Các vấn đề cơ bản về vận tải hàng hóa đường hàng không - Pdf 68

Các vấn đề cơ bản về vận tải hàng hóa đường hàng không
1. Khái quát về vận tải hàng hóa đường hàng không và vai trò của vận tải hàng
hóa bằng đường hàng không
1.1. Tổng quan về vận tải hàng hóa trên toàn cầu hiện nay
1.1.1. Khái niệm và vai trò của vận tải trong nền kinh tế
- Khái niệm: Trong xã hội hiện nay, sự di chuyển vị trí của công cụ sản xuất, sản
phẩm lao động và kể cả con người là một nhu cầu tất yếu và chỉ có ngành sản xuất vận
tải mới thỏa mãn được nhu cầu này, do đó xét về mặt kinh tế người ta có thể đưa ra khái
niệm về vận tải như sau:
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí
của hàng hóa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện vận
tải.
- Vai trò của vận tải:
Nhờ có vận tải mà con người chúng ta đã chinh phục được khoảng cách không
gian, tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hóa và thỏa mãn nhu cầu
đi lại của con người. Do đó vận tải đóng vai trò quan trọng và có tác dụng hết sức to lớn
trong nền kinh tế. Chúng ta có thể thấy được vai trò của vận tải qua các mặt sau đây.
Vận tải là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế: nếu ta xét toàn bộ
nền kinh tế như một hệ thống thì hệ thống này chứa đựng hàng loạt các hệ thống con
như: nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, xây dựng.. Các hệ thống con này quan hệ chặt
chẽ với nhau trong một tổng thể thống nhất làm ra toàn bộ sản phẩm xã hội. Và người
ta nói rằng “… Vận tải là một hệ thống con của nền kinh tế”. Thật vậy, các ngành sản
xuất trong nền kinh tế sẽ không thể hoạt động được bình thường nếu như thiếu vận tải.
Vận tải thỏa mãn nhu cầu chuyên chở của toàn xã hội, khi nói đến vận tải, nhất
thiết chúng ta phải đề cập đến hai vấn đề: khối lượng vận chuyển (tấn hàng hóa, số
lượng hành khách) và số sản phẩm vận tải (lượng luân chuyển hàng hóa hoặc hành
khách). Trong hai chỉ tiêu này thì khối lượng vận chuyển có ý nghĩa quan trọng hơn vì
nó thể hiện sự đáp ứng của vận tải đối với nhu cầu vận chuyển của ngành sản xuất trong
nền kinh tế và sự thỏa mãn nhu cầu đi lại của con người.
Trong đời sống kinh tế xã hội hiện đại, vai trò của vận tải không ngừng nâng cao,
đó là khuynh hướng phát triển chung của vận tải. Nó được thể hiện qua sự không ngừng

- Khái niệm:
Vận tải không những là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
mà nó còn đóng vai trò to lớn trong thương mại quốc tế, nó là phương tiện nối liền quan
hệ thương mại giữa các nước với nhau. Việc chuyên chở hàng hóa giữa các nước trong
thương mại quốc tế được gọi là “Vận tải quốc tế”. Người ta đưa ra khái niệm về vận tải
quốc tế như sau:
Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hóa giữa hai hay nhiều nước, tức là
điểm đầu và điểm cuối của quá trình vận tải nằm ở hai nước khác nhau.
Như vậy, việc vận chuyển hàng hóa trong vận tải quốc tế đã vượt ra khỏi phạm vi
một nước, vị trí của hàng hóa được thay đổi từ nước người bán sang nước người mua.
- Mối liên hệ giữa vận tải quốc tế và thương mại quốc tế
Trước đây khi vận tải quốc tế chưa được phát triển thì trong thương mại quốc tế
vận tải là điều kiện quyết định hàng đầu bởi vì một hợp đồng mua bán ngoại thương chỉ
có thể thực hiện được khi có thể tiến hành chuyên chở hàng hóa từ nước người bán sang
nước người mua. Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đã được nối liền với nhau
bằng hệ thống tuyến đường vận tải quốc tế. Nhu cầu chuyên chở hàng hóa trong thương
mại quốc tế tăng nhanh đòi hỏi vận tải quốc tế phải phát triển một cách tương ứng, như
vậy thương mại quốc tế đã thúc đẩy vận tải quốc tế tiến bộ và hoàn thiện. Ta có thể
nhận thấy mối liên hệ này qua số liệu thống kê sự tăng trưởng không ngừng của khối
lượng hàng hóa mà vận tải quốc tế đã đảm nhận được và tốc độ tăng trưởng của lực
lượng tàu buôn thế giới. Hai số liệu này luôn luôn có sự biến động cùng chiều.
- Tác dụng của vận tải quốc tế đối với thương mại quốc tế:
Ngày nay tất cả các phương thức vận tải hiện đại như đường biển, sắt, hàng
không, ô tô và đường sông đều tham gia phục vụ chuyên chở hàng hóa ngoại thương.
Tuy nhiên vai trò và tác dụng của mỗi phương thức vận tải không giống nhau. Nó phụ
thuộc vào đặc điểm kinh tế kĩ thuật của mỗi phương thức vận tải và đặc điểm cụ thể của
mối quan hệ thương mại quốc tế của mỗi quốc gia. Cho nên trong công tác tổ chức
chuyên chở hàng hóa người ta phải nắm được phạm vi áp dụng của từng phương thức,
chẳng hạn: vận tải biển thích hợp với chuyên chở hầu hết các loại hàng hóa, cự ly vận
chuyển dài, khối lượng vận chuyển lớn, nhưng tốc độ chậm nên không thích hợp với

nguyên, nhiên vật liệu bởi vì cước phí chiếm tỉ trọng cao trong giá cả của những loại
hàng này. Cho nên thương mại quốc tế chỉ tập trung ở những mặt hàng thành phẩm và
bán thành phẩm. Cho đến khi các công cụ vận tải hiện đại ra đời, trọng tải lớn, có cấu
tạo thuận tiện cho việc chuyên chở và cho phép hạ giá thành vận tải đã tạo điều kiện mở
rộng chủng loại mặt hàng.
• Sự thay đổi cơ cấu hàng hóa thể hiện rõ nét nhất là việc mở rộng buôn bán mặt
hàng lỏng. Vào những năm 1937 tỷ trọng của nhóm hàng lỏng chỉ chiếm 24% tổng khối
lượng hàng hóa thương mại quốc tế, nhưng đến thời gian sau này tỷ trọng của nhóm
hàng này phát triển nhanh và thường chiếm tương đương 50% tổng khối lượng hàng
hóa thương mại.
• Mặt khác khi mà vận tải chưa phát triển, giá cước vận tải cao thì thị trường tiêu
thụ thường ở gần nơi sản xuất. Cho đến khi vận tải phát triển đã tạo điều kiện mở rộng
thị trường buôn bán. Tức là những nước xuất khẩu có khả năng tiêu thụ sản phẩm của
mình ngay cả trên những thị trường xa xôi và các nước nhập khẩu có điều kiện lựa chọn
thị trường cung cấp rộng rãi hơn. Điều này được thể hiện qua cự ly vận chuyển trung
bình tăng nhanh qua các năm. Ngày nay cự ly vận chuyển trung bình của các loại hàng
hóa xuất nhập khẩu thường lớn hơn 5000km.
+ Vận tải quốc tế có tác dụng bảo vệ hay làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế
Việc phát triển của vận tải đặc biệt là lực lượng tàu buôn dân tộc có tác dụng tăng
nguồn thu ngoại tệ thông qua việc xuất khẩu sản phẩm vận tải hay tiết kiệm chi ngoại tệ
thông qua việc chống nhập khẩu sản phẩm vận tải (tức là mua theo điều kiện FOB, bán
CIF và sử dụng công cụ vận tải trong nước).
Ngược lại, nếu vận tải quốc tế không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở hàng hóa
trong thương mại quốc tế thì bắt buộc một quốc gia phải chi ra một lượng ngoại tệ lớn
để nhập khẩu sản phẩm vận tải tức là thuê tàu nước ngoài để chuyên chở hàng hóa hay
mua hàng hóa theo điều kiện CIF và bán hàng theo FOB.
Tóm lại, qua các tác dụng trên đây, chúng ta nhận thấy rằng vận tải là yếu tố
không thể tách rời thương mại quốc tế, nó là một công cụ quan trọng của thương mại
quốc tế.
“Nói đến thương mại phải nói đến vận tải, thương mại nghĩa là hàng hóa được

hàng hóa.
• Khi cần thiết phải xuất hay nhập một mặt hàng nào đó mà phía bên kia đòi hỏi
quyền này.
• Do tập quán hay luật pháp của một số nước có quan hệ mua bán đã quy định
trước.
1.1.4. Phân chia trách nhiệm vận tải
Việc phân chia trách nhiệm về vận tải giữa người bán mà người mua phụ thuộc
vào điều kiện cơ sở giao hàng được lựa chọn trong hợp đồng mua bán ngoại thương.
Trong thương mại quốc tế người ta áp dụng rất nhiều điều kiện cơ sở giao nhận hàng,
tùy thuộc vào những điều kiện cơ sở giao hàng này mà trách nhiệm hai bên được phân
chia rõ rang. Đứng về góc độ vận tải, các điều kiện cơ sở giao hàng quy định trong
thuật ngữ thương mại quốc tế “INCOTERMS 2000” được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm E: EXW (Ex works) người bán giao hàng cho người mua ngay tại nơi sản
xuất của mình.
- Nhóm F: FCA (Free Carrier)
FAS (Free Along side Ship)
FOB (Free On Board)
Người bán giao hàng cho người vận tải do người mua quy định.
- Nhóm C: CFR (Cost Freight)
CIF (Cost Insurance Freight)
CPT (Carriage Paid To)
CIP (Carriage Insurance Paid To)
Người bán phải ký hợp đồng vận tải nhưng không chịu rủi ro tổn thất về hàng hóa
hoặc những chi phí khác xảy ra sau khi hàng đã bốc lên tàu.
- Nhóm D: DAF (Delivered At Frontier)
DES (Delivered Ex Ship)
DEQ (Delivered Ex Quay)
DDP (Delivered Duty Paid)
DDU (Delivered Duty Unpaid)
Người bán phải chịu tất cả phí tổn, rủi ro cho đến khi hàng tới cảng đích.

- Vị trí, vai trò vận tải biển:
Diện tích biển chiếm 2/3 tổng diện tích trái đất, một cách hoàn toàn tự nhiên, tạo
nên một hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế nối liền phần lớn các quốc gia trên thế
giới. Đặc điểm này cùng với những ưu thế của phương thức vận tải biển đã đưa phương
thức vận tải này lên vị trí số một trong hệ thống vận tải quốc tế. Vận tải biển đảm nhận
đến gần 90% tổng khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các nước có mối quan hệ
thương mại quốc tế. Sự bùng nổ và mở cửa kinh tế của nhiều nước đang phát triển trên
thế giới, xu thế toàn cầu hóa đã dẫn đến nhu cầu chuyên chở hàng hóa bằng đường biển
trong thương mại quốc tế tăng với tốc độ đáng kể.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào vị trí địa lý, chính sách và đặc điểm kinh tế của mỗi
nước khác nhau mà vai trò của phương thức vận tải vận tải biển có khác nhau. Chẳng
hạn đối với những quốc gia phát triển và quần đảo như Anh và Nhật, hầu như gần
100% khối lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế của những quốc gia này là được
đảm nhận bằng phương thức vận tải biển. Hay là những nước công nghiệp mới (NICs)
về chính sách kinh tế cũng như vị trí địa lý thuận lợi như Singapore thì phần lớn khối
lượng hàng hóa ngoại thương của nước này cũng được chuyên chở bằng phương thức
vận tải biển, hơn thế nữa, những ngành công nghiệp dịch vụ vận tải biển (môi trường
hàng hải, bảo hiểm…) cũng rất phát triển ở quốc gia này, đóng góp tích cực đối với sự
thặng dư trong cán cân thương mại quốc tế của Singapore. Những nước có bờ biển như
Việt Nam (trên 3200 km đường biển chạy dọc từ Bắc xuống Nam) cũng có rất nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển phương thức vận tải này. Trong những năm gần đây,
nhờ chính sách đổi mới và tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế với rất nhiều quốc gia
trên thế giới, khối lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế của Việt Nam tăng lên rất
nhanh và cũng đã khẳng định vị trí của phương thức vận tải biển trong hệ thống vận tải
quốc tế của Việt Nam.
Và ngay cả những quốc gia mà vị trí địa lý không mấy thuận lợi cho việc phát
triển phương thức vận tải biển như Lào, Campuchia.. thì vận tải biển vẫn giữ vị trí chủ
đạo trong việc chuyên chở hàng hóa thương mại quốc tế của những quốc gia này (Lào
và Campuchia vẫn phải thuê cảng biển của Việt Nam để thực hiện việc chuyên chở
hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển).

cải tiến các chỉ tiêu khai thác máy bay… Ngoài ra ICAO đã soạn thảo hàng loạt các
công ước quốc tế như “Công ước Geneva 1948 về thừa nhận quốc tế về mặt pháp lý của
máy bay”, “Công ước Rome về tổn thất trên lãnh thổ các nước do máy bay nước ngoài
gây ra”.
- Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế IATA (International Air Transport
Association)
Là một tổ chức nghề nghiệp tự nguyện phi chính phủ của các hãng hàng không,
thành lập năm 1945. Thành viên của nó là các hãng hàng không có danh sách đăng ký ở
những nước thành viên của ICAO. Hoạt động của IATA bao gồm: phối hợp hoạt động
thương mại của các công ty hàng không, quy định cước phí chuyên chở hành khách và
hàng hóa, quy định các quy tắc chuyên chở hàng không, quy định lịch trình của các
tuyến hàng không, lập giấy gửi hàng hàng không tiêu chuẩn..
- Hiệp hội quốc tế những người giao nhận FIATA
Mục tiêu chính của FIATA là bảo vệ và phát huy lợi ích của những người giao
nhận ở mức độ quốc tế và cải tiến chất lượng dịch vụ. Để đạt được mục tiêu này, chủ
yếu là thông qua ban lãnh đạo các viện, ủy ban kĩ thuật cùng nhau giải quyết tất cả các
lĩnh vực về nghiệp vụ giao nhận.
Việc vận chuyển hàng không của FIATA giải quyết những vấn đề cước hàng
không nhằm bảo vệ lợi ích chung của các đại lý hàng không. Tổ chức nàybanf bạc với
IATA và những tổ chức quốc tế khác có liên quan đến công nghệ chuyên chở hàng
không.
Việc thành lập cơ quan tư vấn là Hội đồng tư vấn liên kết IATA/FIATA đã làm
cho FIATA và IATA có thể tổ chức những cuộc thảo luận theo định kỳ về những vấn
đề quan tâm chung như đào tạo, vận chuyển hàng nguy hiểm, những yêu cầu cần thiết
để trở thành đại lý hàng hóa hàng không..
Hai tổ chức này đã cùng nhau phát triển “Chương trình đào tạo nghiệp vụ cho đại
lý hàng không”. Chương trình này đề ra cho những người muốn có kiến thức cơ bản về
những nguyên tắc và tập quán về thực hiện và xử lý việc vận chuyển hàng không quốc
tế.
Sau khi tốt nghiệp lớp học nhập môn, học viên sẽ được cấp bằng của

- Đường sắt liên vận quốc tế:
Từ năm 1890 trên thế giới đã có những tuyến đường sắt quốc tế đầu tiên, việc
chuyên chở hàng hóa bằng liên vận đường sắt quốc tế là việc vận chuyển hàng hóa bằng
đường sắt qua hai hay nhiều nước có liền biên giới và dùng một giấy gửi hàng thống
nhất trong quá trình chuyên chở.

Trích đoạn Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận tải hàng hóa đường hàng không
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status