hành
tháng 5 năm 1990” đã ghi: “Ngân Hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, làm phương tiện thanh toán”.
“Luật tổ chức tín dụng” được Quốc hội thông qua tháng 12 năm 1997 xác định”
Ngân Hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động Ngân Hàng
và các hoạt động kinh doanh có liên quan”, trong đó “ hoạt động Ngân Hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân Hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”.
1.1.2 Một số loại hình Ngân Hàng ở nước ta:
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, Ngân Hàng gồm có các loại hình sau:
- Ngân Hàng thương mại:(còn gọi là Ngân Hàng tiền gửi hay Ngân Hàng tín dụng
với nghiệp vụ truyền thống là huy động vốn phần lớn dưới hình thức ngắn hạn và
cho vay ngắn hạn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Tuy nhiên do thị trường
ngày càng phát triển, dần dần các Ngân Hàng này đi vào kinh doanh tổng hợp, làm
cả nghiệp vụ huy động vốn và cho vay trung, dài hạn và làm như tất cả các nghiệp
vụ, dịch vụ Ngân Hàng.
- Ngân Hàng phát triển: Nét đặc trưng nổi bật là những Ngân Hàng tập trung
huy động vốn trung, dài hạn vì sự phát triển (không chỉ duy trì qui mô, chất
lượng cũ). Hoạt động của các Ngân Hàng này chủ yếu qua đầu tư trực tiếp
các dự án lớn.

Ngân Hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư. Trong khi thực hiện chức năng
trung gian tài chính, Ngân Hàng thu hút những khoản tiết kiệm trong dân cư để đáp
ứng nhu cầu về vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng năng lực
hoạt động. Hoạt động của Ngân Hàng có hiệu quả sẽ kích thích giảm bớt nhu cầu
cao cấp, dành tiền cho việc đầu tư góp phần tài trợ cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Ngân Hàng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nâng cao sử dụng các nguồn tài
nguyên, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc luân chuyển vốn và sự di chuyển
vốn từ lĩnh vực kinh doanh kém hiệu quả sang lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả.
Bởi vì việc huy động vốn và sử dụng vốn trên thị trường tài chính diễn ra trên cơ
sở quan hệ cung cầu và khi sử dụng bất kì nguồn vốn nào cũng đều phải trả giá
nhất định. Điều đó buộc người cần vốn phải lựa chọn các phương án kinh doanh tối
ưu, lựa chọn hình thức và thời điểm thích hợp để giảm chi phí.
Với chức năng làm trung gian thanh toán, Ngân Hàng đã rút ngắn tốc độ lưu
thông hàng hóa tiền tệ. Hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm thời
gian và chi phí thanh toán. Thêm vào đó, các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội được
Ngân Hàng huy động và đầu tư trở lại sản xuất kinh doanh, qua đó đẩy nhanh tốc
độ lưu chuyển hàng hóa tiền tệ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển.
Ngân Hàng góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên
tục, không bị đứt quãng thông qua việc cung cấp vốn đầu tư. Do tính biến động
thường xuyên của nhu cầu vốn trong kinh doanh, tại một thời điểm luôn luôn tồn
tại những doanh nghiệp cá nhân có vốn nhàn rỗi. Ngân Hàng đóng vai trò là cầu
nối, thu hút vốn đầu tư từ những nơi thừa vốn chuyển sang những nơi thiếu vốn, từ
đó đảm bảo cho quá trình sản xuất, kinh doanh diễn ra liên tục.
Ngân Hàng góp phần thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước, điều
tiết và kiểm soát hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn, điều hòa hoạt
động kinh tế xã hội. Chẳng hạn, Nhà nước có thể thay đổi tiền gửi dự trữ bắt buộc
đối với các Ngân Hàng để thay đổi lượng cung tiền, thực hiện điều hòa lưu thông
tiền tệ.
1.2.2 Chức năng:
*Chức năng trung gian tài chính:

của các NHTM trong mối quan hệ với NHNN qua vấn đề DTBB. Khi NHTM cấp
vốn tín dụng cho khách hàng A, lập tức số tiền này có thể chuyển thành tiền gửi
của khách hàng B (mở tại một Ngân Hàng bất kì) NHTM lại dùng nguồn vốn này
cho các đối tượng khác vay. Như vậy, từ một đồng vốn kí thác ban đầu, hệ thống
NHTM có thể tạo ra một số vốn tín dụng lớn hơn nhiều lần đẻ ra bội số tín dụng.
Đây chính là khả năng tạo tiền của NHTM, để kiểm soát khả năng này, luật pháp
cho phép NHNN được quyền, buộc các NHTM phải kí gửi tại NHNN một phần
của tổng số tiền họ nhận được từ những khách hàng gửi tiền gọi là dự trữ bắt buộc.
Theo thuyết tạo tiền: khi một khối lượng tiền gửi tăng lên, khả năng cho vay
của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ tăng lên nhiều lần. Ngược lại khi bớt đi một lượng
tiền gửi khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ giảm đi nhiều lần. Cụ
thể:

Khả năng mở rộng = Số tiền gửi huy động * Hệ số nhân
tiền gửi của Ngân Hàng ban đầu mở rộng tiền tệ

1
Hệ số nhân mở rộng tiền tệ = -------------------------
Tỉ lệ DTBB
Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên qua chặt chẽ tới chính sách tiền
tệ của NHNN. Thông qua hệ thống NHTM, NHNN có thể tăng hoặc giảm lượng
tiền cung ứng bằng cách thay đổi tỉ lệ DTBB.
* Chức năng khác:
Ngoài các chức năng chủ yếu như trên, NHTM còn tham gia vào nhiều dịch vụ
khác: Tư vấn cho khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, dịch vụ ủy
thác, dịch vụ bảo quản an toàn các tài sản có giá, dịch vụ kinh doanh ngoại hối ...
nhằm hỗ trợ và mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trong thị trường tài
chính.
1.2.3 Hoạt động cơ bản của Ngân Hàng:
Có thể khái lược hoạt động Ngân Hàng theo ba loại nghiệp vụ chính: nghiệp vụ

lợi nhuận cho mình.
Các hoạt động của Ngân Hàng có quan hệ tác động tới nhau vì vậy Ngân Hàng
phải thực hiện đồng bộ thống nhất tất cả các khâu có như vậy mới đáp ứng được
nhu cầu phát triển của nền kinh tế và của mỗi Ngân Hàng.
2. VỐN, CÔNG TÁC QUẢN LÍ VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
2.1 Cơ cấu vốn và các hình thức huy động vốn của Ngân Hàng:
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân Hàng muốn hoạt động được
trước hết phải có vốn. Nhưng Ngân Hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh
“tiền tệ” do đó, nhu cầu về vốn của NHTM là rất lớn và việc tao vốn cho Ngân
Hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh Ngân Hàng.
Vốn kinh doanh của các Ngân Hàng thương mại là biểu hiện bằng tiền toàn bộ
các tài sản có của Ngân Hàng. Vốn kinh doanh của NHTM được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau là vốn tự có, vốn huy động, các loại vốn khác.
2.1.1 Vốn tự có:
Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn do các chủ sở hữu đóng góp và được tạo ra
trong quá trình kinh doanh được thể hiện ở dạng lợi nhuận giữ lại. Vốn tự có gồm:
Vốn điều lệ, các quĩ dự trữ, các tài sản nợ khác.
Vốn là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động Ngân Hàng. Qui mô
vốn tự có là yếu tố quyết định qui mô vốn huy động và qui mô các hoạt động. Vốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status