Tìm hiểu về hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống - Pdf 67

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA SINH- KTNN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ LÂM NGHIỆP
CHỦ ĐỀ: TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG NÔNG LÂM
KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG
Giáo viên đánh giá: Thạc sĩ Hồ Tân
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Xuân Bách
Lớp: Nông Học B – K31
Quy nhơn, ngày 27 tháng 11 năm 2011
Nguyễn Xuân Bách Nông Học B – K31
2
CÂU 2: Trình bày khái niệm, các yếu tố để xem xết 1 hệ thống là truyền thống? Trình bày
và phân tích ưu nhược điểm hạn chế của các hệ thống nông lâm kết hợp mà anh chị biết ? cho biết
tại địa phương mình có những hệ thống nông lâm kết hợp nào?
I. KHÁI NIỆM NÔNG LÂM KẾT HỢP
- NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất, trong đó các cây thân gỗ lâu năm
(cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp...) được trồng có suy tính trên cùng một
đơn vị diện tích đất với cây thân thảo và/hoặc với vật nuôi, được kết hợp đồng thời hoặc kế tiếp
nhau theo thời gian và không gian (Lundgren và Raintree, 1983).
- Theo ICRAF (1997) NLKH là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động, lấy
yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái
nông nghiệp, để sản xuất bền vững và đa dạng, làm gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh
thái cho người canh tác ở các mức độ, quy mô khác nhau.
- Nông Lâm kết hợp là một phương thức sản xuất kinh doanh có khoa học, nó kết hợp một
cách hài hoà giữa cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng một
cách đầy đủ nhất, hợp lý nhất để sản xuất ra nhiều sản phẩm mà không ảnh hưởng đến đát đai.
Môi trường sinh thái bền vững, ít tốn chi phí mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và
trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các
lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương (PCARRD, 1979).

- Đây là các hệ thống canh tác được phát triển và tích luỹ kinh nghiệm qua nhiều thế hệ,
được kiểm nghiệm qua thời gian. Chúng thường được phổ biến ở các cộng đồng người dân tộc
sống ở gần hay ngay tại rừng.
- Nói cách khác, hệ thống nông lâm kết hợp truy ền thống là các kiểu canh tác nông lâm
kết hợp được phát triển bởi chính người dân đ ịa phương. Điều này chứng minh rằng lý thuy ết về
nông lâm kết hợp là mới mẻ nhưng thực ra là một kiểu canh tác đã được người dân sáng tạo ra từ
lâu. Nhiều kỹ thuật nông lâm kết hợp đã được đúc kết, tồn tại và thử nghiệm bởi người nông dân
qua hàng ngàn năm.
- Các hệ thống nông lâm kết hợp truy ền thống ở vùng núi Việt Nam ở mấy dạng sau:
Các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống
1. Hệ thống bỏ háa/nương rẫy cải tiến
- Có người cho đây là hình thức luân canh rừng tái sinh – nương rãy. Đây là hình thức lâu
đời của nông lâm kết hợp nhằm khắc phục các ảnh hưởng tiêu cực của canh tác nương rẫy liên
tục, tạo điều kiện để rừng phục hồi độ phì đất. Thực ra họ luân canh từ mảnh đất này sang mảnh
đất khác theo thời gian đã được suy tính trước, kỹ thuật này tỏ ra bền vững qua nhiều năm. M ấu
chốt của sự bền vững của kỹ thuật canh tác này là thời gian ngừng canh tác để đất được phục hồi,
Nguyễn Xuân Bách Nông Học B – K31
4
họ thường lui tới nương bỏ hóa để thu hái các sản phẩm trên đất bỏ hóa; như ở Tây Nguyên, nhân
dân thường coi rẫy bỏ hóa củ a họ như nơi dự trữ rau, củi đun, trái cây, lương thực, thuốc chữa
bệnh,... Khi mật độ dân cư còn thưa thớt, đất đai canh tác nhiều thì thời gian để đ ất nghỉ dài.
Trong bố i cảnh hiện nay dân số đông, cộng với chính sách giao đất giao rừng đến hộ nông dân đã
hạn chế phần nào đất canh tác của người dân địa phương.
- Để khắc phục tình trạng thiếu đất, ở nhiều nơi đồng bào đã trồng các loài cây cải tạo đất
trong giai đo ạn bỏ hóa. Cách làm này vừa rút ngắn được thời gian bỏ hóa vừa cung cấp củi đun
cho nhân dân. Nhiều nơi chính quy ền địa phương có sáng kiến qui vùng sản xu ất nương rẫy như
ở Nghệ An, Sơn La… chính quy ền địa phương cùng nông dân chia đất canh tác ra nhiều lô để
trồng luôn canh cây hoa màu và các cây cải tạo đất, thời gian canh tác từ 2-5 năm phụ thuộc
vào số lô luân canh, tổng diện tích rẫy và khả năng sinh trưởng củ a cây cải tạo đất.
+ Ưu điểm

còn có tầng thấp trồng xen dưới tán. Tùy theo điều kiện sinh thái, tập quán và kinh nghiệm truyền
thống của từng vùng, cũng như nhu cầu thị trường mà người dân chọn những loài cây nguyên liệu
hay những cây đặc sản phù hợp như tre diễn ở Phú Thọ, luồng ở
Thanh Hóa, Hòa Bình, quế ở Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam, trám ở Phú Thọ, bời lời ở
các tỉnh Tây nguyên, điều ở Đông Nam bộ, dừa ở Bình Định, hồi ở Lạng Sơn..., tầng thấp thường
trồng kết hợp để tận dụng đất đai và năng lượng mặt trời, sản xuất thêm lương thực ngắn ngày
(lúa, ngô, sắn, đậu đỗ,...), cây dược liệu (gừng, nghệ, sả, ...). Với chính sách giao đất khoán rừng,
cùng sự hỗ trợ của các chương trình dự án (chương trình 327, chương trình 661) loại hình này
đang được áp dụng rộng rãi trên kh ắp các vùng núi Việt Nam để cải tạo đ ất trống đồi
núi trọc, nâng cao thu nhập cho người dân.
4.2. Vư ờn cây công nghiệp
- Đây là loại hình trồng các loài cây công nghiệp theo hướng thâm canh, thường có diện
tích từ 0.5 đến vài ba ha, phần lớn diện tích trồng cây công nghiệp cùng với cây đa mục đích để
che bóng, ch ắn gió và tận dụng các sản phẩm khác, nhà ở hoặc chuồng trại và vườn rau quả ở nơi
thấp, gần hoặc xa vườn nhưng có đ iều kiện nước và đường đi thuận lợi cho sinh hoạt và giao lưu
hàng hóa. Loại hình này thường lập theo kiểu nông trại hay rừng đồn điền để kinh doanh những
sản phẩm cây công nghiệp có giá trị cao. Kết cấu thường gồm một tầng cây cao để sản xuất hàng
hóa chính như cà phê, ca cao, hồ tiêu, chôm chôm, sầu riêng..., giữa các
hàng cây trong những năm đầu thường trồng các loài cây nông nghiệp ngắn ngày để tận
dụng đất đai hạn chế cỏ dại; tầng sinh thái được trồng để che phủ đất, hạn chế dòng ch ảy bề mặt,
điều tiết nước giữ ẩm cho tầng chính. Loại hình này thường khá phổ biến ở các tỉnh phía Nam,
nơi có đ ất đai rộng, mầu mỡ thích hợp với các lo ại cây công nghiệp.
4.3. Vư ờn cây ăn quả
- Đây là hệ thống sử dụng đất truy ền thống gắn liền v ới đất thổ cư với kết cấu thường
gồm 3-4 tầng chính, tầng trên cùng là là các cây gỗ to, ưa sáng và cho quả như sầu riêng, dừa,
xoài, mít, vải, nhãn,..., tầng giữa là các cây gỗ có kích thước trung bình, chịu bóng và cho qu ả
như măng cụt, dâu gia, hồng xiêm, cam, quýt, na,.., và tầng dưới có kích thước thấp, nhỏ có khả
năng chịu bóng như ca cao và tầng cuố i cùng có thể là cây thuốc.
Nguyễn Xuân Bách Nông Học B – K31
6

3.1. Vư ờn rừng
+ Ưu điểm
- Vườn rừng tuy có cấu trúc đơn giản nhưng sử dụng các loại cây bản địa có tính thích ứng cao với
điều kiện sinh thái và đất đai của địa phương.
- Duy trì và phát triển tầng cây thấp có tác dụng phù trợ cho tầng cây chính.
- Góp phần tạo dựng môi trường sinh thái ổn định cho sự phát triển bền vững của cây trồng. Bảo
Nguyễn Xuân Bách Nông Học B – K31
7
tồn được nguồn tài nguyên đất và nước.
- Các hộ gia đình tận dụng được thời gian, nguồn lao động, tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hóa có
giá trị cao, tăng thu nhập cho gia đình và có nguồn đầu tư trở laijcho cây trồng. Điều hòa được lợi
ích trước mắt và lâu dài.
+ Hạn chế
- Công việc chuẩn bị đất tốn nhiều công lao. Việc làm đất và trồng cây lâm nghiệp dễ làm hư hại
thực bì tự nhiên. Xói mòn đất dễ xẩy ratrong những năm đầu ảnh hưởng đến năng suất và cây
trồng về sau.
- Cây lâm nghiệp thường cần thời gian dài mới cho sản phẩm, điều này hạn chế sự chấp nhaanjcuar
nông dân, đặc biệt là đối với các hộ nghèo.
- Cần diện tích đất đủ lớn để gây trồng nên khó thích hợp ở vùng có dân số đông, quỷ đất ít và uy
mô nông hộ.
- Vườn rừng thường ở nơi xa dân cư nên khó khăn trong quản lý,dễ bị chặt ph, lửa rừng và gia súc
phá hại.
3.2. Vư ờn cây công nghiệp
+ Ưu điểm
- Việc chọn loại cây và bố trí kết hợp các loại với nhau đã đáp ứng được cả hai nhu cầu kinh tế và
sinh thái, phát huy được các hiệu quả tích cực.
- Kết hợp trồng được các loại cây thân thảo trong những năm đầu của thời kỳ kiến thiết cơ bản đã
giải quyết nguồn lương thực tại chỗ và tăng thu nhập cho người dân, thực hen được phương châm
“ lấy ngắn nuôi dài” đầu tư trở lại cho vườn cây công nghiệp, đồng thời phát huy được hiệu quả
che phủ đất, chống sói mòn.

+ Hạn chế
- Đòi hỏi người gây trồng phải có kinh nghiệm và kỹ năng. Tốn khá nhiều công sức trong việc xây
dựng và duy trì.
3.5. Rừng-vườn-ao-chuồng (RVAC)
+ Ưu điểm
- Ổn định về mặt sinh thái và kinh tế.
- Tốn ít công lao động.
- Sâu bệnh và thú phá hại ở mức thấp.
- Quen thuộc với người dân.
+ Hạn chế
- Thiếu nguồn và cây giống tốt.
3.6. Hệ thống rừng-hoa màu-lúa nước
+ Ưu điểm
- Việc sắp xếp theeo không gian giữa các thành phần giúp chúng có mối quan hệ tương hỗ lẫn
nhau. Do vậy, tối ưu hóa toàn bộ khu vực sản xuất.
- Phân phối điều công việc và thu nhập trong suotps cả năm.
- Đa dạng hóa các sản phẩm địa phương.
+ Hạn chế
- Hệ thống đòi hỏi các mối lien hệ và hợp tác giữa nông dân, hợp tác xã và cơ quan lâm nghiệp
hoặc các nhóm cộng đồng quản lý rừng. điều này có thể gặp khó khăn ở những cộng đồng mới
định cư.
IV. CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP CÓ Ở VIỆT NAM
1. Mô hình nông lâm kết hợp trên đất gò đồi và trung du
Mô hình này thường xuất hiện ở vùng bán sơn địa thuộc các tỉnh trung du, miền núi
phía Bắc và miền Trung.
Tại đây, đất đai và khí hậu có những đặc điểm chính như sau:
- Đất xám bạc màu, chủ yếu phát triển trên phù sa cổ, đá macma a xit và đất cát. Đất
Nguyễn Xuân Bách Nông Học B – K31


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status