I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NG TH XUYấN
THựC HIệN PHáP LUậT Về THUế
Của các DOANH NGHIệP NGOàI QUốC DOANH
TRÊN ĐịA BàN THị Xã SầM SƠN, THANH HóA
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2014
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NG TH XUYấN
THựC HIệN PHáP LUậT Về THUế
Của các DOANH NGHIệP NGOàI QUốC DOANH
TRÊN ĐịA BàN THị Xã SầM SƠN, THANH HóA
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v Phỏp lut
Mó S: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS. TSKH. O TR C
H NI - 2014
1.2.
Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh .............. 10
1.2.1. Định nghĩa pháp luật thuế .................................................................. 10
1.2.2. Vai trò của pháp luật thuế .................................................................. 10
1.2.3. Hình thức, nội dung của pháp luật thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh ............................................................................... 15
1.3.
Khái niệm thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh............................................................................... 19
1.4.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật thuế của
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ............................................... 23
1.4.1. Ý thức pháp luật của các doanh nhân trong doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ......................................................................................... 23
1.4.2. Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật ........................................ 24
1.4.3. Hoạt dộng của cơ quan quản lý thuế .................................................. 25
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 28
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SẦM SƠN............................. 29
2.1.
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã Sầm
Sơn hiện nay ...................................................................................... 66
2.5.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế ................................................... 66
2.5.2. Nâng cao ý thức pháp luật của doanh nhân........................................ 69
2.5.3. Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
quản lý thuế các DNNQD của cơ quan thuế ...................................... 71
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 87
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
1
DN:
Doanh nghiệp
2
DNNQD:
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
3
NSNN:
Ngân sách nhà nƣớc
TT
9
` NVL:
Nguyên vật liệu
10
SXKD:
Sản xuất kinh doanh
11
TLTC:
Tiền lƣơng tiền công
12
TNDN:
Thu nhập doanh nghiệp
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thị xã
Sầm Sơn từ 2011- 2013
33
Bảng 2.2: Tình hình nộp thuế của các DN NQD qua các năm
2011-2013
Bảng 2.3: Một số đơn vị có số nộp lớn nhất
37
38
Bảng 2.4: Công tác kê khai hồ sơ khai thuế của DNNQD trên địa
bàn TX năm 2013
39
Bảng 2.5: Số liệu tình hình nợ đọng thuế TNDN của các DNNQD
qua các năm 2012, 2013
Bảng 2.6: Số liệu nợ đọng thuế của một số đơn vị
41
42
Bảng 2.7: Số liê ̣u kiể m tra quyế t toán thuế của các DNNQD qua
các năm 2011-2013
lƣợng với quy mô kinh doanh ngày càng lớn, không những mở rộng thị
trƣờng trong nƣớc mà còn vƣơn ra thị trƣờng thế giới. Những doanh nghiệp
này đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, đóng
góp một phần lớn vào Ngân sách nhà nƣớc qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế. Thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cƣỡng chế, pháp lý
cao, là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nƣớc, trong đó, khoản thuế do
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng tƣơng đối cao. Thời gian
qua, việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã
đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp loại này
chƣa thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn; hiện tƣợng khai
1
man thuế, trốn thuế, lậu thuế còn nhiều, từ đó tạo ra sự bất bình đẳng và sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế.
Việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại
Sầm Sơn cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Vì thế, việc nghiên cứu thực
trạng thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa
bàn thị xã Sầm Sơn thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt đƣợc, hạn chế của
hoạt động này, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực này nhằm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà
nƣớc là việc làm cần thiết. Đó cũng là lý do để tôi chọn và nghiên cứu đề tài:
“Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài
Thực hiện pháp luật là một nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận
chung về nhà nƣớc và pháp luật. Trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền, đó là biện pháp cơ bản để tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng
cố trật tự pháp luật. Vấn đề thực hiện pháp luật đƣợc đặt ra nhƣ một nhiệm vụ
cấp bách của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Thực
công tác quản lý thu thuế của Chi cục Thuế đến hành lang pháp lý của Quốc
Hội, Chính phủ, Bộ Tài chính... khi ban hành các văn bản quy phạm pháp
Luật về thuế và các văn bản dƣới Luật. Tuy nhiên tác giả chƣa đề cập giải pháp
cụ thể để đẩy mạnh công tác kê khai thuế qua mạng Internet và nộp thuế qua hệ
thống Ngân hàng để cải cách thủ tục hành chính, tiết kiệm chi chí và nhân lực
cho NNT nhiều hơn nữa.
Dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân có thể khẳng định rằng chƣa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận cũng nhƣ thực trạng của
việc thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhƣ
công trình này.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này để tìm ra những ƣu điểm, hạn chế trong quá
trình thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sầm
Sơn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực này ở địa phƣơng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn đƣợc xác định nhƣ sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật
thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa, tìm ra nguyên
nhân đƣa đến thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã
quy phạm pháp luật có liên quan, đảm bảo các điều kiện cần và đủ cho việc
thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa
bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục biểu đồ, thì nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật thuế của các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Chương 2: Thực trạng thực hiện và giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trên địa bàn thị xã Sầm Sơn.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổ
chức của những ngƣời sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau. Họ đầu tƣ vốn, thuê mƣớn và sử dụng lao động để sản xuất một loại
hàng hoá hay thực hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất
và trao đổi hàng hoá chủ yếu là các doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh bao
gồm hoạt động kinh doanh tƣ nhân và hoạt động kinh doanh của Nhà nƣớc.
Việc phân biệt hoạt động kinh doanh tƣ nhân với hoạt động kinh doanh của
Nhà nƣớc căn cứ vào việc ai là ngƣời tổ chức và chỉ đạo các hoạt động này.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế do cá nhân, tổ chức
đầu tƣ vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo quy định của pháp luật nhằm
đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia. DN loại này phát
triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh
tế; góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động; tạo cho ngân
sách có nguồn thu ổn định và ngày càng tăng; tăng vốn đầu tƣ cho xã hội...
Các doanh nghiệp đã thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phát
triển kinh tế – xã hội ở nƣớc ta. Hàng năm, các DN ngoài quốc doanh đã đóng
góp nguồn thu lớn cho ngân sách, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. DN
ngoài quốc doanh đã tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động.
Khu vực DN ngoài quốc doanh đóng góp rất lớn trong việc thu hút nguồn vốn
đầu tƣ xã hội. Vốn đầu tƣ vào các DN ngoài quốc doanh đang trở thành nguồn
vốn đầu tƣ chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phƣơng. Đây là
lĩnh vực dễ tạo ra công ăn việc làm cho ngƣời lao động, linh hoạt trong thành
lập và tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
7
Các đặc điểm cơ bản của DNNQD:
Thứ nhất, trong doanh nghiệp NQD hiệu quả sản xuất gắn liền với
quyền lợi cá nhân ngƣời sản xuất. Mục tiêu lớn nhất đối với doanh nghiệp
NQD là lợi nhuận. Vì vậy, doanh nghiệp rất nhạy bén trong tìm hiểu đầu tƣ và
có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nào lao vào đầu tƣ để kiếm đƣợc thật nhiều lợi
nhuận, thông qua những phƣơng án kinh doanh táo bạo và mạo hiểm. Đôi khi
để đạt đƣợc mục đích họ có thể xem thƣờng pháp luật, không ít các doanh
nghiệp NQD kinh doanh trái phép, không kê khai nộp thuế, trốn thuế, lợi
dụng hoá đơn chứng từ xin hoàn thuế… gây hậu quả xấu cho xã hội. Đặc
điểm này cho thấy, công tác quản lý thuế phải đặc biệt chú trọng đến doanh
nghiệp NQD, thậm chí phải chú trọng quản lý doanh nghiệp NQD hơn so với
các doanh nghiệp nhà nƣớc.
Thứ hai, số lƣợng đối tƣợng kinh doanh nhiều, kinh doanh ở tất cả
các lĩnh vực; quy mô kinh doanh đa dạng, có thể có quy mô lớn, quy mô
Thứ năm, doanh nghiệp NQD có mô hình tổ chức quản lý, kinh
doanh gọn nhẹ, năng động và nhạy bén, dễ dàng thích ứng với sự thay đổi
của môi trƣờng kinh doanh và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đồng thời,
số lƣợng lao động trong các doanh nghiệp ít và thƣờng đảm nhận chức vụ
theo kiểu đa năng giúp cho chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh
về giá và sản phẩm cung cấp cho thị trƣờng trong nƣớc. Nhƣng do quy mô
nhỏ nên khó cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng quốc tế. Đặc điểm này cho
thấy, trong công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập doanh
nghiệp nói riêng, phải tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp NQD
thực hiện nghĩa vụ thuế và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hoạt
động quản lý thuế phải chặt chẽ nhƣng không cản trở hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
9
1.2. Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1. Định nghĩa pháp luật thuế
Nghiên cứu quá trình hình thành pháp luật thuế ở Việt Nam cho thấy
pháp luật thuế ra đời rất sớm. Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể quyền lực, sử
dụng công cụ riêng là pháp luật để tập trung của cải xã hội mà không phụ
thuộc vào ý chí của đối tƣợng nắm giữ của cải đó. Điều này cũng giúp cho
việc phân biệt giữa luật thuế với luật ngân sách nhà nƣớc mặc dù giữa luật
thuế và luật ngân sách nhà nƣớc có mối quan hệ nội tại. Quan hệ thu, nộp thuế
giữa nhà nƣớc và dân cƣ phải đƣợc thực hiện dựa trên căn cứ pháp lý nhất
định, đó chính là pháp luật thuế.
Thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc để mọi ngƣời dân và
mọi tổ chức kinh tế thực hiện, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bộ máy
nhà nƣớc. Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại sản phẩm do các tổ
ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nƣớc thực hiện việc
điều tiết thu nhập của các đối tƣợng nộp thuế và các thành viên trong xã hội.
Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về
thuế suất... đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội.
Hiện nay, xu hƣớng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm pháp
luật thuế theo hƣớng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và
thuế suất... Việc xây dựng các quy phạm đó không làm triệt tiêu vai trò của
pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc trong điều kiện nền
kinh tế thị trƣờng.
- Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Cũng nhƣ pháp luật nói chung, pháp luật thuế có vai trò điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan
hệ pháp luật thu – nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nƣớc. Nhà
nƣớc ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các
11
pháp nhân và cá nhân trong xã hội. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính
quan trọng, chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nƣớc.
Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời
kỳ, ở các quốc gia đã cho thấy: thu từ thuế chiếm phần lớn tổng thu ngân sách
Nhà nƣớc, thuế luôn luôn là quốc sách của tất cả các nhà nƣớc. Ở Việt Nam,
từ những năm 1990 trở lại đây, nguồn thu từ thuế đáp ứng phần lớn các khoản
chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc. Các luật thuế đƣợc ban hành đều xác nhận
“động viên một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nƣớc” nhƣ một lý do cơ
bản. Khoản thu từ thuế chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách Nhà nƣớc
(theo Chiến lƣợc cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2001 – 2010). Điều này lý
Bằng hệ thống pháp luật thuế, nhà nƣớc thể hiện ý chí của mình đối với
đƣờng lối phát triển kinh tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực hiện công
bằng xã hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các tổ chức, cá nhân có thể tồn tại
và vận động theo nhu cầu và lợi ích của chính họ, điều này có thể tổn thƣơng
đến trật tự xã hội cũng nhƣ định hƣớng của nhà nƣớc trong từng giai đoạn ở
mỗi quốc gia. Giải quyết vấn đề này, pháp luật thuế có thể làm thay đổi hoặc
can thiệp gián tiếp vào hoạt động, vào quyết định đầu tƣ của các chủ thể
nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định của nhà nƣớc. Thông qua hệ thống pháp
luật thuế, nhà nƣớc có thể thay đổi cơ cấu đầu tƣ, cơ cấu ngành kinh tế mà
không cần can thiệp hành chính. Để thực hiện cơ cấu đầu tƣ định trƣớc, pháp
luật thuế có những quy định cụ thể khác nhau giữa nghĩa vụ thuế của đối
tƣợng ƣu tiên và đối tƣợng bị hạn chế. Chính điều này sẽ làm ảnh hƣởng đến
cơ hội tìm kiếm thu nhập của đối tƣợng đầu tƣ, qua đó có thể làm thay đổi
hƣớng chu chuyển vốn từ khu vực đầu tƣ này sang khu vực đầu tƣ khác.
Pháp luật thuế các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều phản ánh rõ vai trò
nêu trên. Chẳng hạn, việc quy định đánh thuế hay không đánh thuế, mức
thuế suất khác nhau đối với từng ngành nghề, các mặt hàng hay các loại thu
13
nhập đều có thể tác động đến các ngành nghề, qua đó đảm bảo sự phát triển
cân đối ngành nghề trong nền kinh tế.
Hệ thống pháp luật thuế cũng có khả năng định hƣớng chi tiêu xã hội,
điều chỉnh thu nhập trong những trƣờng hợp cần thiết. Việc tiêu dùng xã hội,
ở mỗi quốc gia có những định hƣớng khác nhau tùy theo điều kiện thực tế.
Pháp luật thuế Việt Nam ghi nhận rõ sự hạn chế chi tiêu của các đối tƣợng đối
với hàng hóa, dịch vụ chƣa thực sự phù hợp với giai đoạn hiện tại, trong khi
đó lại khuyến khích, tạo cơ hội tối đa cho mọi đối tƣợng có thể tiếp cận đối
với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của đời sống xã hội. Bên cạnh những
và pháp nhân.
1.2.3. Hình thức, nội dung của pháp luật thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh đƣợc thể hiện
trong một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định việc thực hiện
nghĩa vụ về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với Nhà nƣớc,
đáng chú ý là các đạo luật nhƣ Luật thuế GTGT năm 2008, Luật thuế TNDN
năm 2008, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007, Luật thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp 2010...
Nhằm bao quát mọi đối tƣợng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng
trong động viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, nội
dung pháp luật thuế hiện nay ở nƣớc ta bao gồm quy định về các sắc thuế chủ
yếu là thuế GTGT, thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân, thuế TTĐB, thuế
XNK, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế môn bài, thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp... Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tƣợng nộp khác nhau
nhƣng có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau để phát huy tác dụng toàn
diện của hệ thống thuế.
Nội dung pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
bao gồm quy định về các vấn đề sau:
15
- Các quy định về đối tƣợng nộp thuế xác định rõ các chủ thể có nghĩa
vụ phải nộp thuế cho Nhà nƣớc.
- Các quy định về nguyên tắc thu, nộp thuế bao gồm quy định về
quyền và nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế; trách nhiệm, quyền hạn của cơ
quan thu thuế.
- Các quy định về căn cứ tính thuế bao gồm các quy định về đối tƣợng
tính thuế, thuế suất, số lƣợng hàng hoá, giá tính thuế...
* Các sắc thuế doanh nghiệp phải thực hiện:
- Thuế Giá trị gia tăng: Là một loại thuế tiêu dùng, tính trên phần giá trị
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản
xuất, lƣu thông đến tiêu dùng.
Giá trị gia tăng (GTGT) là phần giá trị mới đƣợc tạo ra trong sản xuất
kinh doanh. Nó đƣợc xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và
tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tƣơng ứng. Thuế GTGT
phải nộp ở mỗi giai đoạn đƣợc tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra (đƣợc
tính bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ bán ra) trừ số thuế GTGT
đầu vào (đƣợc tính bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ mua vào)
Thuế GTGT là công cụ có hiệu quả trong việc động viên nguồn thu cho
ngân sách nhà nƣớc (NSNN). Số thuế GTGT từ sản xuất kinh doanh nội địa
chiếm tỷ trọng cao nhất (so với các loại thuế khác) trong tổng thu NSNN:
khoảng 16,8%, (từ kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu chỉ khoảng 9%) và
chiếm 36% trong tổng thu từ doanh nghiệp. Thuế GTGT đƣợc áp dụng ở
nƣớc ta từ 01/01/1999 thay cho thuế doanh thu trƣớc đây (sắc thuế này hiện
đã có trên 120 quốc gia áp dụng).Thuế GTGT vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng thu thuế và phí, năm 2013 chiếm khoảng 28-30% trên tổng thu NSNN.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là một loại thuế trực thu, đánh vào thu
nhập chịu thuế của các DN.
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đƣợc tính bằng cách lấy thu nhập
chịu thuế (bằng doanh thu trừ giá vốn và chi phí + các thu nhập khác) x thuế suất.
17
Thuế TNDN đƣợc sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tƣ
nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội, là một trong các nguồn thu quan
trọng của NSNN, Thuế TNDN tăng khá, lên khoảng 17-18%; Thuế TNCN tăng
nhanh, năm 2011 khoảng 1,9% tổng thu NSNN, đến năm 2013 đạt trên 5%.