MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
3.1.
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TÙ
VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
Khái niệm và mục đích của hình phạt tù
Bản chất pháp lý và điều kiện áp dụng hình phạt tù
Khái niệm, mục đích và bản chất của thi hành hình phạt tù
10
10
15
25
31
25
37
41
41
41
53
72
72
90
99
99
101
101
112
120
123
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ, trật tự xã hội, Nhà nước ta
dùng nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý… vừa có
tính thuyết phục, vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh với những hành vi vi
nghĩa, hình phạt vẫn được coi là công cụ hữu hiệu để đấu tranh chống tội
phạm, tính nghiêm khắc và sự trừng phạt của hình phạt vẫn được duy trì,
nhưng mục đích không để trừng phạt người phạm tội mà là giáo dục cải tạo
người phạm tội.
Từ trước đến nay có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề
cập đến hình phạt, hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu diễn ra ở
nhiều cấp độ, bình diện khác nhau, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu,
toàn diện về hình phạt tù. Bên cạnh đó, thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp
luật hình sự Việt Nam đã và đang gặp không ít những vướng mắc khi quy
định và áp dụng hình phạt tù. Việc xác định ý nghĩa xã hội - pháp lý cũng như
hiệu quả hình phạt nói chung, trong đó có hình phạt tù cũng là một vấn đề nan
giải, điều đó được chứng minh trên thực tế rằng không phải cứ áp dụng hình
phạt thật nặng thì tội phạm sẽ giảm.
Hơn nữa, trong thời gian qua, việc nghiên cứu pháp luật hình sự chưa
làm rõ những dấu hiệu căn bản của từng hình phạt tù, vai trò và khả năng của
nó trong việc giáo dục chung, phòng ngừa riêng trong tổng thể các hình phạt
được pháp luật qui định cũng như trong các biện pháp đấu tranh phòng chống
tội phạm nói chung, đáp ứng được yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của
nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta.
Hiện nay, đất nước ta trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập và giao lưu quốc tế thì hình
phạt tù cần được nghiên cứu để làm rõ mục đích tính chất, tác dụng, hiệu quả
của hình phạt tù, quy định đầy đủ các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm;
2
quy định khung hình phạt tương xứng với từng tội phạm cụ thể; làm rõ điều
kiện áp dụng và thi hành hình phạt tù. Từ đó, cần đề ra những kiến nghị có cơ sở
khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt tù.
bổ sung cho phù hợp, nhiều văn bản được ban hành đã hết hiệu lực nhưng
thực tiễn vẫn phải áp dụng; nhiều quy định còn không phù hợp với thực tiễn.
Nghiên cứu về hình phạt tù và thi hành hình phạt tù gắn liền với nhu
cầu hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành
án hình sự trong cải cách tư pháp, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24-5-2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02-6-2005 của Bộ Chính trị đã đặt ra vấn đề cải cách các cơ quan tư pháp,
trong đó có cơ quan thi hành án theo hướng xây dựng mô hình thống nhất, tập
trung quản lý công tác thi hành án; đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tiếp tục chỉ ra phương hướng đổi
mới cơ quan tư pháp: "Kiện toàn các tổ chức thi hành án, đảm bảo thi hành
đầy đủ, nhanh chóng các bản án và quyết định của Tòa án…chấn chỉnh các
trại giam để giáo dục, cải tạo tốt phạm nhân". Các quan điểm chỉ đạo có ý
nghĩa rất quan trọng, thông qua đó để làm rõ hơn chính sách hình sự của Nhà
nước ta, góp phần đấu tranh có hiệu quả với các hành vi phạm tội, củng cố
pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên nói lên tính cấp thiết của việc
nghiên cứu đề tài: "Hình phạt tù và thi hành hình phạt tù - Những vấn đề lý
luận và thực tiễn" và cũng chính là lý do mà tác giả chọn đề tài này làm luận
văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học, sách báo pháp lý
chuyên ngành trong nước nghiên cứu ở các mức độ và các bình diện khác
nhau về đề tài hình phạt và hệ thống hình phạt như: "Hình phạt trong luật
hình sự Việt Nam" của tập thể tác giả Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ
4
hình phạt tù và thi hành hình phạt tù trên cả ba bình diện: lập pháp, áp dụng
5
pháp luật và thi hành án, để từ đó đề ra những phương hướng, kiến nghị lập
pháp về vấn đề này trên phương diện tổng thể cho phù hợp với đặc điểm, điều
kiện của Việt Nam. Vì vậy sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nếu có một công
trình nghiên cứu đề tài này ở cả ba bình diện nêu trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên
cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực
tiễn của hình phạt tù, thi hành hình phạt tù theo pháp luật hình sự, tố tụng
hình sự và thi hành án hình sự Việt Nam, từ đó xác định những bất cập, hạn
chế để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao
hiệu quả áp dụng hình phạt tù và thi hành hình phạt tù nhằm đảm bảo công lý,
công bằng xã hội, cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nói trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
- Bằng cách tiếp cận tổng thể từ cái chung đến cái cụ thể, đi từ lý luận
đến đánh giá thực tiễn xét xử, tác giả làm rõ khái niệm, mục đích của hình
phạt tù, vai trò ý nghĩa, bản chất pháp lý của hình phạt tù.
- Làm rõ các vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tù như khái niệm;
các điều kiện thi hành hình phạt tù; trình tự thủ tục thi hành hình phạt tù.
- Đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt tù và thi hành hình phạt tù
nhằm làm rõ những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân của nó.
- Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hình phạt tù và
thi hành hình phạt tù, luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng
luật, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng
và chống tội phạm; về cải tạo, giáo dục người phạm tội; về tính nhân đạo của
7
pháp luật, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lý
luận về Nhà nước và pháp luật, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, pháp luật thi
hành án hình sự Việt Nam, những luận điểm khoa học trong các công trình
nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà
khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài.
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt
khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: lịch
sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tế, lý luận kết hợp
với thực tiễn.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước
đề cập đến hình phạt, nhưng chưa có công trình nghiên cứu về hình phạt tù
trong mối quan hệ biện chứng với thi hành hình phạt tù. Từ góc nhìn của hình
phạt tù, luận văn đánh giá việc áp dụng hình phạt này trong thực tiễn. Nghiên
cứu thực tiễn áp dụng và thực tiễn thi hành hình phạt tù để tìm ra đâu là căn
nguyên của những vướng mắc, bất cập của thực trạng thi hành án hình sự hiện
nay. Trên cơ sở thực tiễn, luận văn có những kiến nghị khoa học góp phần
hoàn thiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu đề cập một cách tương
đối có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt tù
và thi hành hình phạt tù ở Việt Nam ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học với
những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên.
Về mặt thực tiễn: Luận văn rút ra một số kết luận mang tính khoa học
hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải có những biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước, mà một trong những biện pháp cưỡng chế đó là hình phạt. Hình
phạt được coi là một trong những công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm. C.Mác nói: "Hình phạt không phải là một cái gì khác
ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội, chống lại sự vi phạm các
điều kiện tồn tại của nó" [22, tr. 153].
Trong pháp luật hình sự nước ta từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945
đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, khái niệm hình phạt chưa
được ghi nhận một cách chính thức ở bất kỳ một văn bản pháp luật nào, chỉ
đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 thì khái niệm hình phạt lần đầu
tiên mới được quy định. Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 qui định: "Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được qui định
trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định" [29].
Có thể thấy luật hình sự nước ta đã tiếp thu, thấm nhuần sâu sắc tinh
thần dân chủ và nhân đạo, tiến bộ, coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm và ngăn ngừa
tội phạm. Pháp luật hình sự nước ta không cho phép áp dụng hình phạt đối
với những hành vi không phải là tội phạm, không được quy định trong hệ
thống hình phạt hiện hành và trong chế tài của các điều luật cụ thể. Đây là
một đòi hỏi nghiêm khắc của nguyên tắc pháp chế. Khi một hành vi nguy
10
hiểm cho xã hội được coi là tội phạm đòi hỏi phải quy định những loại hình
phạt và mức hình phạt tương xứng cho hành vi đó. Do đó, hình phạt cũng là
một dấu hiệu để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi không phải là
tội phạm.
Theo luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt bao gồm: hình phạt
thức của Nhà nước về mức độ nặng nhẹ của từng loại hình phạt mà nó còn thể
hiện mỗi loại hình phạt trong hình phạt tù có tính độc lập, khác biệt về cơ bản
với nội dung của hình phạt khác, đủ để thực hiện mục đích của hình phạt là
trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, đồng thời đáp ứng được yêu cầu
phòng ngừa, giáo dục chung. Hơn nữa tính hệ thống còn thể hiện ở chỗ, hình
phạt tù chỉ có thể do pháp luật quy định và được Tòa án áp dụng. Yêu cầu này
đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong thực tiễn xét xử - yêu cầu số một của tư
pháp hình sự.
Hình phạt tù và các loại hình phạt tương ứng về cơ bản với tội phạm,
có khả năng thể hiện sự phản ứng của nhà nước đối với tội phạm. Hình phạt
tù trong mối liên kết của cả hệ thống hình phạt cho phép lựa chọn loại hình
phạt và mức độ xử phạt tương xứng với các hành vi phạm tội trong thực tế. Vì
ý nghĩa đó mà các hình phạt tù được gọi là hình phạt chính. Nó luôn chứa
đựng những yếu tố trừng trị và cải tạo vừa và đủ để hình phạt có thể đạt được
mục đích khi nó được áp dụng đối với người phạm tội cụ thể. Hình phạt tù
luôn được tuyên độc lập đối với mỗi loại tội phạm. Trong số bảy hình phạt
chính được quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 chỉ có 4 hình
phạt được luật xác định về nội dung, trong đó có hình phạt tù có thời hạn và
tù chung thân. Đây là yếu tố thuận lợi cho việc áp dụng hình phạt tù, dù rằng
các dấu hiệu về nội dung cũng chưa đủ rõ và chưa toàn diện.
Có thể đưa ra khái quát khái niệm về hình phạt tù như sau: Hình phạt
tù là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly
cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong một môi trường riêng biệt có sự
kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hình phạt tù bao
gồm hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân.
Khi xác định mục đích của hình phạt tù, trước hết cần thấy rõ những
chức năng của luật hình sự dưới hai góc độ: bảo vệ phòng ngừa xã hội và các
12
13
trọng cho việc đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm. Chính vì vậy trừng trị
là nội dung không thể thiếu được của hình phạt mà khi quy định, hoặc xác
định hiệu quả của một loại hình phạt nào đó yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá
được khả năng trừng trị của nó. Nội dung trừng trị để: giáo dục người phạm
tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng
pháp luật và các nội dung trên để phục vụ mục đích đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm.
Mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành
người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc
sống xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc áp dụng hình phạt làm cho người
phạm tội nhận thức rõ được những lỗi lầm, sai trái hành vi phạm tội của mình
để cải tạo và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
Hình phạt còn có mục đích ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới.
Đây là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt. Tuy nhiên việc phạm tội
mới hay không phạm tội mới không phải là tiêu chí duy nhất trong việc đánh
giá kết quả cải tạo của người phạm tội và hiệu quả của hình phạt, bởi lẽ
nguyên nhân của việc tái phạm có thể rất khác nhau.
Hình phạt còn có mục đích giáo dục phòng ngừa chung. Mục đích
phòng ngừa chung được thể hiện ở việc ngăn ngừa người khác phạm tội. Nhà
nước quy định hình phạt trong Bộ luật Hình sự và đặc biệt khi áp dụng hình
phạt đối với người có hành vi phạm tội, trong từng trường hợp cụ thể không
chỉ tác động trực tiếp đến chính bản thân người phạm tội mà còn tác động đến
tâm lý những người khác trong xã hội. Đối với "những người không vững
vàng" hình phạt có tác động răn đe, ngăn ngừa họ phạm tội trong từng trường
hợp họ có thể thấy trước hậu quả pháp lý - trách nhiệm hình sự tất yếu phải
gánh chịu nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm.
Với sự răn đe này hình phạt có mục đích ngăn ngừa giáo dục những người
khi quyết định hình phạt.
Tính nghiêm khắc của hình phạt tù còn thể hiện ngoài hình phạt này,
chính người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: quản chế,
cấm cư trú hay cấm làm những nghề hoặc công việc nhất định… Đây là những
15
biện pháp hỗ trợ cho hình phạt tù nhằm xử lý một cách triệt để đối với người
phạm tội trong một số trường hợp để đạt được mục đích tối đa của hình phạt này.
Hình phạt tù được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án áp dụng.
Hình phạt tù trong Bộ luật Hình sự nước ta được quy định ở phần
chung và phần các tội phạm: phần chung quy định những vấn đề có tính nguyên
tắc liên quan đến hình phạt tù có thời hạn như khái niệm, căn cứ quyết định
hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, tổng hợp
hình phạt của nhiều bản án… Phần các tội phạm quy định loại hình phạt và
mức hình phạt cho từng loại tội phạm cụ thể.
Hình phạt tù chỉ được quy định bởi Bộ luật Hình sự. Việc loại bỏ hình
phạt này đối với một tội danh nào đó trong Bộ luật Hình sự chỉ thuộc thẩm
quyền của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - đó là Quốc hội. Đây là đòi
hỏi của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Trong áp dụng hình phạt tù chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất nhân
danh Nhà nước quyết định áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội.
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa
án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định
là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [28].
Ngoài Tòa án không có cơ quan nào khác có quyền quyết định hình phạt.
Hình phạt tù chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội
Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự nước ta là trách
nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân người phạm tội. Do vậy, hình phạt
thời hạn tù tối đa là hai mươi năm. Tuy nhiên, đây phải hiểu là thời hạn
chung. Các chế tài cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự quy
định những thời hạn tù cụ thể đối với từng cấu thành tội phạm cụ thể, còn các
tòa án thì quyết định trong các bản án của mình những mức án tù cụ thể.
Thời hạn của hình phạt tù có thời hạn là cơ sở để phân biệt hình phạt
này với hình phạt tù chung thân. Tù chung thân là hình phạt tù giam không thời
hạn hay còn gọi là tù suốt đời, là hình phạt rất nghiêm khắc mà nội dung của
nó là tước quyền tự do của người bị kết án không có thời hạn. Trong các hình
phạt chính xét về mức độ nghiêm khắc thì hình phạt tù có thời hạn đứng trước
các hình phạt không tước tự do và đứng sau hình phạt tù chung thân, tử hình.
Cũng như bất kỳ các loại hình phạt khác, tù có thời hạn mục đích là
giáo dục, cải tạo người phạm tội và nó chỉ được áp dụng trong các trường hợp
khi xét thấy cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội trong một thời
gian luật định. Tuy nhiên đối với người phạm tội, Tòa án chỉ được áp dụng
19
hình phạt tù có thời hạn khi và chỉ khi trong khung hình phạt của điều luật mà
họ bị kết án có quy định hình phạt này. Hình phạt tù có thời hạn có những đặc
thù riêng do tính chất nghiêm khắc của nó (là hình phạt tước tự do của người
bị kết án trong một thời hạn nhất định), do vậy việc nghiên cứu mục đích của
hình phạt tù có thời hạn là hoàn toàn cần thiết. Nó tạo cơ sở để xác định cái
mốc cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được khi quy định hình phạt tù
có thời hạn trong luật hình sự và áp dụng hình phạt này trong thực tế.
Tòa án khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội đã
thay mặt Nhà nước căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội, nhân thân người
phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 45
Bộ luật Hình sự) quyết định mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Với
quốc gia. Tù có thời hạn có ý nghĩa xã hội và pháp lý rất quan trọng. Ý nghĩa
đó cho phép cách ly những người phạm tội có mức độ nguy hiểm lớn đối với
xã hội. Nó đảm bảo được giáo dục và phòng ngừa riêng, lại vừa đảm bảo
được giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về bản chất, tù có thời hạn là một hiện tượng có mâu thuẫn nội tại
của nó. Một mặt nó giữ để người phạm tội không thể gây nguy hại và thiệt hại
cho đối tượng mà luật hình sự bảo hộ nhưng lại gây ra những yếu tố tiêu cực
đối với người bị kết án mà xét trong hoàn cảnh bình thường, xã hội không hề
muốn có đối với các công dân của mình (tức là không muốn họ phải bị cách ly).
Tù giam với nội dung là sự cách ly và hạn chế tự do đối với người bị kết
án. Đến lượt nó, việc hạn chế lâu dài các chức năng xã hội bình thường của một
con người làm tê liệt, làm lãng quên các thói quen xã hội có ích ở họ như học
tập, quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, bạn bè, nghề nghiệp… Sau này, việc
khôi phục lại các quan hệ đó là cả một sự khó khăn đáng kể. Chính vì vậy mà lý
luận hình sự xã hội chủ nghĩa cũng như thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ở
nước ta đã đi đến một điều khẳng định là: trong những trường hợp, khi mà mục
đích của hình phạt vẫn có thể đạt được mà không cần đến cách ly người phạm tội
ra khỏi môi trường bình thường của xã hội, thì cần áp dụng các hình phạt không
phải là hình phạt tù. Trong Bộ luật Hình sự hiện hành của nước ta, quy tắc đó
được cụ thể hóa bằng cách đưa ra quy tắc ở Phần chung cho phép Tòa án có thể
21
chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn hoặc quy định các chế tài
lựa chọn ở Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, trong đó bên cạnh hình phạt
tù là các hình phạt không phải là tù. Hạn chế những mặt phản tác dụng của hình
phạt tù cũng là lý do của việc không ngừng bổ sung các hình phạt có khả năng
thay thế hình phạt tù, nhất là đối với loại hình phạt tù có mức tù ngắn hạn.
Người phạm tội bị Tòa án tuyên hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó
giữ, tù chung thân, tử hình thì đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
Từ những phân tích nêu trên có thể khái quát khái niệm về hình phạt
tù có thời hạn như sau: Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp
hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục cải tạo
người phạm tội, đảm bảo công lý, công bằng xã hội. Tù có thời hạn đối với
người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm.
Một nội dung hết sức quan trọng khi nghiên cứu về hình phạt tù có
thời hạn đó là chế định án treo. Theo pháp luật hình sự Việt Nam, án treo
không phải là một hình phạt độc lập trong hệ thống hình phạt mà "án treo là
miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện". Đây là trường hợp ngoại lệ đặc
biệt của việc thi hành hình phạt tù, người bị kết án tù có thời hạn không buộc
phải chấp hành hình phạt tại trại giam mà được chấp hành hình phạt ngoài xã
hội với những điều kiện ràng buộc nhất định.
Với ý nghĩa là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện,
chế định án treo là một trong những quy định của Bộ luật Hình sự thể hiện
tính nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, có tác dụng khuyến khích người bị
kết án tự lao động cải tạo để trở thành người tốt. Phạm vi áp dụng của án treo
được áp dụng đối với những trường hợp người phạm tội bị Tòa án tuyên hình
phạt tù có thời hạn và mức hình phạt là không quá ba năm. Chế định án treo là
một trong những quy định chú trọng đến việc tự cải tạo, giáo dục của người
phạm tội nên Tòa án chỉ cho người kết án hưởng án treo khi có căn cứ rõ ràng
để xác định việc không cần phải bắt người phạm tội cách ly khỏi xã hội nhưng
cũng đạt được mục đích của hình phạt về phòng ngừa riêng cũng như phòng
ngừa chung. Án treo chỉ được quyết định sau khi Tòa án đã quyết định hình
phạt đúng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
23
Các điều kiện để một người bị kết án phạt tù được hưởng án treo về cơ