TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI CONTAINER, HOẠT
ĐỘNG DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN CONTAINER VÀ HIỆU QUẢ SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI
CONTAINER
1.1. Khái niệm chung về doanh nghiệp vận tải container:
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp vận tải container:
Doanh nghiệp là một đơn vị tài chính và pháp lý, là một tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Nó có quyền tự
quyết định các kế hoạch kinh tế của mình và phấn đấu đạt được lợi nhuận cao nhất.
Một doanh nghiệp có thể có nhiều xí nghiệp – các đơn vị tổ chức kinh tế kĩ
thuật.
Doanh nghiệp dịch vụ là dơn vị chủ yếu cung cấp những sản phẩm vô hình dạng.
Dịch vụ có đặc điểm:
- Tính đồng thời của sản xuất và tiêu thụ;
- Sản phẩm có bản chất dị chủng;
- Tính vô hình dạng và tính mong manh vì không thể lưu trữ.
Doanh nghiệp vận tải container là loại hình doanh nghiệp thuộc chuyên ngành
kinh tế kĩ thuật, với chức năng hoạt động là tổ chức khai thác vận chuyển hàng hóa
bằng container nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ, cung cấp hàng hóa cho thị trường
sản xuất, thị trường tiêu thụ của người dân với mục tiêu phục vụ được nhiều nhất cho
các ngành khá, cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế
xã hội cao nhất.
1.1.2. Mục tiêu của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp phải phấn đấu đạt được ba mục tiêu kinh tế cơ bản là:
- Mục tiêu lợi nhuận: là mục tiêu hang đầu của doanh nghiệp. Hoạt động sản
xuất kinh doanh phải thu được lợi nhuận thì doanh nghiệp mới có thể quay
vòng vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
- Mục tiêu phát triển: khi doanh nghiệp mang lại một mức lợi nhuận nào đó thì
doanh nghiệp sẽ mở rộng thị trường, chiếm lĩnh thi trường, mở rộng đầu tư.
- Mục tiêu sản xuất sản phảm tối đa: doanh nghiệp phải phấn đấu tiết kiệm cho
hàng, hành vi người tiêu dung, công tác nghiên cứu các thị trường, các kênh
và mạng lưới tiêu thụ, cong tác thông tin, quảng cáo, khuyếch trương, yểm
trợ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa…
- Coi trọng thiết lập quan hệ với khách hàng, có thái độ đối xử tốt, tôn trọng
lợi ích các bên, có chế độ ưu đải lợi ích thỏa đáng đối với khách hàng truyền
thống, các bạn hàng lớn, các bận hàng lần đầu mua hàng của doanh nghiệp,
có chính sách thu hút khách hàng.
- Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ trên cơ sở không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm, phấn đấu hạ giá thành, đổi mới kiểu dáng mẫu mã, bao bì…
phấn đấu tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
1.2. khái niệm về dịch vụ vận chuyển container:
Dịch vụ hàng hải đã phát triển rất nhanh, mạnh và đều khắp, cùng với sự phát
triển này là phương thức vận chuyển bằng container. Vận chuyển hàng hóa bằng
container là việc xếp dỡ, chuyên chở và bảo quản hàng hóa trong suốt quá trình vận
chuyển.
1.2.1. Container:
a) Định nghĩa Container:
Tháng 6 năm 1964, Uỷ ban kỹ thuật của tổ chức ISO (International Standarzing
Organization) đã đưa ra định nghĩa tổng quát về container. Cho đến nay, các nước trên
thế giới đều áp dụng định nghĩa này của ISO.
Theo ISO - Container là một dụng cụ vận tải có các đặc điểm:
- Có hình dáng cố định, bền chắc, để được sử dựng nhiều lần.
- Có cấu tạo đặc biệt để thuận tiện cho việc chuyên chở bằng một hoặc nhiều
phương tiện vận tải, hàng hóa không phải xếp dỡ ở cảng dọc đường.
- Có thiết bị riêng để thuận tiện cho việc xếp dỡ và thay đổi từ công cụ vận tải này
sang công cụ vận tải khác.
- Có cấu tạo đặc biệt để thuận tiện cho việc xếp hàng và dỡ hàng.
- Có dung tích không ít hơn 1m
3
.
máy, sắt thép…
Container mặt bằng có vách hai đầu (Platform Based Container).
Container vách dọc mở (Side Open Container).
Container chở xe hơi (Car Container): dùng chở xe hơi, có thể xếp bên trong
container 1 hoặc 2 tầng tùy theo chiều cao của xe.
Container chở súc vật (Live Stock/ Pen Container): để chở thú hay gia súc.
Container chở da sống (Hide Container): để chở da thú sống, có mùi nặng và độ
ẩm cao, đòi hỏi nhiều điều kiện vệ sinh.
Container sức chứa lớn (Hide Cubic Container): dùng chở hàng cồng kềnh có hệ
sỗ chất xếp lớn.
- Max Gross (khối lượng tối đa cho phép của hàng và vỏ cont) và Net (khối
lượng hàng hoá đóng trong cont) của từng loại cont khác nhau, từng hãng cont khác
nhau là khác nhau. Điều này tuỳ thuộc vào mục đích sản xuất của mỗi hãng.
1.2.2. Khái niệm phương thức vận tải container:
Hàng hóa được sắp xếp, bốc dỡ và bảo quản trong suốt quá trình vận chuyển vào
trong container là phương thức vận tải quốc tế dựa trên yếu tố cơ bản là container và tầu
chuyên dung chở container, nó có thể kết hợp với các phương thức vận tải khác như
đường sẳt, đường bộ, đường song,… tạo nên vận tải đa phương thức. Trong phương
thức này, container được tiêu chuẩn hóa do các tổ chức Quốc tế ISO quy định đơn vị đo
bằng TEU tức là lấy kích thước container 20’ (2,4m x 2,4m x 6m) làm tiêu chuẩn để
tính toán khi khai thác.
Công nghệ vận chuyển hàng hóa bằng container ngay từ khi ra đời đã phát triển
nhanh chóng vì nó mang lại nhiều lợi ích cho người chuyên chở cũng như người thuê
vận chuyển.
Đối với người vận chuyển, công nghệ hiện đại này đã giúp:
- Rút ngắn thời gian tàu đậu ở các bến cảng để xếp dỡ hàng hóa mà không phụ
thuộc vào điều kiện thời tiết, tăng nhanh vòng quay khai thác tàu, tâọ điều
kiện thuận lợi cho các tuyến vận tải dài phải qua trung chuyển hoặc trung tâm
chuyển tải, vận tải đa phương thức và vận chuyển lien hợp.
- Tận dụng được trọng tải và dung tích của tàu, nâng cao hiệu quả khai thác.
- Chi phí cố định: khấu hao, sửa chữa, bảo quản, vật liệu, thiết bị dự trữ tàu,
container, bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
- Chi phí khai thác: nhiên liệu, chi phí cảng, xếp dỡ hàng, qua kênh và dịch vụ
khai thác.
- Chi phí sử dụng lao động: tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm. y tế,…
- Chi phí quản lý hành chính: quản lý, thuế, quảng cáo, văn phòng,…
1.2.5. Sự hình thành và phát triển công nghệ vận chuyển hàng hóa bằng container ở
Việt Nam:
a) Các giai đoạn phát triển:
- Từ năm 1975-1990: Vận chuyển hàng hóa bằng container vẫn còn là một khái
niệm mới thực sự được hình thành trong suy nghĩ của các nhà hàng hải Việt Nam. Cơ
sở vật chất kỹ thuật ban đầu của ngành vận chuyển container ở nước ta là các container
chiến lợi phẩm thu được của quân đội Mỹ.Vào các năm đầu thập kỷ 1980 hãng
INTERLIGHTER (liên doanh giữa Liên Xô cũ, Tiệp Khắc, Hungari và Bungary) dùng
tàu Lash với lịch trình 45 ngày/chuyến chở container từ cảng Danuyp vào Việt Nam.
Đồng thời hãng tàu BLACH SEA SHIPPING COMPANY (gọi tắt là BLASCO) của
Liên Xô cũ cũng tổ chức vận chuyển container từ một số cảng Đông Nam Á vào Việt
Nam bằng các tàu sơ-mi container cỡ nhỏ có sức chở 250-300 TEU.
- Từ năm 1991 đến nay: Với sự ra đời của liên doanh GEMARTRANS giữa
Tổng cục đường biển Việt Nam và công ty vận tải Cộng hòa Pháp, và sau đó liên doanh
AEC (sau này đổi tên là APM) giữa công ty vận tải biển Sài Gòn (Saigon Shipping
Co.,Ltd) và hãng tàu EAC – một công ty con của hãng MAESK LINES cùng với sự
tham gia của APL năm 1994 đã tạo ra một bước đột phá lớn về sự phát triển container ở
Việt Nam.
b) Thực trạng vận tải container ở Việt Nam:
Từ năm 1995 trở lại đây tốc độ khai thác dịch vụ vận chuyển container có thể
nói rất mạnh mẽ. Hầu hết các hãng container lớn có tên tuổi cũng như các hãng tàu nhỏ
hơn góp mặt trong thị trường. Theo con số thống kê có tới gần 60 hãng có mặt trong thị
trường, trong số đó có tới 16 hãng container mở tuyến đưa container của mình trực tiếp
vào khai thác tại các cảng của Việt Nam. Một nhân tố khác thúc đẩy hoạt động vận