"Việt hóa" các chương trình thiếu nhi trên kênh
truyền hình HTV3
Nguyễn Thị Hồng Yến
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Báo chí học; Mã số: 60.32.01
Người hướng dẫn: TS.Trần Ngọc Châu
Năm bảo vệ: 2013
Abtracts: Trình bày một số vấn đề lý thuyết và thuật ngữ liên quan đến vấn đề “Việt hoá”
chương trình truyền hình, đặc biệt là chương trình truyền hình dành cho lứa tuổi thiếu nhi ở Việt
Nam và chương trình mua bản quyền nước ngoài. Khảo sát cụ thể về nội dung và cách thức tổ
chức “Việt hoá” các chương trình truyền hình thiếu nhi trên kênh HTV3 của Đài Truyền hình
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Trình bày kết quả khảo sát 5 chương trình truyền hình có
mức độ “Việt hoá” khác nhau. Đề xuất và kiến nghị nâng cao chất lượng các “Việt hoá” các
chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi trên kênh HTV3.
Keywords: Báo chí học; Kênh truyền hình; Chương trình thiếu nhi; Nghề làm báo
Content
Trang 5
MỤC LỤC MỞ ĐẦU
0.1. Lý do chọn đề tài 7
0.2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
0.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
2.3. Tiểu kết 81
Chương 3
ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH “VIỆT HÓA”
DÀNH CHO THIẾU NHI TRÊN KÊNH HTV3
3.1. Đề xuất nâng cao chất lượng chương trình 85
3.1.1. Xây dựng chiến lược phát triển kênh trên quan điểm hội nhập quốc tế 85
3.1.2. Tiếp nhận văn hoá có chọn lọc 88
3.1.3. Định hướng phát triển chương trình theo hướng giáo dục kết hợp giải trí 89
3.1.4. Đa dạng hóa nội dung 90
3.1.5. Tăng cường đào tạo đội ngũ sản xuất chương trình 92
3.1.6. Nghiên cứu điều chỉnh lịch phát sóng phù hợp với công chúng thiếu nhi 93
3.1.7. Xây dựng và áp dụng định dạng về phong cách ngôn ngữ phù hợp với công chúng mục
tiêu 96
3.1.8. Tổ chức nghiên cứu đối thủ để học hỏi và cạnh tranh 97
3.2. Kiến nghị 98
3.2.1. Kiến nghị đối với nhà sản xuất truyền hình 98
3.2.2. Kiến nghị đối với xã hội 101
3.2.3. Kiến nghị đối với các bậc cha mẹ 105
3.3. Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 Trang 7
MỞ ĐẦU
0.1. Lý do chọn đề tài
về ngôn từ và được biên tập một cách kỹ lưỡng, đảm bảo về mặt nội dung
mang tính giáo dục cũng như giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt, đồng
thời giúp trẻ em dễ tiếp thu, phù hợp với khả năng nắm bắt và thấu hiểu của
trẻ em.
Chính vì vậy, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu cách chọn chương trình, xử
lý chuyển đổi ngôn ngữ gốc sang tiếng Việt một số chương trình nước ngoài
(đa số đã được quốc tế hoá sang tiếng Anh) dành cho thiếu nhi càng cần thiết
hơn. Được sự đồng ý của cán bộ hướng dẫn là Tiến sĩ Trần Ngọc Châu, người
viết đã thống nhất chọn đề tài “Việt hóa các chương trình thiếu nhi trên
kênh truyền hình HTV3” để tìm hiểu, phân tích về sự hấp dẫn cũng như tác
động của các chương trình dành cho đối tượng khán giả là thiếu nhi. Trước
khi quyết định thực hiện đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu tài liệu lưu trữ về những
đề tài, công trình nghiên cứu đã thực hiện trước đây với đề tài tương tự.
0.2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài chúng tôi đã tham khảo, nghiên cứu một số luận án,
luận văn, sách, dự án, công trình nghiên cứu,… liên quan đến vấn đề ở các
khía cạnh: các thể loại chương trình dành cho thiếu nhi hiện nay, tâm lý khán
giả, nhất là khán giả trẻ em và cả những người cùng xem với các em, văn hóa
xem truyền hình,…
Trong giới hạn tìm hiểu của tác giả, đã có khá nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề “Việt hoá” mảng tin tức. Việc chuyển dịch tin quốc tế vào tiếng
Trang 9
Việt đã được Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), cơ quan thông tấn duy nhất và
chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng) và Nhà nước Việt Nam, thực
hiện ngay từ những năm đầu thành lập. Có thể nói, cơ quan này đã đạt được
những thành công to lớn về thực hành chuyển dịch tin quốc tế sang tiếng Việt
phục vụ cho nhiều cơ quan truyền thông đại chúng khác và đặc biệt là phục vụ
công chúng báo chí Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua. Gần đây, một số
cơ quan truyền thông như Đài tiếng nói Việt Nam (Đài TNVN), Đài truyền
hình Việt Nam (Đài THVN), Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (Đài PT-
trên báo in, tác giả đã đưa ra được một số kết luận về nội dung, cách trình bày
cũng như mức độ, thể loại bài được “Việt hoá” sao cho phù hợp với độc giả là
thiếu nhi ở Việt Nam.
Tuy nhiên vấn đề mà Thanh Hằng nghiên cứu ở đây vẫn là sản phẩm
báo in. Về sản phẩm truyền hình (ngoài tin quốc tế bằng hình) hiện chưa có
công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Luận văn của chứng tôi là tài liệu đầu
tiên xem xét vấn đề “Việt hóa” sản phẩm truyền hình từ nước ngoài vào Việt
Nam.
Một số đề tài về truyền hình đã được tác giả tham khảo:
- Khóa luận tốt nghiệp ngành báo chí Các chương trình thiếu nhi trên
HTV hiện nay của tác giả Nguyễn Viên An, thực hiện năm 2007, Đại
học KHXH&NV TPHCM đã đề cập đến một số chương trình dành
cho thiếu nhi trên HTV, những điểm mạnh và chưa đạt được của một
số chương trình dành cho thiếu nhi.
- Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, Đại học
KHXH&VN Hà Nội của tác giả Trần Thị Hồng Vân năm 2011 với
đề tài Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm
Trang 11
của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, LASTA, Hoa Hồng Vàng
từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh cũng là một tài liệu tham khảo chi tiết về vấn đề hợp
tác sản xuất chương trình truyền hình để phát triển các kênh của
HTV trong những năm gần đây.
Như vậy, chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề “Việt hóa” các
chương trình truyền hình, nhất là chương trình dành cho thiếu nhi. Cái mới và
cái không trùng lắp của luận văn này chính là việc phân tích quy trình tổ chức
sản xuất, “Việt hoá” cho đến phát sóng các chương trình truyền hình dành cho
thiếu nhi như thế nào để vừa có ý nghĩa giáo dục vừa mang tính giải trí cao
cho nhóm đối tượng đặc biệt này.
0.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
ngoài đã được “Việt hóa” và phát sóng mới trên kênh HTV3 từ năm 2010 đến
6/2012, chúng tôi chỉ chọn khảo sát chính 5 chương trình nhận được nhiều sự
quan tâm, ảnh hưởng xã hội cũng như phản hồi từ phía khán giả (Qua khảo sát
thực tế và thống kê khán giả xem Đài của HTV) với nhiều thể loại khác nhau
như:
1. Hoạt cảnh: Teletubbies – Các em bé rối Teletubbies
2. Phim hoạt hình: Đôrêmon – Chú mèo máy đến từ tương lai
3. Chương trình giải trí: Yoga cho trẻ em
4. Giáo dục: Dạy từ vựng tiếng Anh
5. Truyền hình thực tế (Reality): Con đã lớn khôn
Trang 13
Công chúng khảo sát của luận văn tập trung chủ yếu vào đối tượng là trẻ
em lứa tuổi mầm non từ 3 - 6 tuổi, phụ huynh và những chương trình thiếu nhi
có yếu tố nước ngoài đã được “Việt hóa” và phát sóng trên kênh truyền hình
HTV3 từ năm 2010 đến 6/2012. Sau khi thống kê chương trình; phỏng vấn
các nhà sản xuất và khán giả; thu thập thông tin từ các trang mạng và xét mức
độ ảnh hưởng của từng chương trình ra toàn xã hội (ảnh hưởng của hình ảnh
các nhân vật trong phim tới mọi sinh hoạt của các em như Siêu nhân, Người
Nhện, Robot trái cây, xe hơi, người máy biến hình, Ben 10, các em bé
Teletubbies, mèo máy Đôrêmon…). Hiện nay chúng ta dễ dàng tìm thấy hình
ảnh của những nhân vật tưởng tượng này trên quần áo, giày dép, cặp sách, vở
học sinh, viết, thước, thú nhồi bông, đồ chơi bằng nhựa… Qua khảo sát chúng
tôi sẽ lấy ý kiến của phụ huynh về ảnh hưởng của các nhân vật trong các
chương trình thiếu nhi hiện nay đến các em.
0.5. Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận báo chí truyền
thông, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp
thông tin - báo chí; các tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, báo và tạp chí
trong và ngoài nước, các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu về
truyền thông đối với trẻ em. Luận văn vận dụng những nghiên cứu thực tế các
người trực tiếp làm ra những sản phẩm thuần Việt cho khán giả nhỏ Việt Nam
bên cạnh các chương trình nước ngoài được “Việt hoá”. Điều này cũng là
hướng phát triển tất yếu của truyền hình dành cho thiếu nhi khi mà ngày càng
có nhiều kênh truyền hình dành cho thiếu nhi trong và ngoài nước ra đời cạnh
tranh như BiBi, Cartoon Network (CN), Disney Chanel, Disney Junior….
Trang 15
Trên cơ sở thực tiễn đó chúng tôi sẽ đề cập và kiến nghị về cách chọn và
tổ chức sản xuất “Việt hóa”, các chương trình nước ngoài trên kênh HTV3
cho phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, cập nhật được những tiến bộ về công nghệ
sản xuất chương trình truyền hình của thế giới nhưng vẫn bảo đảm phù hợp
với phong tục tập quán của người Việt Nam.
Chúng tôi cũng hy vọng đề tài sẽ đóng góp được một vài tư liệu, tài liệu
tham khảo cho các cơ quan truyền thông, đặc biệt là những người đang công
tác trong lĩnh vực truyền hình, truyền thông và những ai quan tâm đến lĩnh
vực này.
0.7. Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được tổ chức thành 3
chương.
Chương 1 tập trung trình bày một số vấn đề lý thuyết và thuật ngữ liên
quan đến vấn đề “Việt hoá” chương trình truyền hình, đặc biệt là chương trình
truyền hình dành cho lứa tuổi thiếu nhi, làm cơ sở những nội dung phân tích,
khảo sát và đề xuất giải pháp ở những chương tiếp theo.
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát cụ thể về nội dung và cách thức tổ
chức “Việt hoá” các chương trình truyền hình thiếu nhi trên kênh HTV3 của
Đài Truyền hình TP.HCM. Cụ thể, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát 5
chương trình truyền hình có mức độ “Việt hoá” khác nhau.
Trên cơ sở lý thuyết ở chương 1 và kết quả khảo sát ở chương 2, chương
3 của luận văn trình bày các ý kiến đề xuất và kiến nghị nâng cao chất lượng
các “Việt hoá” các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi trên kênh
HTV3.
Thoa (2007), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non (từ lọt lòng đến 6
tuổi), NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội
B. Sách nước ngoài dịch ra tiếng Việt
13. Jacques Locqiun (2003), Truyền thông đại chúng – Từ thông tin đến
quảng cáo, NXB Thông Tấn, Hà Nội
14. Jane T. Harrigan, Karen Brown Dunlap (2011), Con mắt biên tập,
NXB Tổng hợp, TPHCM
15. V.X.Mukhina (2005), Tâm lý học mẫu giáo, tập II, NXB Giáo Dục
16. Philippe Breton, Sergeproulx (1996), Bùng nổ truyền thông – Sự ra
đời một ý thức hệ mới, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
C. Sách tiếng Anh
17. Robert V.Kail, John C. Cavanaugh (2006), Nghiên cứu về sự phát
triển con người, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
18. J. Alison Bryant, The Children's Television Community, Lawrence
Erlbaum Associates, Publishers, London, 2007
19. Dafna Lemish (2006), Children and Television - A Global
Perspective, Blackwell Publishing
20. Tammo H.A. Bijmolt’, Wilma Claassen, Britta Brus, Children’s
understanding of TV Advertising: Effects of Age, Gender and
Parental influence
21. Victoria Rideout (2011), Zero to Eight – Children’s Media Use in
America, Common Sense Media
D. Bài viết và các tài liệu khác
22. Luật Điện ảnh (2007), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 114
23. Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM, Tạp chí sổ tay xây dựng Đảng
(2010), Báo chí Việt Nam - những dấu ấn đấu tranh cách mạng,
NXB Tổng hợp TPHCM
24. Bộ Thông tin và Truyền thông, Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
quản lý thông tin và truyền thông (2011), Đường lối chính sách của