Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 05 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
------------***------------

ĐỖ THỊ LAN HƢƠNG

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
CÁC TRƢỜNG MẦM NON THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
THEO HƢỚNG CHUẨN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
------------***------------

ĐỖ THỊ LAN HƢƠNG

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
CÁC TRƢỜNG MẦM NON THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
THEO HƢỚNG CHUẨN HÓA

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

trên, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các
trường Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn
hóa” mong muốn góp phần đề ra các biện pháp quản lý một cách đồng bộ, có
tính khả thi cao, phù hợp với xu thế phát triển xã hội và đáp ứng được mục
tiêu phát triển của địa phương.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường
Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo
dục Mầm non ở địa phương.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
5


3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non Thị xã
Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Đội ngũ CBQL trường Mầm non sẽ phát triển cân đối và đồng bộ, đáp
ứng được các tiêu chuẩn do bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành cũng như
các yêu cầu của giáo dục Mầm non, nếu đội ngũ cán bộ quản lý trường Mầm
non được phát triển trên cơ sở một hệ thống các biện pháp có căn cứ khoa học
và phù hợp với thực tiễn do đề tài đề xuất.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các
trường Mầm non theo hướng chuẩn hóa.
- Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý các trường Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

phòng Nội vụ, phòng giáo dục, lãnh đạo cấp ủy và chính quyền địa phương;
điều tra bằng phiếu hỏi đối với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và một số giáo
viên các trường Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về công tác tổ
chức cán bộ và các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục bậc Mầm non;
- Phương pháp điều tra, khảo sát…
7.3. Phương pháp xử lý số liệu:
Dùng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về việc phát triển
nguồn nhân lực, đặc biệt là phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non thị xã
Sơn Tây.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn:

7


Các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL ở các trường Mầm non có thể là
công cụ khả thi cho cho lực lượng CBQL giáo dục nói chung và cho UBND
thị xã, phòng Nội vụ, phòng GD & ĐT thị xã nói riêng.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các
trường Mầm non theo hướng chuẩn hóa.
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường
Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa.
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường
Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa.

Trung ương I, năm 2000).

9


“Một số biểu hiện năng lực tổ chức của người Hiệu trưởng trường Mầm
non Hà Nội” (Nguyễn Thị Lộc, Đại học Sư phạm I, Hà Nội 1995-1997).
“Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành học Mầm non” (Bộ giáo dục
và đào tạo, Trường cán bộ quản lý GD&ĐT, Hà Nội 2000)
Điểm chung của tất cả các công trình vừa kể tên trên đã đề cập đến đội
ngũ CBQL mầm non, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ
về các biện pháp xây dựng đội ngũ này, Hiện nay, các địa phương nhận thức
thấy vai trò quan trọng và yêu cầu cấp bách trong việc xây dựng đội ngũ
CBQL nên đã tự biên soạn các chương trình đào tạo, bồi dưỡng riêng cho
mình, với nội dung rất đa dạng, muôn màu muôn vẻ, ít nhiều cũng góp phần
vào việc nâng cao trình độ lý luận quản lý, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ
cán bộ mầm non. Tuy đạt được một số ưu điểm trên nhưng còn nhiều vấn đề
cần phải bàn đến như sau:
- Còn xem nhẹ phần kiến thức cơ sở, chưa đảm bảo việc gắn lý luận với
thực tiễn, học đi đôi với hành.
- Chưa đề cập đầy đủ các công việc của người hiệu trưởng mầm non, nội
dung chương trình còn nặng về lý thuyết, phương pháp giảng dạy chủ yếu là
thuyết giảng.
- Các bài tập trong chương trình phần lớn là những bài tập riêng lẻ, rời
rạc với một số lượng ít ỏi, thời gian dành cho thực hành còn hạn chế.
- Việc lập kế hoạch rất được chú trọng trong chương trình cũng vẫn
không được giảng dạy thật cụ thể, tỉ mỉ.
Những năm vừa qua, ngành giáo dục Thị xã Sơn Tây, Hà Nội cũng đã có
nhiều công trình được nghiên cứu và triển khai như việc xây dựng đội ngũ
giáo viên bồi dưỡng giáo viên dạy giỏi, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý

mọi hoạt động xã hội về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm quản lý theo nhiều quan niệm và cách tiếp
cận khác nhau. Trong khuôn khổ của luận văn này tác giả chỉ đưa ra một trong số
những định nghĩa kinh điển nhất: Quản lý là tác động có chủ hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) –

11


trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức [ 10].
Từ các quan niệm về quản lý, chúng ta có thể rút ra những vấn đề cốt
lõi của quản lý đó là:
Chủ thể quản lý (ai quản lý): Chỉ có thể là con người hoặc một tổ chức
do con người cụ thể lập nên.
Khách thể quản lý (quản lý ai, quản lý cái gì, quản lý công việc gì): Đó
có thể là người, tổ chức, vật chất hay sự việc.
Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại,
tương hỗ nhau, chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý còn khách
thể quản lý thì sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng
trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản
lý. Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý
các tác động đó nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa tri thức và lao động. Xét dưới góc độ điều khiển học hành động quản lý
chính là quá trình điều khiển sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay
đổi trạng thái (từ lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý).
1.2.2. Đội ngũ
Khái niệm về đội ngũ: Từ điển Tiếng Việt giải thích: “ Đội ngũ là tập
hợp số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một lực lượng” [34].
Khái niệm “đội ngũ” dùng các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng

lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý. CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức
thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức. Người quản lý vừa là người lãnh
đạo, quản lý cơ quan đó, vừa là người chịu sự lãnh đạo, quản lý của cơ quan
cấp trên.
CBQL có thể là cấp trưởng hoặc phó trưởng của một tổ chức được cơ
quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính của Nhà nước, cấp phó
giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách
nhiệm trước pháp luật và công việc được phân công.
CBQL được chia thành nhiều cấp bậc khác nhau: CBQL cấp trung
ương, CBQL cấp địa phương, CBQL cấp cơ sở.
13


Tóm lại: CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức
được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm; người có vai trò dẫn dắt, tác động, ra
lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị.
Người CBQL phải có phẩm chất và năng lực nổi trội hơn người khác, là tấm
gương cho mọi người trong đơn vị noi theo.
Từ khái niệm “đội ngũ”, “CBQL” nêu trên chúng ta hiểu: Đội ngũ
CBQL nhà trường chính là những người đứng đầu nhà trường hoặc các tổ
chức của nhà trường, được tập hợp lại thành một lực lượng.
1.2.4. Đội ngũ cán bộ quản lý
Theo lý luận trên thì đội ngũ CBQL chính là một bộ phận của đội ngũ.
Trong một nhà trường thì đội ngũ CBQL chính là tập hợp những người đứng
đầu nhà trường, đứng đầu một đơn vị, phòng ban, các chuyên viên, cùng
chung một nhiệm vụ quản lý trường học.
Đội ngũ CBQL giáo dục được đề cập trong luận văn này là đội ngũ
CBQL các trường mầm non bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các
trường mầm non. CBQL của mỗi trường mầm non là người chịu trách nhiệm
trước nhà nước về trọng trách quản lý nhà trường mầm non nhằm thực hiện

Theo triết học, khái niệm về phát triển như sau: “Phát triển là biến đổi
hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [19]. Phát triển nói lên
xu thế đi lên của sự vật, hiện tượng theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện
hơn. Phát triển còn là sự biểu hiện hàng loạt sự biến đổi kế tiếp của sự vật và
hiện tượng qua các giai đoạn khác nhau, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc sự
biến đổi. Quá trình đó cũng chính là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến thay
đổi về chất, cấu trúc của sự vật, hiện tượng. Quá trình phát triển chính là quá
trình làm biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ đơn
giản đến phức tạp. Phát triển được thể hiện qua các đặc trưng sau:
+ Sự phát triển của tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ,
tác động qua lại và quy định lẫn nhau;
+ Phát triển là quá trình vận động không ngừng;

15


+ Phát trển từ những thay đổi về số lượng được chuyển hoá thành
những thay đổi về chất lượng;
+ Phát triển thông qua sự đấu tranh, thống nhất giữa các mặt đối lập;
+ Phát triển có thể diễn ra bằng cách chuyển hoá, xoáy ốc và nhảy vọt;
+ Đảng và nhà nước ta đã xác định con đường phát triển bền vững đó là
sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không
tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Muốn phát triển về
kinh tế, văn hoá trước hết phải có một nguồn nhân lực có chất lượng, bởi vậy
cần phải phát triển GD&ĐT; mà cốt lõi là phát triển đội ngũ của ngành GD& ĐT,
trong đó có đội ngũ CBQL và đội ngũ giáo viên.
1.2.5.2. Phát triển nguồn nhân lực
* Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một khái niệm cơ bản. Từ góc độ quản trị học (khoa

chức phù hợp về mặt số lượng và có chất lượng cao.
Hai là : Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực gồm: Tuyển dụng; sàng lọc; bố
trí; sử dụng; đánh giá; đãi ngộ.
Ba là : Nuôi dưỡng môi trường, tạo điều kiện cho nguồn nhân lực phát
triển gồm : Mở rộng chủng loại; quy mô việc làm; phát triển tổ chức.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu : “...Phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
giỏi, đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá đầu đàn” [16]. Đây là
quan điểm phù hợp với xu thế chung coi con người đứng ở trung tâm của sự
phát triển. Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục
tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và
phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng
lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa; khẳng định con người Việt Nam
phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực, cả về khả năng lao động, năng lực
sáng tạo và tính tích cực chính trị, xã hội, cả về đạo đức, tâm hồn và tình cảm
chính là mục tiêu, là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa…Mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm
17


quán triệt tư tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, hướng
tới mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam.
Để giữ vai trò của con người thì GD&ĐT được coi là chủ đạo phát huy
nguồn lực con người Việt Nam vào mục tiêu CNH - HĐH thể hiện ở việc bồi
dưỡng phát huy sức mạnh của đội ngũ nhân lực, của bộ phận nhân tài, trên
nền tảng của sức mạnh dân trí.
Quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống GD&ĐT xét theo phạm vi rộng
là quản lý đội ngũ CBQL, giáo viên và công nhân viên thuộc ngành GD&ĐT.
Ngày nay, phát triển nguồn nhân lực được hiểu với một khái niệm rộng
hơn bao gồm cả 3 mặt: Phát triển sinh thể, phát triển nhân cách đồng thời tạo

quy mô, chất lượng, cơ cấu. Trong đó quy mô được thể hiện bằng số lượng.
Cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong bố trí về nhiệm vụ, độ tuổi, giới tính, chuyên
môn, nghiệp vụ. Chất lượng chính là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây
dựng và phát triển đội ngũ CBQL. Chất lượng theo từ điển tiếng Việt là phạm
trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng chỉ rõ nó
là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật. Theo định nghĩa của ISO 90012008: chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính
vốn có. Theo UNESCO đối với giáo dục có thể hiểu rằng: Chất lượng là sự
thoả mãn ngu cầu người học.
Xét về quy mô, chất lượng, cơ cấu dưới góc nhìn về việc phát triển
nguồn nhân lực của nền kinh tế tri thức thì nội dung xây dựng và phát triển
đội ngũ CBQL bao gồm:
- Xây dựng đội ngũ CBQL chính là thực hiện quy hoạch, đào tạo tuyển
chọn, bổ nhiệm, sắp xếp bố trí.
- Sử dụng đội ngũ CBQL là việc triển khai thực hiện các chức năng quản
lý của đội ngũ, thực hiện việc bồi dưỡng phát triển năng lực quản lý, phẩm
chất chính trị, đánh giá sàng lọc.

19


- Tạo động cơ và môi trường cho sự phát triển là tạo điều kiện cho đội
ngũ CBQL phát huy vai trò của họ như thực hiện chính sách đãi ngộ, chế độ
khen thưởng, kỷ luật, xây dựng điển hình tiên tiến nhân ra diện rộng. Tạo cơ
hội cho cá nhân có sự thăng tiến, tạo ra những ước mơ, hoài bão kích thích
cho sự phát triển. Tạo cơ hội cho CBQL có điều kiện học tập, bồi dưỡng, giao
lưu trao đổi kinh nghiệm.
1.2.5.4. Chuẩn, chuẩn hóa
- Chuẩn là tiêu chuẩn, bao gồm một hệ thống những tiêu chí được đề ra.
- Chuẩn hóa là quá trình xác lập chuẩn cho đối tượng; để thực hiện nó,
phải xây dựng tiêu chuẩn và vận dụng tiêu chuẩn để xây dựng đối tượng đạt

cán bộ, giáo viên, nhân viên học tập, bồi dưỡng và rèn luyện nâng cao phẩm
chất chính trị, đạo đức; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.
Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm: Có năng lực chuyên môn
để chỉ đạo các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm
non; Có năng lực tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên
về chuyên môn giáo dục mầm non; Có kiến thức phổ thông về chính trị, kinh
tế, y tế, văn hóa, xã hội liên quan đến giáo dục mầm non; Có khả năng vận
dụng các phương pháp đặc thù của giáo dục mầm non trong nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục trẻ; Có năng lực tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non; Có năng lực tư vấn, hướng
dẫn và giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên về nghiệp vụ sư phạm của giáo
dục mầm non.
Về năng lực quản lý trường mầm non: Vận dụng được các kiến thức cơ
bản về lý luận và nghiệp vụ quản lý trong lãnh đạo, quản lý nhà trường; Dự
báo được sự phát triển của nhà trường, phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch
và kế hoạch; Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nhà trường
toàn diện và phù hợp; Quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, giáo viên, nhân viên
nhà trường; Sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá xếp loại, khen thưởng kỉ
luật, thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên theo
quy định; Tổ chức hoạt động thi đua trong nhà trường; xây dựng đội ngũ cán
bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường đoàn kết, đủ phẩm chất, năng lực để thực
21


hiện mục tiêu giáo dục, được cha mẹ trẻ tín nhiệm; Tổ chức huy động và tiếp
nhận trẻ em trong độ tuổi trên địa bàn đến trường theo quy định, thực hiện
phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi; Tổ chức và chỉ đạo các hoạt
động nuôi dưỡng, chăm sóc để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho trẻ; Tổ chức
và chỉ đạo các hoạt động giáo dục để trẻ em phát triển toàn diện, hài hòa; Huy
động và sử dụng đúng quy định của pháp luật các nguồn tài chính phục vụ

và đặc trưng của trường mầm non, bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội hiện tại
cùng những đặc điểm tâm lý của người CBQL để đề ra nội dung, biện pháp
hướng chuẩn cho phù hợp.
1.3. Các đặc trƣng của bậc học mầm non
1.3.1. Vị trí của trường mầm non
Giáo dục mầm non là bộ phận đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
“Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tinh thần,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị đủ tâm thế cho trẻ vào lớp 1”. [ 5]
Cũng như ở các bậc học khác, GDMN luôn có mục đích là phát triển
con người toàn diện, Lứa tuổi mầm non (trẻ từ 0 đến 6 tuổi) là lứa tuổi còn
non nớt trong cuộc sống. Ngay từ khi mới ra đời, sự phát triển của trẻ phụ
thuộc chủ yếu vào người lớn và phát triển nhanh nhất, mạnh nhất ở giai đoạn
này. Vì vậy nhiều nhà tâm lý, nhà giáo dục đã khẳng định rằng, nếu không
giáo dục trẻ ngay trong giai đoạn này một cách khoa học và kịp thời thì rất
khó có thể phát triển con người tốt ở giai đoạn sau. Nhân dân ta thường nhắc
đến câu châm ngôn:
“ Uốn cây từ thuở còn non.
Dạy con từ thuở con còn thơ ngây”
Nghiên cứu sâu sắc về đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ, nhà giáo dục
học Xô viết Ma-ca-ren-cô đã viết: “Những cơ sở cơ bản của việc giáo dục đã
có từ trước 5 tuổi. Tất cả những điều dạy trẻ trong thời gian ấy chiếm 90%
toàn bộ trình tự giáo dục trẻ. Về sau, giáo dục con người vẫn tiếp tục, nhưng
lúc ấy là lúc bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa thì đã vun trồng trong năm

23


năm đầu tiên. Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục trẻ bắt đầu từ lứa tuổi mầm non
là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp GD&ĐT, sự nghiệp “trồng người”. Vì

phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo
và cho việc học tập suốt đời” [5].
Giáo dục mầm non được chia thành hai giai đoạn: nhà trẻ và mẫu giáo.
Giai đoạn nhà trẻ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba
tháng đến ba tuổi; giai đoạn mẫu giáo thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi.
Chương trình giáo dục mầm non là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công
tác chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non, đồng thời là căn
cứ để đào tạo bồi dưỡng giáo viên mầm non, tăng cường cơ sở vật chất và
đảm bảo các điều kiện khác để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.
1.3.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non
- Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba
tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hoà
nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật.
- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp
luật.
- Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc
theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn.
- Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt
động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia
các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
- Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
em theo quy định.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status