ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ THỊ HƢỜNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG
BÁCH KHOA HƢNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trọng Hậu
HÀ NỘI - 2009
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài ............................................................................... 1
2.
Mục đích nghiên cứu ......................................................................... 3
3.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu ................................................... 4
Các khái niệm cơ bản .....................................................................8
1.2.1.
Giảng viên, đội ngũ giảng viên ......................................................8
1.2.2.
Bồi dưỡng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên .....................................10
1.2.3.
Quản lý và chức năng quản lý .......................................................13
1.3.
Vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm của giảng viên trường cao
đẳng ................................................................................................1920
1.3.1.
Vai trò ............................................................................................19
1.3.2.
Nhiệm vụ và trách nhiệm của giảng viên trường cao đẳng
1.4.
Vài nét về điều kiện kinh tế - giáo dục của Tỉnh Hưng Yên
và nhu cầu phát triển về nguồn nhân lực trình độ Đại học,
Cao đẳng của tỉnh ..................................................................................
37
2.2.
Vài nét về Trường Cao đẳng Bách Khoa Hưng Yên .............................
38
2.2.1.
Tổng quan về lịch sử phát triển Trường Cao đẳng Bách Khoa
Hưng Yên ...............................................................................................
38
2.2.2.
Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ ..............................................................
39
2.2.3.
Cơ cấu tổ chức Trường Cao đẳng Bách Khoa Hưng Yên .....................
40
2.2.4.
Quy mô đào tạo và chất lượng đầo tạo ..................................................
Thực trạng về công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên ..........................
60
2.4.2.
Thực trạng về công tác tuyển dụng ........................................................
61
2.4.3.
Thực trạng về tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng
và tự bồi dưỡng ......................................................................................
63
2.4.4.
Thực trạng về cơ chế, chính sách cho đội ngũ giảng viên .....................
66
2.4.5.
Thực trạng về nâng cao nhận thức quản lý, đặc biệt là ứng
dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý đội ngũ giảng viên
2.4.6.
68
Thực trạng về kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên ............................
Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và đội
ngũ giảng viên về sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu đào
tạo của nhà trường, về vai trò và nhiệm vụ của giảng viên .................................
77
3.1.2.
Nhóm biện pháp về đổi mới công tác quy hoạch đội ngũ
giảng viên ...............................................................................................
81
3.1.3.
Nhóm biện pháp tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giảng viên ................
85
3.1.4.
Nhóm biện pháp đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ giảng viên ........................................................................................
88
3.1.5.
Nhóm biện pháp các điều kiện bảo đảm cho quản lý công tác
bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ................................................................
96
3.2.
32
Hình 2.1
Cơ cấu tổ chức của Nhà trường ...................................................................
41
Bảng 2.1
Các hệ và ngành nghề đào tạo của trường ..................................................
43
Bảng 2.2
Thống kê số lượng GV, cơ cấu giới, độ tuổi theo bộ môn
Bảng 2.3
Thống kê trình độ giảng viên ......................................................................
47
Bảng 2.4
Thống kê trình độ học vấn của GV theo từng bộ môn ................................
48
Bảng 2.5
Thống kê trình độ lí luận chính trị, số Đoàn viên - Đảng
viên
66
Bảng 2.11
Việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho ĐNGV ..............................................
65
Bảng 2.12
Cơ chế, chính sách của trường đối với ĐNGV ...........................................
67
Bảng 2.13
Mức độ thực hiện việc nâng cao năng lực quản lí , đặc biệt
là ứng dụng CNTT trong việc quản lí ĐNGV nhà trường ...................................
70
Bảng 2.14
Mức độ đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá ĐNGV ..............................
71
Bảng 3.1
Tổng hợp kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi
của các biện pháp ........................................................................................
104
cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong thời đại ngày nay,
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ thay đổi và phát triển vượt bậc với sự
ứng dụng các công nghệ cao trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò công
cụ phổ biến để xử lý thông tin, nâng cao năng lực nghiên cứu sáng tạo; nền
kinh tế đang quá độ chuyển sang nền “kinh tế tri thức” lấy chất lượng của
nguồn nhân lực làm yếu tố quyết định hàng đầu; xã hội thông tin, xã hội học
tập đang hình thành. Trước những đổi thay đó, người thầy muốn giữ vững
được vị trí của mình thì việc bồi dưỡng, đào tạo lại là một vấn đề cần phải đặc
biệt quan tâm. Do vậy, công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Cao đẳng là
một công việc cần được trú trọng trong các chương trình của công tác bồi
dưỡng giáo dục và đào tạo.
Trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên là một trường mới được thành
lập. Chức năng, nhiệm vụ của Trường chỉ có thể được thực hiện khi đội ngũ
giảng viên của trường được xây dựng, phát triển, bồi dưỡng đủ về số lượng và
đảm bảo về chất lượng. Thực tế trong thời gian qua trường Cao đẳng Bách
khoa Hưng Yên có nhiều cố gắng về nhiều mặt nhất là công tác bồi dưỡng đội
ngũ giảng viên để đáp ứng yêu cầu đào tạo. Song do đặc điểm tình hình riêng
của nhà trường trong thời gian qua và trước những yêu cầu nhiệm vụ hiện tại
cũng như thời gian tới, đội ngũ giảng viên nhà trường còn có những bất cập
về số lượng, chất lượng, về năng lực chuyên môn...
Với những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý công tác
bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Bách Khoa Hưng Yên” với
hy vọng tìm chọn được một số biện pháp có hiệu quả công tác bồi dưỡng đội
ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên phù hợp và khả thi.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ đó xác định những biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của trường.
3
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra chọn
mẫu, thu thập thông tin, phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia, xử lí kết quả bằng
thống kê toán học.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và pháp lý về quản lý công tác bồi dưỡng đội
ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở
Trường Cao đẳng Bách Khoa Hưng Yên.
Chƣơng 3 : Một số biện pháp quản lý có hiệu quả đối với công tác bồi
dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên.
4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC
BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG
1.1 . Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát
triển, vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích
quốc gia. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự phát triển năng
động của nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm cho việc
rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển ở các nước trở nên nhanh hơn.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Các quốc gia luôn coi trọng
phát triển nền giáo dục của nước mình nhằm đáp ứng ngày càng cao về nâng
quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả để phát triển giáo dục.
Chính vì thế, phát triển giáo dục và đào tạo được coi là nền tảng và
động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát
triển nguồn lực con người, thực hiện “mọi người đi học, học thường xuyên,
học suốt đời”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”.
Trước những biến đổi lớn lao về khoa học - công nghệ và kinh tế xã hội
đã làm nảy sinh những vấn đề lớn về giáo dục, đòi hỏi phải được giải quyết
chẳng những trong riêng từng nước mà còn trên phạm vi toàn cầu. Bối cảnh
sôi động của các xu hướng phát triển đời sống xã hội hiện đại làm cho giáo
dục các nước phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức to lớn, đặc biệt là
vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa quy mô - chất lượng và hiệu quả đào
tạo; giữa đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ; giữa nhu cầu và nguồn nhân lực cho
phát triển và Việt Nam không nằm ngoài vòng quay của sự phát triển này.
Vấn đề bồi dưỡng đội ngũ giảng viên được rất nhiều nhà nghiên cứu đi
sâu vào tìm hiểu như quản lý chuyên môn, bồi dưỡng giảng viên, xây dựng và
phát triển đội ngũ giảng viên ... được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước đề cập. Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều luận văn Thạc sĩ đã
6
nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng đội ngũ giảng viên từ những khía cạnh khác
nhau, nghiên cứu những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn công tác bồi dưỡng
đội ngũ giảng viên ở các ngành học, cấp học và các địa phương khác nhau.
Có thể nêu một số công trình nghiên cứu ở mức độ Thạc sĩ như sau:
- Luận văn Thạc sĩ: “Những biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng đội
ngũ giảng viên dạy thực hành tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp I” của tác giả Trần Ngọc Ban. Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu đổi mới quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên dạy thực
hành đang trực tiếp giảng dạy tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công
nhà giáo được thực hiện trên phông nền chung là mô hình nhân cách của thế
hệ trẻ mà xã hội đã đặt hàng với giáo dục. Nói cách khác, nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài mà nhà giáo thực hiện có mẫu số
chung là nhân cách của con người mới mà thế hệ trẻ Việt Nam cần vươn tới.
Với ý nghĩa này, có thể khẳng định những vấn đề kinh tế - xã hội và chính trị
của quốc gia sẽ không giải quyết được nếu như thiếu vắng giáo dục, thiếu
vắng nhà trường mà hạt nhân của nó là nhà giáo.
Điều 70, Luật Giáo dục chỉ rõ: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng
dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ
sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo
viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.” [32, tr. 27].
Giảng viên trường cao đẳng là cán bộ của Đảng và nhà nước, là thành
tố cơ bản của nhà trường, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng
nhân dân. Giảng viên trường cao đẳng gồm: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng,
trưởng, phó khoa, trưởng, phó bộ môn và các giảng viên các môn học.
* Giảng viên trường cao đẳng phải có những tiêu chuẩn:
+ Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt.
8
+ Đạt trình độ chuẩn về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (có bằng tốt
nghiệp cử nhân trở lên).
+ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.
+ Lý lịch bản thân rõ ràng.
Vậy có thể nói rằng: Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy
giáo dục ở các trường đại học, cao đẳng.
1.2.1.2. Đội ngũ giảng viên
Từ điển tiếng Việt giải thích khái niệm đội ngũ: “Là tập hợp gồm một
số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực
nhiều định nghĩa khác nhau.
Trong từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng 1997) cho rằng: Bồi dưỡng là
làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
Tác giả Nguyễn Minh Đường quan niệm: “Bồi dưỡng có thể coi là quá
trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp
học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ”.
Trong từ điển giáo dục [ 18, tr. 107 ]: Bồi dưỡng theo:
- Nghĩa rộng: là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và
những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn (ví
dụ: bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng các đức tính: cần, kiệm, liêm chính...)
- Nghĩa hẹp: là trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích
nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể (ví dụ:
bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lí luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm...)
UNESCO định nghĩa: “Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghề
nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao
kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng
nhu cầu lao động nghề nghiệp”.
10
Từ những định nghĩa nêu trên, bồi dưỡng có thể được hiểu là quá trình
bổ sung kiến thức, kỹ năng (những nội dung liên quan đến nghề nghiệp) để
nâng cao trình độ trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhất định giúp
chủ thể bồi dưỡng có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất
lượng hiệu quả công việc đang làm.
Như vậy, bồi dưỡng là làm tăng thêm trình độ hiện có của đội ngũ
giảng viên (cả phẩm chất, năng lực, sức khoẻ). Trong đó, chủ thể bồi dưỡng là
người lao động đã được đào tạo và đã có một trình độ chuyên môn nhất định.
đội ngũ giảng viên.
Mặt khác, đội ngũ giảng viên là tập hợp một nhóm người tham gia
giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học, Cao đẳng mà theo
tác giả Đặng Quốc Bảo thì họ phải được gắn kết với nhau bằng lí tưởng và
mục tiêu chung. Nói đến việc bồi dưỡng đội ngũ là nhằm đạt đến các yếu tố:
đủ về số lượng; mạnh về chất lượng; đồng bộ về cơ cấu; đồng thuận về hành
động [1, tr. 12]. Có thể mô hình hoá chất lượng đội ngũ giảng viên như sau:
Hình 1.1 Chất lƣợng đội ngũ giảng viên
Số
lƣợng
Sè lîng
Năng lực
Cơ cấu
Phẩm chất đạo đức,
chính trị
12
1.2.3. Quản lý và chức năng quản lý
1.2.3.1. Quản lý
Cuộc sống xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển. Từ lao
động riêng rẽ, đơn giản đến lao động phối hợp, phức tạp, con người đã biết
phân công, hợp tác với nhau trong quá trình lao động của cộng đồng. Hoạt
động quản lý đã bắt nguồn từ đó và nó ra đời như một tất yếu khách quan.
Xã hội loài người đã trải qua hàng vạn năm, qua rất nhiều thời kỳ phát
triển của lịch sử, “Quản lí đã trở thành một hoạt động phổ biến diễn ra trên
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức
năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [7, tr.1].
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý, nhưng nhìn chung
các định nghĩa đều đề cập đến bản chất của hoạt động quản lý, đó là:
- Quản lý có sự tác động biện chứng qua lại lẫn nhau giữa chủ thể và
khách thể quản lý.
- Xét cho đến cùng thì quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
Như vậy, quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ
thể quản lý lên khách thể quản lý thông qua các chức năng quản lý nhằm sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực, đảm bảo sự vận động, phát triển và đạt mục
tiêu của hệ thống tổ chức.
Có thể nói, quản lý vừa là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều
môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: toán học, kinh tế,
thống kê, xã hội học, tâm lí học... vừa là một nghệ thuật. Do vậy, đòi hỏi các
nhà quản lý trong quá trình quản lý phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt tổ
chức, điều khiển, hướng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùng
hướng tới mục tiêu xác định, tránh được tình trạng rối ren và bất ổn của tổ
chức mình, đồng thời có thể kích thích và phát huy được năng lực mọi thành
viên trong tổ chức.
Với vai trò, chức năng tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, định
hướng sự phát triển của tổ chức là điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động
14
của cá nhân trong tổ chức; tạo động lực, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, quản lý đã thực sự trở thành một hoạt
động không thể thiếu được của bất kì một tổ chức xã hội nào nhằm đạt đến sự
phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.
1.2.3.2. Quản lý giáo dục
quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống
giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
Trong quản lý giáo dục chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản
lý giáo dục từ Trung Ương đến Địa phương, còn đối tượng quản lý chính là
nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng
của giáo dục đào tạo. Hiểu một cách cụ thể là:
- Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có
mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý.
- Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các
lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối
hợp tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định.
Có thể nói, quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng
thực chất là quản lý quá trình giáo dục - đào tạo. Tham gia vào quá trình giáo
dục - đào tạo có rất nhiều nhân tố khác nhau như: mục tiêu đào tạo, nội dung
đào tạo, phương pháp đào tạo, lực lượng đào tạo... Quản lý giáo dục -đào
tạo/quản lý trường học chính là quản lý những nhân tố đó, trong đó quản lý
lực lượng đào tạo (người dạy), đối tượng đào tạo (người học) là trung tâm.
Chủ thể quản lý (các nhà quản lý giáo dục, hiệu trưởng...), thông qua sự tác
động (có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức, sư phạm đến
đối tượng quản lý (người dạy, người học, lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường) nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.3.3. Các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là loại hình lao động chuyên biệt của chủ thể quản
lý, thông qua đó, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực
hiện được một mục tiêu cụ thể.
16
Có thể phân loại chức năng quản lý theo nhiều tiêu chí khác nhau, song
động quản lý thực hiện có hiệu quả. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất
nhiều vào năng lực tổ chức của người quản lý.
Như vậy, chức năng tổ chức là quá trình tiếp nhận và phân phối các
nguồn lực nhằm hiện thức hóa các mục tiêu đã xác định. Nội dung của chức
năng tổ chức bao gồm :
- Lựa chọn cấu trúc để xây dựng bộ máy của chủ thể quản lý.
- Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực của tổ chức
- Xây dựng cơ chế hoạt động của tổ chức.
- Tổ chức lao động một cách khoa học của tổ chức.
Do đó, việc biến những ý tưởng trừu tượng của kế hoạch thành hiện
thực hay không phần lớn phụ thuộc vào chức năng tổ chức.
Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo)
Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ
hướng dẫn, chỉ đạo họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục
tiêu của tổ chức. Chức năng lãnh đạo (hay chỉ đạo) là quá trình sử dụng quyền
lực quản lý để tác động đến đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm
phát huy hết tiềm năng của họ để hướng vào việc đạt mục tiêu chung. Chức
năng này thể hiện năng lực của người quản lý. Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu
sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức đã hoàn tất mà nó hoà quyện và ảnh
hưởng đến hai chức năng kia.
Như vậy chức năng lãnh đạo (chỉ đạo) là quá trình tác động ảnh hưởng
tới hành vi và thái độ những người khác sao cho họ tích cực, tự gíc và mang
hết khả năng để hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao.
Kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng quan trọng trong suốt quá trình quản lý,
thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các
thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần
thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với chi phí bỏ ra, nếu không tương
18
cao chất lượng đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu xã hội.
19
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nếu không có thầy giáo
thì không có giáo dục”. Ngành giáo dục - đào tạo cũng đã khẳng định: “ Đội
ngũ cán bộ giảng dạy giữ vai trò quyết định chất lượng đào tạo và là lực
lượng chủ động thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công
nghệ của trường đại học, cao đẳng”. Trong tình hình hiện nay, giáo dục đại
học, cao đẳng đang đứng trước yêu cầu ngày càng đổi mới của GD - ĐT thì
vai trò của đội ngũ giảng viên càng trở nên quan trọng.
Điều 15, Luật giáo dục 2005 đã chỉ rõ vai trò và trách nhiệm của nhà
giáo như sau:
“Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.
Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người
học.
Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng,
đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo
thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống
quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”. [32, tr. 6].
Vậy giảng viên giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào
tạo, cụ thể là chất lượng của sản phẩm đầu ra đáp ững yêu cầu của sự phát
triển kinh tế - xã hội trong thời đại hiện nay.
Với vai trò quan trọng như vậy của đội ngũ giảng viên đã trở thành một
đòi hỏi tất yếu là các trường đại học, cao đẳng phải xây dựng một đồi ngũ
giảng viên có trình độ chuyên môn cao, năng lực giảng dạy tốt, tận tâm với
nghề nghiệp, trung thành với tổ quốc, có khả năng thích ứng cao đủ sức gánh
vác trọng trách phát triển và đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng trong giai
đoạn mới.