Chuyãn âãö täút nghiãûp
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY DỆT MAY 29 - 3
I- NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN:
Tổ chức công tác kế toán theo kiểu tập trung đảm bảo công tác quản
lý chung của công ty, đồng thời quản lý chặt chẽ nguồn vốn, tài sản.
Phân công, phân nhiệm một cách rõ ràng giữa các nhân viên trong
phòng phù hợp với khả năng từng nguồn nhằm đảm bảo tốt công tác hạch
toán kế toán tại công ty.
Công ty áp dụng hình thức nhật ký chứng từ, sử dụng nhiều sổ chi
tiết nên rất thuận lợi cho việc đối chiếu kiểm tra.
Tuy nhiên, công tác hạch toán kế toán của công ty còn một số nhược
điểm đó là chưa mở sổ theo dõi chi tiết công nợ phải thu theo từng thời
điểm làm ảnh hưởng đến công tác phân tích vốn lưu động chưa lập thuyết
minh báo cáo tài chính và báo cao lưu chuyển tiền tệ.
II. NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY:
Qua những phân tích ở phần II, ta có thể rút ra những nhận xét như
sau:
- Lượng vốn lưu động ròng của cả 2 năm 2001, 2002 đều âm rất lớn,
qua đây ta có thể biết được tình hình tài chính của công ty chưa tốt do
nguồn vốn thường xuyên của công ty không đủ để tài trợ cho TSCĐ. Mặt
khác, nhu cầu về vốn lưu động ròng của công ty là rất lớn và có xu hướng
gia tăng trong năm 2002 do hàng tồn kho, các khoản phải thu tăng mạnh
nên vốn lưu động ròng không đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu về vốn lưu
động ròng. Vì vậy công ty phải vay ngắn hạn để tài trợ cho một phần TSCĐ
và tài trợ hoàn toàn cho vốn lưu động. Do đó áp lực thanh toán của công ty
là rất lớn, rủi ro về tài chính rất cao. Trong năm đến công ty cần dự đoán
nhu cầu vốn lưu động cũng như có kế hoạch tìm ra nguồn tài trợ hợp lý để
giảm bớt những rủi ro nói trên.
- Lượng tiền dự trữ của công ty tương đối thấp, dễ dẫn đến tình
1. Xác định nhu cầu VLĐ cần thiết và tìm nguồn tài trợ:
1.1. Xác định nhu cầu tối thiểu về VLĐ:
Để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục, công ty
cần một lượng vốn lưu động cần thiết để đáp ứng với quy mô và tính chất
công việc của mình. Nếu số vốn lưu động dự trữ quá thấp do với nhu cầu sẽ
gây khó khăn cho tính liên tục của quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp,
ngược lại nếu quá cao sẽ gây tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí vốn, vốn lưu
động chậm luân chuyển và phát sinh nhiều chi phí không hợp lý làm cho
giá thành tăng lên, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy việc
xác định nhu cầu VLĐ cho kỳ kế hoạch là rất cần thiết đối với mỗi doanh
nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và nhất là đối với công
ty Dệt may 29/3 đang hoạt động trong tình trạng thiếu vốn, khả năng cạnh
tranh trên thị trường chưa cao.
Ở công ty Dệt may 29/3, cần phải có phương pháp để xác định nhu
cầu vốn lưu động trong năm kế hoạch, phương pháp này thường căn cứ vào
số vòng quay VLĐ năm báo cáo, kết hợp với nhiệm vụ tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động năm kế hoạch và doanh thu đạt được trong năm đến.
Công thức xác định nhu cầu vốn lưu động như sau:
Trang 2
Chuyãn âãö täút nghiãûp
Trong đó:
: Nhu cầu VLĐ bình quân cần thiết năm kế hoạch.
M
1
: doanh thu thuần năm kế hoạch
t(%): tốc độ tăng vòng quay VLĐ năm kế hoạch so với năm báo cáo
L
0
: số vòng quay VLĐ năm báo cáo (với L
0
: Số VLĐ thừa hoặc thiếu so với nhu cầu
V
tc
: nguồn VLĐ trong nguồn vốn kinh doanh ở đầu kỳ kế hoạch
V
bs
: VLĐ doanh nghiệp bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh
trong năm kế hoạch.
Trang 3
)t1(L
M
V
0
1
1
+
=
1
V
1
V
%)151(9,1
000.000.000.120
+
Chuyãn âãö täút nghiãûp
Trong năm 2003, công ty mong muốn tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
doanh thu dạt được như năm 2002, với mức tỷ suất năm 2002 là
Giả sử với những nổ lực của mình, công ty đã đạt được mức tỉ suất
như trên. Như vậy lợi nhuận dự kiến sau thuế mà công ty đạt được trong
năm 2003 là:
pháp nhằm quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả hàng tồn kho là cần thiết.
Công ty nên phân loại hàng tồn kho theo từng khoản mục nguyên vật liệu,
Trang 4
%11,0
933.377.497.111
573.011.119
≈
Chuyãn âãö täút nghiãûp
sản phẩm dở dang và thành phẩm tồn kho. Sau đó dựa vào tình hình biến
động của mỗi loại ở hiện tại và dự đoán trong tương lai mà có biện pháp xử
lý kịp thời.
Về nguyên vật liệu, do không có kế hoạch dự trữ mua hợp lý nên gây
khó khăn trong việc sử dụng vốn. Vì vậy việc đầu tiên trong giải pháp
nguyên vật liệu là phải lập kế hoạch dự trữ , kế hoạch mua nguyên vật liệu
hợp lý, ngoài việc khắc phục tình trạng hiện tại, lập kế hoạch mua sắm
nguyên vật liệu, còn giúp công ty từng bước phát triển bền vững trong
tương lai.
2.1. Xây dựng mô hình tồn kho EOQ cho sợi:
Đối với công ty Dệt may 29/3 do đặc điểm hoạt động kinh doanh là
dệt khăn và may gia công nguyên vật liệu chủ yếu là cho ngành dệt, còn
ngành may nguyên vật liệu chính do bên đặt gia công cung cấp hay đặt mua
từng nước ngoài. Để quản lý tốt nguyên vật liệu, ta phải xây dựng mô hình
tồn kho hợp lý trên cơ sở cực tiểu hoá chi phí và đảm bảo tiến độ sản xuất
của công ty, cần xác định nên mua bao nhiêu nguyên vật liệu và mỗi lần
mua với sản lượng bao nhiêu để tránh tình trạng dư thừa gây lãng phí, ứ
đọng vốn hay thiếu hụt làm ách tắc sản xuất ở công ty Dệt may 29/3, sợi là
NVL chính dùng cho ngành dệt may và là NVL tồn kho chủ yếu. Do đó, ta
có thể sử dụng mô hình EOQ để xác định số lượng sợi một lần mua, số liệu
sợi tồn kho hợp lý tại công ty. Đây là mô hình sản lượng sợi đặt hàng hiệu
quả nhất.
Vốn lưu động bình quân ( ) cần cho lượng sợi tồn kho:
=
= = 785.989.950 đồng.
- Một vấn đề làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
không thể không nói đến là việc cấp phát nguyên vật liệu ở công ty. Trong
quá trình sản xuất, công ty cấp phát nguyên vật liệu theo yêu cầu của các
bộ phận sản xuất căn cứ vào định mức và số vật tư có trong kho, trong khi
đó khâu lập kế hoạch định mức tiêu hao nguyên vật liệu chưa được coi
trọng ở công ty. Công ty cứ giữ định mức cũ 1,12 kg sợi để sản xuất 1 kg
Trang 6
400.1
000.000.1x000.560x2
3,284.28
000.560
2
400.1x3,284.28
2
3,284.28
V
V
nàmtrongmualáönSäú
khotäönphêchitäøngmuagiaï +
20
010.799.39000.560x000.28
+