1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHÈ Ở THÁI NGUYÊN
I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng đến phát
triển sản xuất chè
1.Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng,
của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội
giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh
Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với
các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km);
có diện tích tự nhiên là 3.562,82 km².
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã
Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ,
Phú Lương. Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là
các xã đồng bằng và trung du.
Thái Nguyên có vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài
50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải
Phòng 200 km. Thái Nguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ,
đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ 3 nối
Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng
Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang. Hệ thống đường sông Đa Phúc - Hải Phòng;
đường sắt Thái Nguyên – Hà Nội - Lạng Sơn.
1.2 Địa hình
Là một tỉnh miền núi, nhưng địa hình Thái Nguyên ít bị chia cắt hơn so với
các tỉnh miền núi khác trong vùng Trung Du Miền Núi Bắc Bộ. Độ cao trung bình so
với mặt biển khoảng 200 – 300m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông.
Các dãy núi cao gồm dãy núi Bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo. Đỉnh cao nhất thuộc
dãy Tam Đảo có độ cao 1.592m.
Địa hình được chia thành 3 vùng:
Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, diện tích rừng trồng khoảng 44.450
ha. Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ
nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy. Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm
23% diện tích tự nhiên, cây hàng năm chủ yếu là cây chè. Ngoài sản xuất lương thực,
tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn
nuôi đại gia súc, chăn nuôi bò sữa.
Thái Nguyên là vùng đất thích hợp để phát triển cây chè. Chè Thái Nguyên,
đặc biệt là chè Tân Cương là đặc sản từ lâu nổi tiếng trong và ngoài nước. Toàn tỉnh
hiện có hơn 16.000 ha chè (đứng thứ 2 cả nước sau Lâm Đồng), trong đó có trên
12.000 ha chè kinh doanh, hàng năm cho sản lượng khoảng trên 70.000 tấn chè búp
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tươi. Tỉnh đã có quy hoạch phát triển cây chè lên 15.000 đến 20.000 ha với sản lượng
khoảng 105.000 tấn chè búp tươi/năm. Cây ăn quả của tỉnh hiện có trên 10.000 ha,
đến năm 2010 đưa lên 15.000 ha, có thể phát triển các loại cây như vải, mơ, nhãn,
cam, quýt…
1.3 Khí hậu thủy văn
1.3.1 Khí hậu
Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của Tổng cục
Khí tượng Thuỷ văn, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 - 2.500 mm, cao
nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình chênh lệch giữa tháng
nóng nhất (28,9
0
C- tháng 6) với tháng lạnh nhất 15,2
0
C- tháng 1) là 13,7
0
C. Tổng số
giờ nắng trong năm dao động từ 1.300-1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các
sánh của các yếu tố sinh thái của tỉnh. Tuy vậy, vào mùa mưa với lượng mưa tập
trung lớn thường xảy ra tai biến về sụt lở, trượt đất, lũ quét ở một số triền đồi núi và
lũ lụt ở khu vực dọc theo lưu vực sông Cầu và sông Công.
1.3.2 Thủy văn
Thái Nguyên có hai sông chính chảy qua là Sông Công và sông cầu. Hai sông
này là nguồn cấp nước chính cho nền kinh tế, dân sinh của tỉnh.
Sông Công có lưu vực 951 km2, bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định
hoá, chạy dọc theo chân núi Tam Đảo. Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ, tạo
thành Hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25 km2. Hồ này chứa được 175 triệu m3
nước, chủ động tưới tiêu cho 12.000 ha lúa 2 vụ, hoa màu, cây công nghiệp và cung
cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công.
Sông cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình, có lưu vực 3480 km2, bắt
nguồn từ chợ đồn chảy theo hướng bắc - đông nam. Lưu lượng nước mùa mưa là
3500 m3/s, mùa kiệt là 7,5 m3/s. Trên sông này có hệ thống thuỷ nông sông cầu
(trong đó có đập dâng thác huống) tưới cho 24.000 ha lúa 2 vụ của các huyện Phú
Bình (Thái Nguyên) và Hiệp Hoà, Tân Yên (Bắc Giang)
Ngoài ra trong tỉnh còn nhiều sông nhỏ khác thuộc hệ thống sông kì cùng và
hệ thống sông lô.
Trên các sông chảy qua tỉnh có thể xây dựng nhiều công trình thủy điện kết hợp
với thuỷ lợi quy mô nhỏ sẽ góp phần làm cho nông thôn vùng cao tiến bộ nhanh.
Thái Nguyên có trữ lượng nước ngầm khá lơn, nhưng việc khai thác sử dụng
còn hạn chế. nước ngầm tập trung ở khu vực đồng bẩm - túc duyên với trữ lượng
27.307.6 m3/ ngày. Nước ngầm đạt tiêu chuẩn làm nước ăn và cho khả năng khai thác
ở mức 41.000 m3/ ngày
2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1 Điều kiện kinh tế
Tổng GDP của tỉnh năm 2007 đạt 4.716,17 tỷ đồng (giá so sánh 1994),
9.868,69 tỷ đồng theo giá hiện hành. GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành)
50.000 tỷ VNĐ (3,3 tỷ USD) trong đó có nhiều dự án đầu tư của các tập đoàn mạnh
Cơ cấu kinh tế hiện nay công nghiệp: 40%, dịch vụ: 38%, nông lâm nghiệp: 22%.
Mục tiêu đến 2010 về công nghiệp: 45%, dịch vụ: 39%, nông lâm nghiệp: 16%
Các chỉ tiêu chủ yếu của tỉnh 2006 – 2010: Tăng trưởng kinh tế bình quân 12-
13%. Trong đó công nghiệp tăng 16,5%; dịch vụ tăng 13%; nông lâm nghiệp tăng
5,5%. Giá trị sản suất nông nghiệp tăng 6,5-7%. Giảm hộ nghèo mỗi năm 2,5%. Thu
nhập bình quân đầu người đến 2010 là 12,6 triệu đồng (800 USD).
Ổn định diện tích cây chè 17.500 ha, năng suất 85 tạ/ha. trong đó 80% diện
tích sản suất nguyên liệu chè xanh và chè cao cấp, 20% diện tích sản suất nguyên liệu
chè đen. Sản phẩm nội tiêu khoảng 70%. Giá trị tăng thêm tăng trung bình 5%/năm.
2.2 Dân số và lao động
Trên phạm vi toàn tỉnh đến thời điểm 1/4/2009 có 1.124.786 người, trong đó
dân số nữ chiếm 50,29%, so với thời điểm 1/4/1999; tỷ suất tăng dân số bình quân
tăng 0,73%/năm, thấp hơn 0,44% so với bình quân chung cả nước.
Mật độ dân số là 318 người/km2 (1999 là 296 người/km2). Tỷ trọng dân số
thành thị trong tổng dân số là 25,6%. Hộ dân cư trên địa bàn có 329.788 hộ, bình
quân 3,5 người/hộ (thời điểm năm 1999 là 4,4 người/hộ). Chỉ số già hóa (được biểu
thị bằng số người từ 60 tuổi trở lên trên 100 người dưới 15 tuổi) là 39,5% cao hơn rất
nhiều so với thời điểm 1999 (22,07%). Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc và biết
viết chiếm 96,53%.
Lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm 55,3% dân số, cao hơn bình quân
chung cả nước. Trong đó lao động nữ chiếm 48,6%; lực lượng lao động phân bổ
không đều trong các ngành kinh tế: ngành nông nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng cao
nhất: 66,5%, ngành du lịch: 23,1%, ngành xây dựng: 10,4%. Số người thất nghiệp
chiếm 1,55% số người trong độ tuổi lao động, trong đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị
chiếm 4,5%.
2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật
Đến nay, hệ thống cơ sở hạ tầng của tỉnh Thái Nguyên đã có những hoàn
thiện nhất định, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn
tỉnh...
2.3.2 Hệ thống thủy lợi
+ Hồ chứa: Toàn tỉnh hiện có 395 hồ chứa nước. Trong đó: Hồ có diện tích
tưới từ 30 ha trở lên có 57 cái; Hồ có diện tích tưới nhỏ hơn 30 ha có 338 cái.
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Trạm bơm: Toàn tỉnh hiện có 200 trạm bơm điện, công suất 70.219 m
3
/h,
năng lực tưới 5.150 ha; 40 trạm bơm dầu với công suất 10.144 m
3
/h, năng lực tưới
1.005 ha. Hầu hết các trạm bơm trong tỉnh đều đã được thay thế các máy bơm cũ
bằng các loại bơm liên doanh Việt Nhật thuộc thế hệ kỹ thuật mới, hiện tại vẫn đang
còn dùng tốt; còn một số ít máy được lắp đặt đã quá lâu năm chưa được thay thế nên
hoạt động kém hiệu quả như: trạm bơm Lũ Yên xã Đào Xá (Phú Lương); trạm bơm
xóm Thượng xã Bảo Lý huyện Phú Bình hoặc các trạm bơm: Đồng Trầu; Na Nuôi
(xã Tân Khánh); Đồng Tố xã Kha Sơn, Xóm Bo, Đá Gân xã Đồng Liên (Phú Bình).
+ Hệ thống kênh tưới: Tổng chiều dài kênh chính và kênh nội đồng của toàn
tỉnh là 2.706,895km. Trong đó hệ thống kênh mương được kiên cố là 2.420km.
Năm 2007 thực hiện trữ nước và điều tiết nguồn nước một cách hợp lý, tiết
kiệm đảm bảo phục vụ nhu cầu tưới cho 23.821ha lúa vụ xuân, 34.000ha lúa vụ mùa,
16.500ha rau màu, 2.500ha chè vụ đông. Quản lý khai thác có hiệu quả các công trình
thuỷ lợi, tu sửa phai đập, nạo vét kênh mương, thường xuyên kiểm tra các hồ đập, kè,
cống nhằm phát hiện kịp thời xử lý các hiện tượng vi phạm hành lang và các sự cố
công trình thuỷ lợi, nhất là các hồ chứa.
2.3.3 Hệ thống điện
Nằm trong hệ thống lưới điện miền Bắc, Thái Nguyên là tỉnh có lưới điện
tương đối hoàn chỉnh. Toàn bộ các huyện trong tỉnh đều có lưới điện quốc gia, trong
đó thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các thị trấn, huyện có lưới điện hoàn
chỉnh, đáp ứng tốt cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.
- Tỉnh có nguồn lao động dồi dào, cần cù, chịu khó, có kinh nghiệm trong sản
xuất chè từ lâu đời.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông liên lạc, điện, thuỷ lợi… đang được cải
thiện, hệ thống cung ứng dịch vụ vật tư nông nghiệp đang được mở rộng đáp ứng nhu
cầu phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất chè nói riêng.
- Cây chè được xác định là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh nên
được tỉnh quan tâm đầu tư phát triển.
3.2 Khó khăn
Mặc dù có nhiều thuận lợi để phát triển sản xuất chè song phát triển sản xuất
chè cũng gặp một số khó khăn sau đây:
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Địa hình chia cắt mạnh, đất dốc dẫn đến sản xuất phân tán, tỷ suất đầu tư
chưa cao và dễ gây thoái hoá đất nếu không có giải pháp canh tác hợp lý.
- Hạ tầng cơ sở đặc biệt là ở nông thôn miền núi còn yếu kém làm ảnh hưởng
đến tốc độ phát triển kinh tế.
- Trình độ lao động nông nghiệp ở nông thôn còn thấp, đây là một trở ngại lớn
trong sản xuất nông nghiệp hàng hoá.
- Thu nhập của một bộ phận dân cư còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao sẽ
gây nhiều khó khăn trong đầu tư thâm canh.
- Hệ thống sản xuất cung ứng giống còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu giống tại
chỗ cho sản xuất của địa phương.
- Hệ thống bảo quản chế biến sản phẩm sau thu hoạch còn ít và lạc hậu.
- Diễn biến thời tiết thất thường, mùa mưa hay bão lụt, mùa khô thường hạn gây thiếu
nước tưới.
II. Thực trạng sản xuất chè ở tỉnh Thái Nguyên
Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả
năng phát triển nông lâm nghiệp. Chè Thái Nguyên, đặc biệt là chè Tân Cương là sản
phẩm nổi tiếng trong cả nước từ lâu. Toàn tỉnh hiện có trên 16.000 ha chè, đứng thứ 2
trong cả nước, với hơn 40 cơ sở chế biến chè lớn nhỏ rải đều trên khắp địa bàn tỉnh.
điều kiện tự nhiên của huyện phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây chè,
mặt khác người dân ở Đại Từ cũng có kinh nghiệm, truyền thống trồng chè từ lâu
đời.
Trong những năm qua, tỉnh không ngừng xây dựng, phát triển những khu công
nghiệp, hệ thống thương mại dịch vụ như siêu thị, khách sạn, nhà hàng ngày càng
nhiều, tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng, mặt khác quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
đang diễn ra mạnh mẽ vì vậy diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị hạn chế. Tuy
vậy, diện tích trồng chè vẫn tăng lên hàng năm do tỉnh xác định cây chè là cây công
nghiệp chủ lực.
Trong giai đoạn 2004 – 2006, diện tích trồng chè của tỉnh tăng mạnh. Năm
2005 so với 2004, diện tích trồng chè của tỉnh tăng 3,96% tương đương với 607 ha.
Năm 2006 so với 2005, diện tích tăng 435 ha (2.73%). Trong đó, diện tích tăng mạnh
nhất phải kể đến các huyện: Phú Lương chiếm 21,72% tổng diện tích toàn tỉnh, huyện
Đại Từ chiếm 30,72% tổng diện tích (năm 2006)
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2.1: Diện tích trồng chè phân theo huyện / thành phố / thị xã
Đơn vị : ha
Năm
Huyện, thị xã
2004 2005 2006 2007 2008
Ha
Tỷ trọng
(%)
Ha
Tỷ trọng
(%)
Ha Tỷ trọng (%) Ha
Tỷ trọng
(%)