Ngân sách nhà nước - Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Cơ sở lý luận
1.1 Khái quát về ngân sách nhà nước và hệ thống ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm
Có nhiều dịnh nghĩa khác nhau về NSNN trên các góc cạnh tiếp cận khác
nhau:
Theo luật ngân sách nhà nước : Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu,chi
của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và
được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà
nước.
Thuật ngữ ”Ngân sách” có nguồn gốc từ tiếng la tinh”Budget” có nghĩa là cái túi
hay rộng hơn là nơi tập trung nguồn thu và xuất phát điểm của các khoản chi. Qua quá
trình phát triển, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến hơn và dần dần tách khỏi ý nghĩa
ban đầu của nó.
Về hình thức thể hiện: ngân sách được hiểu là các bản dự toán và quyết toán thu, chi
của một đơn vị trong một thời gian xác định.
Về hành vi: NSNN được hiểu là việc thực hiện các khoản thu chi bằng tiền của nhà
nước trong một khoảng thời gian nhất định( thường là một năm). Theo đó, Luật NSNN
(sửa đổi năm 2002) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định” NSNN là
toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của nhà nước”.
Như vậy, về bản chất NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với
các chủ thể trong xã hội, phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại của cải xã
hội, nhằm tập trung một phần nguồn lực tài chính vào trong tay nhà nước để đáp ứng
các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước. Về
hình thức biểu hiện, đó là các dự toán và quyết toán các khoản thu, chi quá trình trực
hiện chức năng của nhà nước trong một thời gian xác định ( một năm).
Ngân sách nhà nước
Ngân sách trung ương
Ngân sách địa phương
nguyên tắc sau:
Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân
định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách của chính
quyền nhà nước cấp trên cho ngân sách của chính quyền ngân sách cấp dưới nhằm đảm
bảo sự công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng lãnh thổ, các địa phương. Số bổ
sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước
cấp trên uỷ quyền cho cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi đó( gọi là
kinh phí uỷ quyền). Không được dùng ngân sách của cấp này chi cho nhiệm vụ của
ngân sách cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
1.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thế nội dung trên khôgn phải là nội
dung của phân cấp quản lý NSNN à?
Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của
chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu, chi
của NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN giữa chính quyền trung ương và các cấp chính quyền
địa phương là một tất yếu khách quan do mỗi cấp chính quyền đều cần đảm bảo nhu
cầu chi bằng những nguồn tài chính nhất định. Nếu các nhiệm vụ đó do mỗi cấp trực
tiếp đề xuất và bố trí thì sẽ hiệu quả hơn là sự áp đặt từ trên xuống. Đồng thời, những
khoản thu nhỏ lẻ hoặc khó quản lý nếu phân giao cho chính quyền địa phương quản lý
sẽ phát huy tính độc lập, năng động, sáng tạo trong quá trình tổ chức triển khai các
nhiệm vụ về xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương.
Phân cấp quản lý ngân sách cũng là phương pháp tốt nhất để gắn các hoạt động
của NSNN với các hoạt động kinh tế xã hội một cách cụ thể. Sự gắn kết này nhằm tạo
lập và tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách, chế độ nguồn tài chính quốc gia,
đồng thời phân phối, sử dụng các nguồn tài chính đó một cách công bằng, hợp lý, tiết
kiệm, có hiệu quả cao phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất
nước.
Phân cấp quản lý NSNN đúng đắn và hợp lý không chỉ bảo đảm phương tiện vật
chất cho việc duy trì, phát triển hoạt động của các cấp chính quyền nhà nước từ trung
ương đến địa phương mà còn tạo điều kiện phát huy được lợi thế nhiều mặt của từng
chỉ đơn thuần thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh, thành phố mà còn có những hướng riêng
phù hợp với tình hình thực tế của huyện trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn
định và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Khi xem xét ngân sách huyện không tách
rời khỏi NSNN cấp trên nhưng cũng không được coi ngân sách huyện là yếu tố thụ
động trong hệ thống ngân sách. Theo đó, ngân sách huyện là toàn bộ các khoản thu –
chi được quy định đưa vào dự toán trong một năm do HĐND huyện quyết định và giao
cho UBND huyện tổ chức chấp hành nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cuả
chính quyền cấp huyện. Quan niệm trên có thể giúp chúng ta hình dung được ngân sách
huyện và cơ quan quyết định cũng như cơ quan chấp hành ngân sách huyện. Tuy nhiên,
quan điểm trên chưa phản ánh được các mối quan hệ tiền tệ mà thực chất là quan hệ lợi
ích kinh tế chứa đựng trong ngân sách huyện. Thực tiễn chỉ ra rằng khi các khoản thu,
chi ngân sách huyện diễn ra tất yếu sẽ nảy sinh sự vận động của nguồn tài chính từ chủ
thể( người) nộp đến ngân sách huyện, từ ngân sách huyện đến những mục đích sử dụng
nào đó. Toàn bộ quá trình thu tác động đến lợi ích, nghĩa vụ của người nộp và
toàn bộ các khoản chi sẽ mang lại lợi ích cho dân cư, hộ gia đình. Sự vận động của các
nguồn tài chính vào ngân sách huyện và từ ngân sách huyện đến các mục đích sử
dụng khác nhau chứa đựng các mối quan hệ cụ thể: