ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ ĐÌNH NGÂN
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN
PHƯƠNG TRÌNH LƯỢNG GIÁC
CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Nhụy
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại
học Giáo dục- Đại học Quốc Gia Hà Nội và các thầy giáo, cô giáo đang công
tác giảng dạy tại trường đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho
tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy
PGS.TS. Nguyễn Nhụy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá
trình làm việc để Luận văn được hoàn chỉnh và hoàn thành đúng thời hạn.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu cùng các
thầy cô giáo tổ Toán- Tin và các em học sinh trường THPT Khoái Châu –
Khoái Châu – Hưng Yên đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tác giả trong quá trình
thực nghiệm sư phạm để đề tài được thực hiện đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Sự quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi của gia đình, bạn bè
và các đồng nghiệp trong quá trình học tập, thực hiện nghiên cứu đề tài là
nguồn động viên, cổ vũ tiếp thêm sức mạnh cho tác giả. Tác giả xin chân
thành cảm ơn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn Luận văn không thể tránh
Giáo viên
HS
Học sinh
L
Loại
SGK
Sách giáo khoa
THPT
Trung học phổ thông
VN
Vô nghiệm
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ...................................................................................................... i
Danh mục các chữ viết tắt .............................................................................. ii
Mục lục ......................................................................................................... iii
Danh mục các hình ........................................................................................ v
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................. 6
1.1. Kỹ năng và kỹ năng giải toán .................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm kỹ năng ................................................................................ 6
1.1.2. Kỹ năng giải toán ................................................................................. 7
1.1.3. Vai trò của kỹ năng giải toán ................................................................ 8
1.1.4. Phân loại kỹ năng trong môn Toán ....................................................... 9
1.2. Thực trạng việc dạy học Toán, dạy và học Phương trình lượng giác ở
một số trường Trung học phổ thông ............................................................. 11
1.2.1. Thực trạng dạy học Toán ở một số trường Trung học phổ thông trên
địa bàn huyện Khoái Châu - Hưng Yên ........................................................ 11
1.2.2. Thực trạng việc học Phương trình lượng giác ở một số trường Trung
học phổ thông trên địa bàn huyện Khoái Châu - Hưng Yên .......................... 13
1.2.3. Thực trạng việc dạy Phương trình lượng giác ở một số trường Trung
học phổ thông trên địa bàn huyện Khoái Châu - Hưng Yên .......................... 14
2.2.5. Phương trình lượng giác với điều kiện ràng buộc về ẩn ...................... 67
2.2.6. Phương trình lượng giác không mẫu mực ........................................... 80
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................. 86
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm .................................. 86
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm ................................................... 86
3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm ................................................... 86
3.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm ....................................................... 86
3.3. Kế hoạch và nội dung thực nghiệm sư phạm ......................................... 87
3.3.1. Kế hoạch và đối tượng thực nghiệm sư phạm ..................................... 87
3.3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm .......................................................... 87
3.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm .......................................................... 103
3.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm ............................................................. 103
3.5.1. Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm .............................. 103
3.5.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm .......................................................... 107
3.6. Tổng kết .............................................................................................. 110
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................... 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 112
iv
DANH MỤC CÁC BIỂU
TT
Tên biểu
Thực tế cho thấy thói quen "cầm tay chỉ việc" đã trở thành "mẫu số
chung" của giáo viên ở nhiều trường học. Việc đổi mới nhằm khắc phục lối
truyền thụ kiến thức một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, giáo viên tập
trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học theo phương châm “giảng ít, học
nhiều”, bồi dưỡng ý thức học tập suốt đời. Đổi mới từ cách học chủ yếu là lắng
nghe và ghi chép sang suy nghĩ và phản hồi tích cực với bạn, với thầy.
Trước đây, lối truyền thụ kiến thức một chiều đã hạn chế năng lực tư
duy của học sinh. Tuy nhiên, kiến thức phải tự làm ra thì mới vững bền, chắc
chắn, cho nên phương pháp dạy học để tự học sinh phát hiện, tìm tòi, sáng
tạo thì kiến thức mới chắc chắn, linh hoạt, nhớ lâu được. Trong dạy học, cần
1
lấy học sinh làm trung tâm, với vai trò là người tự khám phá kiến thức cho
mình; thầy giáo là người hướng dẫn, chỉ đạo việc học chứ không truyền thụ
kiến thức. Khoa học, công nghệ phát triển liên tục, ngành nghề, kỹ thuật
luôn đổi mới đòi hỏi mỗi người phải có năng lực tự học, cho nên ngay bậc
học phổ thông đã phải rèn luyện năng lực tự học cho học sinh. Vì vậy, điều
quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phải rèn luyện phương
pháp tự học của học sinh; học sinh tự học trong mối tương tác giữa học sinh
với nhau, tương tác với tài liệu và sách giáo khoa, dưới sự chỉ dẫn của thầy
để chiếm lĩnh được tri thức.
Trong chương trình toán Trung học phổ thông nội dung về “Lượng
giác” được dạy từ lớp 10 đến lớp 11 và đây là một nội dung thường xuất hiện
trong các đề thi đại học, cao đẳng trong nhiều năm nay. Các bài tập về
phương trình lượng giác có nhiều công thức lượng giác khó nhớ, các dạng bài
tập phong phú với nhiều cách giải khác nhau, do đó cần rèn luyện cho học
rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh nhưng chủ yếu là thông qua các nội
dung Toán học như đạo hàm, tích phân, phép biến hình, phương pháp
vectơ,… nhưng chưa có luận văn nào nghiên cứu về việc rèn luyện kỹ năng
giải Phương trình Lượng giác cho học sinh.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu xây dựng, phát triển hệ thống bài
tập chủ đề “Phương trình lượng giác” nhằm rèn luyện kỹ năng giải toán cho
học sinh Trung học Phổ thông qua chủ đề này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ năng giải toán.
- Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giải toán của học sinh trong khi học
chủ đề “Phương trình lượng giác”.
- Hệ thống hóa các kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh và phân tích lý
luận khi dạy học chủ đề “Phương trình lượng giác”.
- Qua thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài để áp
dụng vào giảng dạy.
5. Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy và học môn Toán ở một số trường Trung học phổ thông.
3
5.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình hình thành kỹ năng giải toán của học sinh.
5.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung chương trình Đại số và Giải tích 11 phần “Phương trình
lượng giác”.
- Phương pháp quan sát điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được chia làm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Xây dựng hệ thống các bài tập trong chủ đề “Phương trình
lượng giác” theo hướng rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Kỹ năng và kỹ năng giải toán
1.1.1. Khái niệm kỹ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Những định nghĩa này
thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người
viết. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành
khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá trình
lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn
có chủ đích và định hướng rõ ràng.
Theo tâm lý học, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động
bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm về hành động này để tiến
quả một hành động hay một hoạt động nào đó. Nói đến kỹ năng là nói đến
cách thức, thủ thuật và trình tự thực hiện các thao tác hành động để đạt được
mục đích đã định. Kỹ năng được hình thành và phát triển dựa trên kiến thức,
nó tiếp tục giúp củng cố kiến thức và có thể phát triển thành kỹ năng mới phù
hợp với sự phát triển trí tuệ và rộng hơn là phù hợp với yêu cầu của cuộc
sống. Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động, nó hình thành và phát
triển trong hoạt động và bằng hoạt động.
Để một người có kỹ năng hành động phải có các yêu cầu sau đây:
- Có tri thức, kinh nghiệm về hành động, tức là nắm được nội dung,
mục đích, cách thức, điều kiện thực hiện… của hành động.
- Tiến hành hành động theo đúng yêu cầu của nó với thời gian tương ứng.
- Đạt kết quả hành động ngay trong cả điều kiện quen thuộc lẫn cả
những điều kiện thay đổi nhất định.
1.1.2. Kỹ năng giải toán
Giải một bài toán là tiến hành một hệ thống hành động có mục đích, do
đó chủ thể giải toán phải nắm vững tri thức về hành động, thực hiện hành
động theo các yêu cầu cụ thể của tri thức đó, biết hành động có kết quả trong
những điều kiện khác nhau. Trong giải toán, theo tôi quan niệm về kỹ năng
giải toán của học sinh như sau: "Kỹ năng giải toán là khả năng vận dụng có
mục đích những tri thức và kinh nghiệm đã có vào giải những bài toán cụ thể,
thực hiện có hiệu quả một hệ thống hành động giải toán để đi đến lời giải bài
toán một cách khoa học"
7
Kỹ năng giải toán là khả năng vận dụng các kiến thức Toán học để giải
các bài tập Toán học (tìm tòi, suy đoán, suy luận, chứng minh …).
Kỹ năng giải toán dựa trên cơ sở của tri thức toán học bao gồm: kiến
thạo vào việc giải bài tập. Có thể nói, bài tập toán chính là “mảnh đất” để rèn
luyện kỹ năng giải toán. Do đó, để rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh,
giáo viên cần tăng cường hoạt động giải toán (đây cũng chính là hoạt động
chủ yếu khi dạy toán). Cụ thể hơn thông qua hoạt động giải toán, rèn luyện kỹ
năng giải toán cho học sinh cần quan tâm chú trọng những vấn đề sau:
- Cần hướng cho học sinh biết cách tìm tòi để nhận xét ra yếu tố đã cho,
yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng. Nói cách khác, hướng cho học
sinh biết cách phân tích đặc điểm bài toán.
- Hướng cho học sinh hình thành mô hình khái quát để giải quyết các
bài tập, các đối tượng cùng loại.
- Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các
kiến thức tương ứng.
Ngoài ra, cần tạo nhu cầu hứng thú cho học sinh, khắc phục những ảnh
hưởng tiêu cực của thói quen tâm lý bằng cách rèn luyện các mặt sau:
- Nhìn bài toán dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ đó so sánh các cách
giải với nhau để hiểu sâu sắc, vận dụng hợp lý kiến thức.
- Quan sát tỉ mỉ và chú ý tìm ra đặc điểm của bài toán.
- Tích cực suy nghĩ, tìm tòi cách giải ngắn gọn trong khi giải toán.
Tóm lại, song song với việc truyền thụ tri thức toán học thì việc rèn
luyện kỹ năng đóng một vai trò quan trọng góp phần bồi dưỡng tư duy toán
học cho học sinh.
1.1.4. Phân loại kỹ năng trong môn Toán
Trong tâm lý - giáo dục, người ta thường chia kỹ năng học tập cơ bản
thành bốn nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức hoạt
động nhận thức và kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá [6,tr. 171].
1.1.4.1. Kỹ năng nhận thức
Kỹ năng nhận thức trong môn Toán bao gồm nhiều khía cạnh đó là: khả
năng nắm bắt một khái niệm, định lý, kỹ năng áp dụng thành thạo mỗi quy tắc
trong đó có yêu cầu vận dụng linh hoạt, tránh máy móc [6, tr. 172].
- Kỹ năng toán học hoá tình huống thực tiễn.
1.1.4.3. Kỹ năng tổ chức hoạt động nhận thức
Để có kỹ năng tổ chức hoạt động nhận thức đòi hỏi người học phải có
kế hoạch học tập và biết cách học phù hợp với điều kiện năng lực của bản
thân nhằm phấn đấu đạt được mục đích đặt ra trong từng giai đoạn.
10
1.1.4.4. Kỹ năng tự kiểm tra đánh giá
Người học phải biết tự kiểm tra đánh giá bản thân mình để biết xem
mình đã đạt đến đâu, đạt được cái gì, điểm nào mạnh, điểm nào còn yếu… từ
đó có kế hoạch điều chỉnh hoạt động học tập của bản thân để đạt được kết quả
cao hơn.
Ở trường phổ thông chúng ta thường mới quan tâm tới kết quả kiểm tra
từ phía giáo viên đối với học sinh, từ đó giáo viên có thể điều chỉnh cách dạy
mà chưa quan tâm đến việc học sinh tự kiểm tra đánh giá bản thân.
Các tác giả Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy… đã xét kỹ năng tự kiểm
tra đánh giá trên các phương diện: kỹ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn
Toán, kỹ năng vận dụng tri thức toán học vào những môn học khác, kỹ năng
vận dụng toán học vào đời sống.
1.2. Thực trạng việc dạy học Toán, dạy và học Phương trình lượng giác ở
một số trường Trung học phổ thông
1.2.1. Thực trạng dạy học Toán ở một số trường Trung học phổ thông trên
địa bàn huyện Khoái Châu - Hưng Yên
Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào
hỏi dự đoán, nêu giả thuyết, tranh luận giữa những ý kiến trái ngược hoặc các
tình huống có chứa một số điều kiện xuất phát rồi yêu cầu học sinh đề xuất
các giải pháp. Còn nhiều giáo viên sử dụng chủ yếu phương pháp thuyết trình,
đàm thoại chưa chú ý đến nhu cầu hứng thú học sinh trong quá trình học.
Thực tế ở các trường phổ thông hình thức dạy học chưa phong phú, đa
dạng, cách thức truyền đạt chưa sinh động, chưa gây hứng thú cho học sinh,
học sinh nhiều khi tiếp nhận kiến thức còn bị động. Những kỹ năng cần thiết
của việc tự học chưa được chú ý đúng mức. Do vậy việc dạy học Toán ở
trường phổ thông hiện nay còn bộc lộ nhiều khuyết điểm và cần đổi mới. Đó
là học sinh chưa thực sự hoạt động một cách tích cực, chưa chủ động sáng
tạo, chưa được thảo luận để đưa ra khám phá của mình, kỹ năng vận dụng vào
thực tiễn còn yếu. Vai trò của giáo viên chủ yếu vẫn là thông báo kiến thức
dạy học sinh cách chứng minh, phán đoán và một số thói quen làm việc nhất
định chứ chưa kích thích học sinh tìm đoán, sáng tạo bài toán. Hơn nữa do thời
gian hạn chế, khối lượng kiến thức cần truyền đạt theo SGK thì nhiều và phải
dạy đúng phân phối chương trình nên chưa phát huy được tính độc lập, sáng
12
tạo học sinh. Chưa tạo được môi trường để học sinh độc lập khám phá, tìm tòi
và nghiên cứu.
1.2.2. Thực trạng việc học Phương trình lượng giác ở một số trường Trung
học phổ thông trên địa bàn huyện Khoái Châu - Hưng Yên
Trong quá giảng dạy của mình với những kinh nghiệm và trao đổi với
giáo viên và học sinh cho thấy lượng giác là một chủ đề khá khó đối với nhiều
học sinh trong chương trình toán học trung học phổ thông. Mặc dù, SGK mới
đã có nhiều giảm tải về nội dung và yêu cầu đối với học sinh nhưng để học tốt
phần lượng giác không đơn giản. Qua tìm hiểu từ các em học sinh đa số các
- Tính bị động của học sinh khá lớn nên giáo viên vất vả trong quá trình
giảng dạy nếu yêu cầu cao đối với học sinh.
1.2.3. Thực trạng việc dạy Phương trình lượng giác ở một số trường Trung
học phổ thông trên địa bàn huyện Khoái Châu - Hưng Yên
Theo chương trình cải cách giáo dục (từ năm 2007), các công thức
lượng giác được đưa xuống dạy ở cuối lớp 10; phương trình lượng giác được
dạy ở đầu lớp 11. Chính vì vậy đây là nội dung được nhiều thầy cô giáo và
các em học sinh quan tâm. Nhưng để hiểu sâu sắc và thấy được cái hay của
các bài toán lượng giác thì cả giáo viên và học sinh đều phải bỏ rất nhiều thời
gian và công sức nghiên cứu. Giáo viên cần có thời gian giảng dạy vài năm để
đúc rút được kinh nghiệm giảng dạy phần môn học này. Học sinh cũng mất
một khoảng thời gian để vừa ôn lại kiến thức cũ, vừa lĩnh hội kiến thức mới
để có thể làm chủ kiến thức lâu hơn khi học các nội dung khác.
Để tìm hiểu được thực trạng dạy học Phương trình lượng giác ở trường
THPT tôi đã tiến hành dự giờ quan sát, thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh
thu được kết quả như sau:
Khi dạy lý thuyết:
- Giáo viên vừa phải lồng ghép việc ôn kiến thức cũ với việc truyền đạt
kiến thức mới trong khi phân phối chương trình còn nhiều bất cập.
- Đây là nội dung khó nên giáo viên thường gặp khó khăn trong việc
phân hoá học sinh, chính vì vậy mất nhiều thời gian phân bậc kiến thức.
- Việc giúp cho học sinh nhớ hết được các công thức lượng giác đòi hỏi
giáo viên phải có nhiều kinh nghiệm mới có thể giúp học sinh nhớ lâu được
các công thức này.
Khi dạy bài tập:
14
15
người giáo viên phải có năng lực sư phạm tốt: phải nắm vững chương trình,
có trình độ tư duy toán học tốt, phải nắm chắc trình độ, năng lực học tập và
tính cách của học sinh. Theo tôi, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các sai
lầm thường gặp của học sinh khi giải các Phương trình lượng giác có thể là:
- Không hiểu được khái niệm, kí hiệu.
- Tính toán nhầm lẫn.
- Nhớ sai công thức.
- Thực hiện các phép biến đổi đồng nhất hoặc biến đổi phương trình
làm thay đổi tập xác định của phương trình.
- Xét thiếu trường hợp
- Lập luận thiếu lôgic
- Diễn đạt kém
- Không hiểu hoặc hiểu sai đề toán
Như vậy trong hoạt động giải phương trình lượng giác học sinh mắc sai
lầm có nhiều nguyên nhân như: tư duy thuật toán của học sinh còn yếu, tư duy
lô gíc chưa tốt; khả năng lĩnh hội và tái hiện kiến thức còn hạn chế; kỹ năng
tính toán chưa thành thạo. Dưới đây thông qua các ví dụ cụ thể, chúng tôi sẽ
phân tích các dạng sai lầm thường gặp của học sinh khi giải phương trình
lượng giác, vạch ra một số biện pháp cụ thể nhằm khắc phục những sai lầm đó.
1.2.4.1. Hiểu không đúng khái niệm, ký hiệu
Trong sách giáo khoa đã nêu định nghĩa phương trình dựa vào mệnh đề
chứa biến. Theo định nghĩa này, phương trình sin x a có tập xác định là R
(tập số thực) và có tập nghiệm là tập tất cả các số thực x0 sao cho mệnh đề
" sin x0 a " là mệnh đề đúng. Nếu theo định nghĩa này, trong các phương
trình lượng giác, ẩn x chỉ các số thực cần tìm và x không phải là góc hay cung
6
2k và x
5
2k .
6
Như vậy trong chương trình, đồng hành cả hai quan niệm về phương
trình lượng giác, do đó trong từng bài toán cụ thể cần nhận thức được là
phương trình được hiểu theo nghĩa nào.
Ví dụ. Giải các phương trình:
a) sin 3x 1 sin x 2
1
b) sin x 1200 cos 2 x
theo nghĩa mở rộng: tìm góc x (hoặc số đo của góc lượng giác tính bằng độ)
thoả mãn đẳng thức sin x 1200 cos 2 x . Trong phương trình (3) có thể
được hiểu theo cả hai nghĩa.
Như vậy học sinh viết kết quả của phương trình (1) dưới dạng
x
3
k1800 và x 1 450 k 3600 thì HS đó phạm sai lầm không hiểu đúng
2
khái niệm và ký hiệu. Tương tự, nếu viết nghiệm của (2) là x
x
7 2k
và
18
3
21
2k thì cũng mắc sai lầm nói trên. Để khắc phục các sai lầm loại
18
này, cần làm cho học sinh quán triệt quan điểm hàm mệnh đề trong định nghĩa
phương trình lượng giác với nghĩa bổ xung như đã nói ở trên. Mặt khác, để
17
2
2
nên x 150 450 x 600 là một nghiệm của
2
phương trình, do đó tất cả các nghiệm của phương trình là x 600 k 3600 .
Giải như vậy học sinh đã làm thừa rất nhiều nghiệm ( x 600 k 3600 không
là nghiệm của phương trình) và cũng làm thiếu rất nhiều nghiệm (thiếu các
nghiệm x 300 k 3600 ). Lý do dẫn đến sai lầm trên là học sinh đã lẫn lộn
giữa công thức nghiệm của phương trình cơ bản và phương trình gần cơ bản.
Phương trình đã cho là phương trình gần cơ bản, nếu đặt t x 150 thì
18