Việt hóa" các chương trình thiếu nhi trên kênh truyền hình HTV3 : Luận văn ThS. Truyền thông đại chúng: 60 32 01" - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
__________________________________________________________________________

NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN

“VIỆT HÓA” CÁC CHƯƠNG TRÌNH THIẾU NHI
TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH HTV3

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
__________________________________________________________________________

NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN

“VIỆT HÓA” CÁC CHƯƠNG TRÌNH THIẾU NHI
TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH HTV3

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01

Người hướng dẫn khoa học: TS.Trần Ngọc Châu


Chương 2
KHẢO SÁT NỘI DUNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH “VIỆT HÓA”
DÀNH CHO THIẾU NHI TRÊN KÊNH HTV3
2.1. Tổng quan về kênh HTV3........................................................................................................... 44
2.1.1. Giới thiệu Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV).................................................. 44
2.1.2. Các thể loại chương trình chính trên kênh HTV3 ................................................................ 45

Trang 5


2.1.3. Hợp tác giữa HTV và TVM để phát triển chương trình trên kênh HTV3 ............................. 46
2.2. Các hình thức “Việt hóa” chương trình truyền hình ................................................................. 50
2.2.1.Các chương trình “Việt hóa” đơn giản................................................................................. 50
2.2.2. Các chương trình “Việt hoá” một phần............................................................................... 65
2.2.3.Các chương trình “Việt hoá” toàn phần............................................................................... 74
2.3. Tiểu kết ....................................................................................................................................... 81

Chương 3
ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH “VIỆT HÓA”
DÀNH CHO THIẾU NHI TRÊN KÊNH HTV3
3.1. Đề xuất nâng cao chất lượng chương trình ................................................................................ 85
3.1.1. Xây dựng chiến lược phát triển kênh trên quan điểm hội nhập quốc tế ............................ 85
3.1.2. Tiếp nhận văn hoá có chọn lọc ............................................................................................ 88
3.1.3. Định hướng phát triển chương trình theo hướng giáo dục kết hợp giải trí ....................... 89
3.1.4. Đa dạng hóa nội dung ......................................................................................................... 90
3.1.5. Tăng cường đào tạo đội ngũ sản xuất chương trình .......................................................... 92
3.1.6. Nghiên cứu điều chỉnh lịch phát sóng phù hợp với công chúng thiếu nhi .......................... 93
3.1.7. Xây dựng và áp dụng định dạng về phong cách ngôn ngữ phù hợp với công chúng mục
tiêu ...................................................................................................................................... 96
3.1.8. Tổ chức nghiên cứu đối thủ để học hỏi và cạnh tranh ........................................................ 97

Bản, Mỹ… nhằm tạo thêm nhiều sự lựa chọn, nhiều sản phẩm tinh thần đáp
ứng nhu cầu thưởng thức của trẻ em Việt Nam. HTV cũng như nhiều đơn vị
sản xuất chương trình truyền hình khác đã chọn lựa, nhập khẩu nhiều chương
trình truyền hình hay, nổi tiếng với đủ các thể loại: phim hoạt hình (Đôrêmon–
Chú mèo máy đến từ tương lai, Ben 10, Thám tử lừng danh Conan, Thủ lĩnh
thẻ bài,…), trò chơi truyền hình, Phim truyền hình (Tuổi ô mai, Tây du ký,
Cẩm nang của Ned,…), phim điện ảnh (Kỷ băng hà, Mèo siêu quậy Garfield,
Garfield ở thế giới thực, Horton và thế giới tí hon, Barbie – Công chúa thiên

Trang 7


nga,…) các chương trình giải trí dành cho thiếu nhi (Vui cùng Giggles, Các
em bé Teletubbies, Vũ điệu hồn nhiên, Yoga cho bé, Học làm giàu, Giới trẻ
vào bếp,…), chương trình giải trí truyền hình thực tế (Con đã lớn khôn)… Các
chương trình được chọn mang tính giải trí lành mạnh, có đặc điểm, màu sắc
văn hóa phù hợp với Việt Nam. Hơn nữa, vì là những sản phẩm hướng tới đối
tượng khán giả nhỏ tuổi nên quá trình “Việt hóa” được thực hiện rất cẩn trọng
về ngôn từ và được biên tập một cách kỹ lưỡng, đảm bảo về mặt nội dung
mang tính giáo dục cũng như giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt, đồng
thời giúp trẻ em dễ tiếp thu, phù hợp với khả năng nắm bắt và thấu hiểu của
trẻ em.
Chính vì vậy, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu cách chọn chương trình, xử
lý chuyển đổi ngôn ngữ gốc sang tiếng Việt một số chương trình nước ngoài
(đa số đã được quốc tế hoá sang tiếng Anh) dành cho thiếu nhi càng cần thiết
hơn. Được sự đồng ý của cán bộ hướng dẫn là Tiến sĩ Trần Ngọc Châu, người
viết đã thống nhất chọn đề tài “Việt hóa các chƣơng trình thiếu nhi trên
kênh truyền hình HTV3” để tìm hiểu, phân tích về sự hấp dẫn cũng như tác
động của các chương trình dành cho đối tượng khán giả là thiếu nhi. Trước
khi quyết định thực hiện đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu tài liệu lưu trữ về những

quốc tế vào Việt Nam và sự thể hiện trên mặt báo của tin quốc tế, Khoa báo
chí, Đại học tổng hợp Hà Nội, 1995; Trần Long Hải, Dịch tin – Tin dịch,
Khoa Báo chí, Đại học tổng hợp Hà Nội, 1996; Mai Thị Thanh Hà, Vấn đề thể
hiện tin quốc tế bằng tiếng Việt trên Đài truyền hình Việt nam, Khoa Báo chí,
Đại học KHXH và NV, 1998; Cai Ánh Nguyệt, Vấn đề biên tập tin quốc tế
tiếng Việt ở Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, Khoa Báo chí, Đại học
KHXH và NV, 1998; Nguyễn Phương Anh, Sự tương đồng và khác biệt giữa
ngôn ngữ tin quốc tế và ngôn ngữ tin trong nước, Khoa Báo chí, Đại học
KHXH và NV, 2000; Nguyễn Thị Thu Hường, Chuyển dịch tin quốc tế và sự

Trang 9


thể hiện tin quốc tế bằng tiếng Việt trên báo Nhân Dân, Khoa Báo chí, Đại
học KHXH và NV, 2000.
Những công trình nói trên tuy đã nói đến quá trình “Việt hóa” nhưng
vẫn xem xét trên phương diện “Việt hóa” tin tức. Phải chờ đến khóa luận tốt
nghiệp của Nguyễn Thị Thanh Hằng thực hiện vào năm 2011 đề tài Cách xử
lý Tạp chí Công chúa sang tiếng Việt từ bản gốc tiếng Anh Princess, Khóa
luận tốt nghiệp ngành báo chí, Đại học KHXH&NV Hà Nội, do PGS. TS. Vũ
Quang Hào hướng dẫn, một loại sản phẩm báo chí khác ngoài tin mới được
nghiên cứu xem cách thức chuyển dịch và “Việt hóa” như thế nào để phù hợp
với đối tượng công chúng Việt Nam. Tuy nhiên đây là đề tài về “Việt hoá”
trên báo in, tác giả đã đưa ra được một số kết luận về nội dung, cách trình bày
cũng như mức độ, thể loại bài được “Việt hoá” sao cho phù hợp với độc giả là
thiếu nhi ở Việt Nam.
Tuy nhiên vấn đề mà Thanh Hằng nghiên cứu ở đây vẫn là sản phẩm
báo in. Về sản phẩm truyền hình (ngoài tin quốc tế bằng hình) hiện chưa có
công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Luận văn của chứng tôi là tài liệu đầu
tiên xem xét vấn đề “Việt hóa” sản phẩm truyền hình từ nước ngoài vào Việt

Trên cơ sở đó, tác giả chọn khảo sát, phân tích, đánh giá 5 chương trình
thiếu nhi mua bản quyền nước ngoài đã được “Việt hoá” ở nhiều thể loại, hình
thức thể hiện khác nhau đã phát sóng trên kênh HTV3: 1. Hoạt cảnh:
Teletubbies – Các em bé rối Teletubbies, 2. Phim hoạt hình: Đôrêmon – Chú
mèo máy đến từ tương lai, 3. Chương trình giải trí: Yoga cho trẻ em, 4. Giáo
dục: Dạy từ vựng tiếng Anh, 5. Truyền hình thực tế (Reality): Con đã lớn
khôn.
Sau khi khảo sát, tác giả tiến hành đánh giá chất lượng, hiệu ứng của
từng chương trình đối với khán giả trẻ em, đặc biệt là ý kiến của phụ huynh

Trang 11


(có thể là ông bà, cha mẹ, những người cùng xem (co-watchers) với con,
cháu…) về những chương trình “Việt hóa” này.
Trên cơ sở thực tiễn đó tác giả đưa ra một số đề xuất về cách chọn và tổ
chức sản xuất “Việt hóa” và giờ phát sóng các chương trình nước ngoài trên
kênh HTV3 cho phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi. Sau cùng là một vài kiến nghị
để các chương trình “Việt hoá” có thể kết hợp hài hòa giữa tính giáo dục và
tính giải trí, kết hợp giữa sự bảo tồn văn hóa dân tộc về bản sắc với sự hội
nhập quốc tế một cách uyển chuyển, phù hợp với đối tượng thiếu nhi Việt
Nam.
0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề “Việt hoá” các chương
trình truyền hình nước ngoài trên một một nhóm sản phẩm truyền hình dành
cho nhóm công chúng đặc thù là thiếu nhi phát sóng trên kênh HTV3 của Đài
Truyền hình TP.HCM.
Với điều kiện nghiên cứu giới hạn, trong hàng trăm chương trình nước
ngoài đã được “Việt hóa” và phát sóng mới trên kênh HTV3 từ năm 2010 đến
6/2012, chúng tôi chỉ chọn khảo sát chính 5 chương trình nhận được nhiều sự

truyền thông đối với trẻ em. Luận văn vận dụng những nghiên cứu thực tế các
chương trình truyền hình “Việt hoá” dành cho thiếu nhi phát sóng trên kênh
HTV3.
Để việc nghiên cứu đề tài có cơ sở và phương pháp luận vững chắc,
luận văn sử dụng 3 phương pháp chủ đạo:
- Phương pháp thống kê (định lượng)
- Phương pháp phỏng vấn. Tác giả đã thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi
(an-ket, diary) đối với các em thiếu nhi, phụ huynh và phỏng vấn sâu các
chuyên gia, các nhà quản lý, những người trực tiếp thực hiện chương trình…

Trang 13


- Phương pháp phân tích (đối chiếu, so sánh; định tính)
0.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Thành công và cũng là kết quả nghiên cứu mới của tác giả chính là ở
chỗ đã tìm ra một số quá trình riêng của HTV3 trong việc “Việt hoá” chương
trình truyền hình cho thiếu nhi, kết hợp hài hòa giữa tính giáo dục và tính giải
trí, kết hợp giữa sự bảo tồn văn hóa dân tộc về bản sắc, với sự hội nhập quốc
tế một cách uyển chuyển, phù hợp với đối tượng thiếu nhi. Và không chỉ với
đối tượng thiếu nhi ở thành phố Hồ Chí Minh mà theo tôi nghĩ còn có thể áp
dụng cho thiếu nhi ở thủ đô Hà Nội và một số thành phố khác. Nhận thấy đây
là một đề tài hay và là vấn đề được nhiều người quan tâm, người viết hy vọng
việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần cho sự tìm hiểu, nghiên cứu về công tác
truyền bá thông tin mà đối tượng nghiên cứu là chương trình nước ngoài đã
được “Việt hóa” trên kênh HTV3. Sau khi nghiên cứu, khảo sát, chúng tôi sẽ
tiến hành đánh giá chất lượng, hiệu ứng đối với khán giả, đặc biệt là phụ
huynh đối với những chương trình nước ngoài dành cho thiếu nhi Việt Nam
hiện nay.
Qua những ưu khuyết điểm của từng chương trình truyền hình được

chức “Việt hoá” các chương trình truyền hình thiếu nhi trên kênh HTV3 của
Đài Truyền hình TP.HCM. Cụ thể, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát 5
chương trình truyền hình có mức độ “Việt hoá” khác nhau.
Trên cơ sở lý thuyết ở chương 1 và kết quả khảo sát ở chương 2, chương
3 của luận văn trình bày các ý kiến đề xuất và kiến nghị nâng cao chất lượng
các “Việt hoá” các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi trên kênh
HTV3.

Trang 15


Chương 1

“VIỆT HÓA” CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO
THIẾU NHI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
1.1. Vấn đề “Việt hóa” chương trình truyền hình
1.1.1. Khái niệm “Việt hóa”
“Việt hóa” thật ra là cách nói thông dụng để chỉ quá trình điều chỉnh,
biến đổi một đối tượng có nguồn gốc nước ngoài sao cho phù hợp với môi
trường ngôn ngữ, xã hội, văn hóa Việt Nam. Quá trình này, trước hết, có liên
quan đến hiện tượng bản địa hóa ngôn ngữ (language localization).
Theo Wikipedia, bản địa hóa ngôn ngữ là giai đoạn tiếp theo của một
quá trình lớn hơn diễn ra trước đó (quá trình quốc tế hóa), bao gồm việc dịch
sản phẩm và giúp sản phẩm đó thích ứng văn hóa (đối với quốc gia, khu vực,
hoặc nhóm cụ thể) cho thị trường riêng biệt. Bản địa hóa ngôn ngữ không chỉ
là một hoạt động dịch thuật thuần túy, mà nó liên quan đến việc nghiên cứu
toàn diện về nền văn hóa bản địa để giúp sản phẩm thích ứng một cách chính
xác với nhu cầu địa phương”.
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam nhận diện hiện tượng “Việt hóa”
dưới góc độ giao lưu ngôn ngữ, xem đó là mức độ cao nhất (kết quả cuối

truyện, phim hoạt hình, các chương trình giải trí, truyền hình thực tế,…
Những chương trình truyền hình này thường được thiết kế và sản xuất với
mức độ chuyên nghiệp rất cao và với sự đầu tư công phu về công nghệ tổ
chức, sản xuất. Đây cũng là những chương trình đã giành được sự thành công
trên thị trường truyền hình ở các nước, thu hút được người xem truyền hình
với tỷ lệ theo dõi rất cao. Việc mua bản quyền và nhập khẩu các chương trình
truyền hình nước ngoài có những khía cạnh hấp dẫn về nội dung văn hóa lẫn
về phương diện tài chính đối với các đài truyền hình trong nước vốn chưa theo
kịp trình độ sản xuất truyền hình so với các nước phát triển.

Trang 17


Tuy nhiên, những chương trình “Việt hóa” phải lệ thuộc nhiều vào định
dạng chương trình nên đôi khi những người thực hiện gặp khó khăn trong việc
xử lý sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam với những nền văn hóa khác trên
thế giới. Điều chỉnh chương trình để phù hợp với văn hóa Việt Nam nhưng
vẫn giữ được khung thiết kế (format) của chương trình là một thử thách lớn
đối với người tham gia sản xuất chương trình truyền hình dạng này, vì chắc
chắn những ràng buộc trong cam kết bản quyền với đối tác nước ngoài sẽ
không cho phép có những thay đổi tùy tiện làm biến dạng format chương
trình.
Thông số đầu vào quan trọng cho quá trình cải biến này chắc chắn là
các vấn đề liên quan đến xu thế toàn cầu hóa văn hóa hiện nay – một xu thế
đang hậu thuẫn cho sự phát triển xuyên biên giới của nhiều giá trị văn hóa địa
phương, đưa những giá trị ấy đến nhiều vùng đất mới và nhờ đó mà được biết
đến, được chia sẻ. Các sản phẩm truyền hình cũng không nằm ngoài xu thế
đó. Tuy nhiên, cũng nên nhất trí đôi điều về quan điểm toàn cầu hóa văn hóa
trong bối cảnh hiện nay.
Văn hóa là một thực tế cực kỳ đa dạng của đời sống nhân loại. Bức

hóa không có nghĩa là xóa bỏ văn hóa dân tộc để tiếp thu một nền văn hóa
khác có tính chất "mẫu mực" cho toàn thế giới. Thực ra, không thể có một nền
văn hóa mẫu mực như vậy. Trái lại, toàn cầu hóa là sự mở rộng biên giới văn
hóa từ phạm vi địa phương, dân tộc, quốc gia ra phạm vi toàn thế giới. Toàn
cầu hóa tạo điều kiện giới thiệu những thành tựu, những nét độc đáo của văn
hóa dân tộc, xuất khẩu những sản phẩm văn hóa của dân tộc này cho các dân
tộc khác, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân
tộc khác để làm giàu, làm phong phú nền văn hóa dân tộc mình.
Kết quả của toàn cầu hóa văn hóa là, một mặt, duy trì, củng cố, hiện đại
hóa văn hóa dân tộc, phát huy bản sắc của văn hóa dân tộc, mặt khác, tiếp thu
tất cả những gì quý giá, tiên tiến, hiện đại của các dân tộc khác để làm giàu
cho nền văn hóa của dân tộc mình.
Trang 19


Và cũng trong kịch bản mới mẻ ấy của văn hóa nhân loại, vấn đề giữ
gìn và bảo vệ các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc cũng được đặt ra như một
thách thức to lớn. Những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của một dân tộc
được bảo vệ và tôn vinh không chỉ vì lợi ích của dân tộc đó, mà còn vì lợi ích
của cả nhân loại. Bằng chứng là không ít người, kể cả những nhà chính trị,
khoa học, văn hóa... từ các dân tộc văn minh đã rất quan tâm tìm hiểu, nghiên
cứu, thưởng thức những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc khác, kể
cả những dân tộc lạc hậu hơn dân tộc mình. Một thế giới đa dạng về văn hóa
mới thực sự là môi trường sống lý tưởng, tốt đẹp của nhân loại.
Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Đảng) đã nêu rõ: “Xây dựng nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất
trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm
cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở
thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát

kênh phát sóng, nguồn tài chính, nơi có thể phát sóng chương trình…
Sau khi đã hoàn tất thủ tục mua bản quyền chương trình thì phần chuyển
ngữ, biên tập lại nội dung chương trình đóng vai trò quan trọng không kém.
Đội ngũ biên dịch, biên tập viên chịu trách nhiệm thực hiện phần hậu kỳ của
chương trình phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền hình, nắm bắt được
ngôn ngữ truyền hình và đặc biệt là ngôn ngữ phù hợp với trẻ em – đối tượng
chính của kênh.
“Việt hóa” chương trình nước ngoài dễ dàng bộc lộ những yếu kém về
tay nghề, kém chuyên nghiệp cũng như những hạn chế về công nghệ sản xuất
và đôi khi không mang lại hiệu quả cũng như tác động xã hội như mong
muốn. Đặc biệt là khán giả cũng như giới chuyên môn thường trông đợi rất
nhiều với những chương trình đã và đang nổi tiếng, được nhiều người trên thế
giới quan tâm, theo dõi. Đội ngũ thực hiện đôi khi bị hạn chế về khả năng

Trang 21


sáng tạo, khả năng diễn đạt ý tưởng cũng như khả năng thao tác kỹ thuật, kỹ
xảo sao cho phù hợp với phong cách và nội dung của chương trình.
Vì vậy, chương trình được chọn để “Việt hóa” thường là chương trình
giải trí, có đặc điểm, văn hóa phù hợp với Việt Nam. Và “Việt hóa” cái gì?
“Việt hóa” như thế nào? Việc này sẽ được quyết định dựa trên nội dung của
chương trình, sự quan tâm của xã hội (độ hot – sức hấp dẫn của chương trình
gốc) ở từng thời điểm. Việc này nhằm giúp khán giả có thể hiểu trọn vẹn ý tứ
của những người thực hiện cũng như tạo thêm sự hấp dẫn của chương trình.
Hiện nay có 3 cấp độ “Việt hóa” đang được thực hiện đối với các chương
trình mua bản quyền nước ngoài tại HTV, người viết tạm gọi là: “Việt hóa”
đơn giản, “Việt hóa” một phần và “Việt hóa” toàn phần.
Về xử lý kỹ thuật, các tệp (tập tin) chương triǹ h cầ n “Viê ̣t hóa” sẽ được
tách riêng thành tệp video (hình ảnh) và audio (âm thanh). Đồng thời được ta ̣o

chuẩn phát sóng của file đã được lên lịch phát sóng. Mô ̣t chương triǹ h đươ ̣c
đánh giá là đa ̣t sẽ đươ ̣c chuyể n từ hê ̣ thố ng lưu trữ NAS

(Network attached

storage) vào server (máy chủ) phát sóng để sẵn sàng phát sóng theo lịch phát
sóng.

Hình 1: Sơ đồ tổng quát mô tả nguyên lý hoạt động của
trung tâm sản xuất chương trình truyền hình số

1.1.4. Các mức độ “Việt hoá”
a)“Việt hóa” đơn giản
“Việt hóa” ở cấp độ đơn giản nhất là dịch từ ngôn ngữ gốc của chương
trình nước ngoài sang tiếng Việt (bao gồm các hình thức thể hiện: thuyết
minh, lồng tiếng, phụ đề). Vì là mức độ đơn giản nhất nên các chương trình
được “Việt hóa” ở cấp độ này cũng bộc lộ một số hạn chế về diễn đạt ý nghĩa,
về ngôn từ. Đơn giản hơn có thể nói là dịch thuật thuần túy, dịch nguyên bản,
chuyển ngữ trực tiếp từ tác phẩm gốc sang tiếng Việt. Nội dung các chương
Trang 23


trình này thường là được giữ nguyên bản gốc, trừ một số hình ảnh nhạy cảm
quá hay không phù hợp để phát sóng ở Việt Nam thì mới cần phải biên tập,
cắt bỏ hoặc dựng lại.
Những chương trình như phim truyện, phim hoạt hình, phim khoa học…
thường sẽ được thực hiện theo dạng này, “Việt hóa” đơn giản. “Việt hoá” cấp
độ này đòi hỏi người dịch phải am hiểu, có kiến thức về lĩnh vực ngôn ngữ
truyền hình, chương trình dành cho thiếu nhi thì ngôn ngữ cần chính xác, càng
ít sử dụng tiếng lóng, ngôn ngữ chuyên ngành càng tốt. Còn phần thuyết minh,

được nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp về mặt giáo dục, văn hóa, truyền
thống, thị hiếu thẩm mỹ… của đối tượng khán giả là thiếu nhi Việt Nam. Đây
là cấp độ phức tạp nhất nhưng cũng mang lại hiệu quả cao nhất, chất lượng
chương trình hấp dẫn nhất hiện nay.
Ví dụ như các chương trình Dạy từ vựng tiếng Anh (Anh Quốc), chương
trình truyền hình thực tế Con đã lớn khôn (Nhật Bản), phim truyện Gia đình
phép thuật (Hàn Quốc)… Đây là những chương trình được thực hiện dựa trên
định dạng chương trình được mua từ nước ngoài và thực hiện phần quay, diễn
viên và những người thực hiện đa số là người Việt Nam, có một số ít người là
cố vấn cho chương trình hay chuyên gia giám sát định dạng, cộng tác viên
người nước ngoài cùng tham gia để đảm bảo một số tiêu chí nhất định mà chủ
sở hữu bản quyền mong muốn.
1.2. Những khía cạnh đặc thù về đối tượng thiếu nhi trong xã hội truyền
hình
Trẻ em là đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Công
ước về Quyền trẻ em (Luật quốc tế để bảo vệ Quyền trẻ em) quy định trẻ em
là những người dưới 18 tuổi và được định nghĩa một đứa trẻ là "mọi con
người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng
thành được quy định sớm hơn." Công ước đề ra các Quyền cơ bản của con
người mà trẻ em trên toàn thế giới đều được hưởng và được Liên Hiệp Quốc
Trang 25


thông qua năm 1989. Công ước đã được hầu hết các nước trên thế giới đồng
tình và phê chuẩn. Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên
thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày
20/2/1990. Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã đạt nhiều
tiến bộ trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc gia.
Thiếu niên nhi đồng nước ta đã và đang được Đảng, Nhà nước, các đoàn

trẻ em. Phối hợp, đoàn kết bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ ảnh hưởng sức
khỏe, tâm lý, nguy cơ bị xâm hại và tệ nạn xã hội.
- Gia đình là môi trường đầu tiên chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Không có
cha mẹ và người thân, đứa trẻ sẽ cảm thấy cô đơn và rất dễ bị lôi cuốn vào các
nguy cơ sa ngã, hư hỏng và đi vào con đường phạm tội. Môi trường gia đình
lành mạnh giúp trẻ em phát triển đầy đủ và hài hòa cả về thể chất và tinh thần,
giúp cho việc hình thành nhân cách toàn diện của trẻ.
Bên cạnh đó, tại kỳ họp Hội đồng Nhân dân TP. Hồ Chí Minh lần thứ
19, khóa VII, các đại biểu thống nhất chủ đề hành động trong năm 2011 là
“Năm vì trẻ em”. Để đi đến việc thống nhất chủ đề này, các đại biểu tại kỳ
họp đã biểu quyết thông qua các báo cáo, tờ trình của Uỷ ban Nhân dân Thành
phố về xây dựng các khu vui chơi giải trí phục vụ trẻ em. Thành phố cũng
triển khai thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới và Đề án phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục cho
trẻ khuyết tật…
Trẻ em như cây non cần được bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng chu đáo.
Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ khi còn nhỏ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với sự phát triển và trưởng thành của trẻ trong tương lai. Nhiều nghiên cứu
khoa học và thực tế đã chứng minh điều đó. Việc nuôi dạy trẻ ngay từ khi mới
sinh và những năm đầu đời sẽ giúp trẻ phát triển tốt nhất cả về thể chất, trí tuệ,

Trang 27



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status