ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………….....................................
NGUYỄN THỊ SAO
PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ TẠI
HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THÚY ANH
Hà Nội, 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI
SẢN VĂN HOÁ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH ........................................... 9
1.1. Định nghĩa về Di sản văn hóa......................................................................... 9
1.2. Vai trò của di sản văn hoá trong kinh doanh du lịch ................................. 10
1.3. Các nguyên tắc của bảo tồn di sản văn hoá và bảo tồn di sản văn
hóa trong du lịch .................................................................................................. 12
1.3.1. Nguyên tắc bảo tồn di sản văn hóa ......................................................... 12
1.3.2. Nguyên tắc bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du lị ch ............... 13
trong hoạt động du lịch ....................................................................................... 71
2.6.1 Thuận lợi ................................................................................................. 71
2.6.2 Khó khăn ................................................................................................. 74
Chƣơng 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT
TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HOÁ Ở HẢI
DƢƠNG ............................................................................................................... 77
3.1 Định hƣớng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể tại tỉnh
Hải Dƣơng............................................................................................................ 77
3.1.1 Định hướng của Chính Phủ .................................................................... 77
3.1.2 Định hướng của UBND tỉnh Hải Dương .................................................. 78
3.2 Các giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn di tích vật thể
trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng............................................................................... 81
3.2.1 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch
đặc thù .............................................................................................................. 81
3.2.2 Giải pháp về tổ chức quản lý các hoạt động bảo tồn và phát
huy giá trị di tích .............................................................................................. 83
3.2.3Tăng cường vai trò của cộng đồng trong du lịch. .................................... 86
3.2.4 Về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Ban quản lý di tích ..................... 87
3.2.5Giải pháp về công tác phát triển toàn diện tại khu di tích ........................ 89
3.2.6 Giải pháp phát triển hoạt động du lịch theo hướng bền vững ................ 94
3.2.7 Giải pháp thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm ............................................ 96
3.3 Kiến nghị ........................................................................................................ 98
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................. 104
PHỤ LỤC........................................................................................................... 109
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QLDT
:
Quản lý di tích
VHTT
:
Văn hóa Thông tin
UBND
:
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TT
Bảng
Nội dung bảng
Trang
1
Bảng 2.1
62
5
Bảng 2.5
Giá vé tham quan khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc
68
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hải Dương là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước,
nơi sinh thành và hun đúc nên nhiều bậc hiền tài, nơi tìm về và lập nên
nghiệp lớn của nhiều danh nhân đất nước. Vì mảnh đất này cũng như vùng
đất Kinh Bắc và xứ Đoài (Hà Tây), xứ Đông xưa - Hải Dương nay - lưu giữ
rất nhiều di sản văn hóa đặc sắc. Đây là gia tài hương hỏa của tổ tiên
truyền lại, là vốn quý, nguồn nội lực to lớn của tỉnh trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giữ gìn, tu bổ và phát huy có hiệu quả di sản
văn hóa này không chỉ là trách nhiệm, là biểu hiện tình cảm thiêng liêng
và sự trân trọng của chúng ta đối với lịch sử dân tộc, mà cũng là thái độ
của chúng ta đối với quá trình phát triển, với sự nghiệp xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã ra nghị quyết TW 5, khoá 8 xác định:
“Văn hoá là nền tảng của sự phát triển”; Nghị quyết đại hội lần thứ IX
khẳng định: Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, các giá trị văn
học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc;
những kỷ niệm sâu sắc về Bác Hồ, về các vị lãnh đạo cấp cao của
Đảng, Nhà nước ta và nhiều bạn bè quốc tế... Uy đức của họ đã góp
phần hun đúc nên hồn thiêng sông núi, để lại tiếng vang muôn thuở.
Vì vậy, Hải Dương một trong những cái nôi sản sinh và hội tụ nhiều
giá trị văn hóa đặc sắc của cư dân châu thổ Bắc Bộ.
Thực tế rằng rất nhiều nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các
giá trị của di sản trong phát triển du lịch mà chưa chú trọng đến việc bảo
tồn, giúp những giá trị đó phát huy hết được tiềm năng khi được gắn kết
với du lịch. Hoạt động du lịch và hoạt động bảo tồn phải luôn luôn tồn
tại song song trong quỹ đạo của lịch sử và xã hội. Với định hướng như
vậy, đề tài tập trung nghiên cứu vai trò tích cực của hoạt động du lịch
trong việc phát huy các giá trị lịch sử văn hoá tiêu biểu của di sản, hoá
tại một số di tích tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Hải Dương như di tích chùa
5
Côn Sơn, đền Kiếp Bạc, đền Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền. Đây là
một trong những cụm di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc
gia. Hiện nay các di tích này chưa thực sự phát huy hết được những giá
trị nổi bật và chưa có sự gắn kết nhiều với hoạt động du lịch. Những giá
trị văn hoá tiêu biểu của các di tích lịch sử có sự thuận lơi của giao thông
đi lại cùng với quy hoạch đặt nó trong sự phát triển của du lịch chắc chắn
sẽ góp phần bảo tồn và làm cho hoạt động du lịch Hải Dương thêm phát
triển. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển du lịch gắn với
bảo tồn di sản tại đây, người viết đã chọn đề tài: “Phát triển du lịch gắn
với bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể tại Hải Dương
” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành du lịch học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Nơi đây lưu giữ những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể phong phú
và đa dạng.
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động du lịch gắn
với bảo tồn và phát huy giá trị của của các di sản văn hóa vật thể tiêu
biểu tại tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi không gian
Khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn nằm trên địa bàn nằm trên
địa bàn phường Cộng Hòa và xã Lê Lợi. Di tích đền Kiếp Bạc ở xã Hưng
Đao, đền thờ Chu Văn An ở xã Văn An, ba di tích này đều thuộc thị xã Chí
Linh, tỉnh Hải Dương. Di tích Văn miếu Mao Điền thuộc xã Mao Điền
huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
- Phạm vi thời gian
Nghiên cứu các di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn ,Kiếp Bạc,
đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền và hoạt động du lịch, bảo tồn
của các di tích từ khi có Luật Di sản đến nay (2001 trở lại đây).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu: Trong luận văn này, tác giả
đã thu thập tài liệu chủ yếu sau: Các tài liệu phục vụ cho việc xác định
7
cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, thực trạng khai thác du lịch tại di
tích, tài liệu về chủ trương chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu
công tác bảo tồn và phát triển du lịch tại các di tich; văn bản pháp lý của
Sở VHTT & Du lịch, Tổng cục Du lịch và văn bản liên quan trực tiếp tới
việc phát triển du lịch của tỉnh Hải Dương.
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp:Tìm hiểu các vấn đề
đã được xác định trên cơ sở nguồn tư liệu đã thu thập và giá trị văn hóa
tính hệ thống và tính lịch sử. [76,20] Văn hóa được lưu truyền cùng với
sự phát triển của con người qua từng thế hệ.”. Theo giáo sư Từ Chi, văn
hóa là những gì phi tự nhiên, tức là những gì không phải là tự nhiên mà
được con người biến đổi đều được coi là văn hóa. Có nhà nghiên cứu còn
cho rằng văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết. Vậy di sản văn
hóa là gì?
Điều này được thể hiện rõ trong Điều 1 của Luật Di sản văn hóa :
“Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, là sản phẩm
tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam [33,12]. Di sản văn hóa là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại,
giữa kế thừa và phát triển. Di sản văn hóa tồn tại trong hiện tại là cái đã
được tích lũy hình thành từ trước đó, cái được truyền lại từ quá khứ và
mang dấu ấn của quá khứ. Sự trao truyền văn hóa qua các thế hệ như thế
tạo nên cho văn hóa tính liền mạch, hình thành bản sắc riêng của từng
dân tộc.
Như vậy di sản văn hóa được khái quát lại là tổng thể những tài sản
văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận
biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của
hiện tại [46,3].
Nếu như văn hóa được chia ra làm văn hóa phi vật thể và văn hóa
vật thể thì đối với di sản cũng áp dụng cách phân chia di sản văn hóa phi
vật thể và phi vật thể. Cách phân chia này dựa trên việc xem xét hình
9
thái tồn tai của các di sản trong thời điểm hiện tại. Trong luận văn này
tác giả chỉ nghiên cứu về các di sản văn hóa vật thể nên chỉ đưa ra khái
niệm về di sản văn hóa vật thể.
nước, với truyền thống văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử khác
nhau. Như vậy, đối với du lịch, đặc biệt đối với du lịch bền vững, di sản
văn hóa trở thành tài nguyên tạo nên sự hấp dẫn có chiều sâu nhất đối
với du lịch. Và sở dĩ du lịch là một ngành kinh tế có sức thu hút mạnh
mẽ bởi vì nó có hàm chứa nội dung văn hóa sâu sắc và phong phú.
Di sản văn hóa ở mọi vùng miền của đất nước là nơi lưu giữ bao
chiến công, hào hùng của dân tộc Việt Nam, nơi ẩn chứa với những giá
trị nhân bản sâu sắc, độc đáo của dân tộc Việt Nam trong suốt trường kỳ
dựng nước và giữ nước, tất cả hợp thành những bản anh hùng ca bất hủ
của dân tộc. Đây là lợi thế để ngành du lịch phát huy các di sản văn hóa
trong tổ chức hoạt động du lịch.
Có thể nói, di sản văn hóa là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch.
Môi trường thiên nhiên và môi trường văn hóa, nhân văn có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với du lịch vì chúng chính là nguồn tài nguyên, là
yếu tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch, phát triển các loại hình du lịch.
Di sản văn hóa mang những dấu ấn của quá khứ và nó làm phong phú
thêm cho nguồn tài nguyên du lịch nhân văn. Di tích là mảng quan trọng
của di sản vật thể và khi trở thành sản phẩm du lịch văn hóa thì giá trị
khai thác không cạn kiệt mà ngày càng gia tăng theo thời gian. Thực tế
nhiều di tích sau khi tu bổ đã thúc đẩy sự phát triển của du lịch, góp phần
thay đổi cơ cấu kinh tế cuả địa phương và mang lại nhiều lợi ích thiết
thực cho cộng đồng dân cư như tại cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa
Mỹ Sơn. Trước khi được phát hiện, khôi phục lại và công nhận thì thánh
địa Mỹ Sơn hoàn toàn là một vùng thung lũng bị lãng quên với các ngôi
tháp đổ nát vì chiến tranh và thời gian.Nhưng khi được phục dựng và
công nhận là di sản văn hóa, đồng thời gắn kết với các chương trình du
lịch thì thánh địa Mỹ Sơn lại trở thanh điểm tham quan du lịch thu hút
đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước tới tham quan, tìm hiểu.
11
12
biệt. Bên cạnh đó việc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể phải tuân thủ
các nguyên tắc về việc trùng tu, tôn tạo, bảo quản.
Khi bảo tồn di sản văn hóa, mỗi cá nhân, tổ chức cần phải hiểu di
sản là tài sản, niềm tự hào, nền văn hóa của chính người dân sở tại.
Chính vì điều này mà nguyên tắc đầu tiên trong bảo tồn di sản văn hóa
cần phải đảm bảo , đó là cân bằng lợi ích giữa bảo tồn văn hóa và lợi ích
kinh tế.
Di sản văn hóa cần được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế và di sản văn hóa là hai yếu
tố tương tác, phụ thuộc và bổ sung cho nhau. Và do đó, việc bảo tồn di
sản văn hóa không được cản trở, mà ngược lại, còn phải tạo ra động lực
cho phát triển xét dưới góc độ tác động tới việc hình thành nhân cách
con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ trực tiếp cho
phát triển. Di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) được xác định là bộ
phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người. Di sản văn
hóa là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng
rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời
tiết, thiên tai, chiến tranh, sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt, sự khai
thác không có sự kiểm soát chặt chẽ). Con người được coi là trung tâm
của quá trình phát triển. Và do đó, di sản văn hóa phải được gắn với con
người và cộng đồng cư dân địa phương (với tư cách là chủ thể sáng tạo
văn hóa và chủ sở hữu tài sản văn hóa), coi việc đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt văn hóa lành mạnh của đông đảo công chúng trong xã hội là mục
tiêu hoạt động.
1.3.2. Nguyên tắc bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du
lịch
Khi gắn kết các di sản với hoạt động du lịch, không thể chỉ nhìn
này hay xem nhẹ yếu tố kia đều không tốt cho công tác bảo tồn và phát
huy di sản.
Trong hoạt động bảo tồn thường có nhiều cấp độ khác nhau (nguyên
trạng, trùng tu, phục hồi, tái tạo...) nhưng chủ yếu xoay quanh quan điểm
lựa chọn "nguyên trạng" và "không nguyên trạng". Bảo tồn nguyên trạng
đề cao những giá trị nguyên bản trong lưu giữ và phục hồi di sản; bảo
tồn không nguyên trạng ghi nhận những giá trị đổi thay của di sản, theo
14
hai hướng kế thừa và phát triển. Mô hình "bảo tồn phát triển" đang là xu
hướng được lựa chọn trong điều kiện hiện nay, gắn với chủ trương tạo
sức sống, sinh khí mới cho di sản, gắn di sản với hoạt động du lịch nhằm
khai thác tiềm năng. Tuy nhiên, đây là xu hướng gây nên nhiều tranh cãi,
nhiều ý kiến trái chiều trong trùng tu, phục dựng, quản lý và khai thác di
sản.
"Du lịch văn hóa" đang trở thành xu thế chủ đạo trong việc phát
triển du lịch, nhằm khai thác tiềm năng di sản văn hóa. Ðối với một quốc
gia giàu tiềm năng di sản như Việt Nam, sự nhận thức đúng về mối quan
hệ giữa di sản văn hóa và hoạt động du lịch, sẽ tạo nên sự tương tác tích
cực giữa bảo tồn và phát triển, văn hóa và du lịch trong phát triển bền
vững.
Khai thác và phát huy di sản văn hóa phải được coi là một nguồn tài
nguyên tạo nền móng cho hoạt động du lịch phát triển bền vững. Chính
vì vậy, bảo tồn và phát huy giá trị di sản phải gắn với phát triển du lịch
bền vững, vừa bảo đảm lợi ích kinh tế - xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi
trường, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.
Di sản văn hóa dù là hình thức gì đi chăng nữa cũng là niềm tự
hào của người dân địa phương nó gắn liền với cộng đồng cư dân địa
phương. Vì thế để bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản một cách tốt
tích, di sản cũng phải đảm bảo đúng nguyên tắc bảo lưu tối đa những giá
trị nguyên gốc của di sản. Những yêu cầu của hoạt động du lịch cũng
không phải là những trường hợp ngoại lệ. Trong chính sách và chiến
lược phát triển ngành Du lịch, một trong những mục tiêu phát triển được
đặt ra là mục tiêu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Phát triển du lịch
phải nhằm bảo vệ được những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần
chấn hưng nền văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Mục tiêu
đó được thể hiện trong các chính sách, trong các quy hoạch và trong các
dự án đầu tư. Vì vậy, trong khi xem xét những dự án trên, Tổng cục Du
lịch cần quan tâm đến chất văn hóa trong các sản phẩm, các dự án, phải
16
không được xâm hại, phá vỡ các giá trị văn hóa truyền thống, phải có tác
động tích cực đến việc bảo tồn di tích, di sản văn hóa.
Quan điểm của ngành du lịch là trong bảo tồn nên tuân thủ triệt để
các quy định quốc tế và trong nước, tránh tác động nhiều vào di tích và
cố gắng duy trì, bảo quản nguyên trạng di tích như khi phát hiện là tốt
nhất. Đặc biệt ngày nay, khách du lịch quốc tế và ngay cả trong nước có
trình độ văn hoá cao nên thường quan tâm nhiều hơn đến giá trị xác thực
của di sản. Những di tích còn giữ được nhiều nét nguyên bản thường có
giá trị hấp dẫn nhiều hơn đối với du khách. Thực tế trên thế giới cũng có
nhiều trường hợp các di sản là những di tích đổ nát, nhưng vẫn hấp dẫn
du khách. Cho dù chủ sở hữu hoàn toàn có thể làm lại y như nguyên bản.
Đền thờ Acropol ở Hy Lạp là một ví dụ, hoặc đấu trường Colixey ở La
Mã cũng vậy.
Hiện nay ở Việt Nam có những di tích được trùng tu, tôn tạo theo
hướng làm mới đã đánh mất đi sự hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là
khách du lịch quốc tế. Có những di tích được tôn tạo nhưng không chú ý
sắc thái cổ tích, thì cũng cần thiết phải có những thông tin mang tính
khoa học, như thành tạo địa chất, niên đại, đặc điểm. Những thông tin
này phải thực sự chọn lọc và cần thiết để du khách có thể nhận thức được
việc hình thành một kỳ quan thiên nhiên, đòi hỏi bao nhiêu thời gian.
Điều đó giúp nâng cao được ý thức bảo vệ di sản đối với du khách và
qua họ, tới cộng đồng.
Phải có quy hoạch không gian khu di sản, tạo những điều kiện cần
thiết về hạ tầng để du khách có thể tham quan, thưởng ngoạn Thông
thường không gian nguyên thuỷ của các di sản chưa có sẵn các cơ sở hạ
tầng và cơ sở vật chất cần thiết có thể đáp ứng yêu cầu của hoạt động du
lịch. Do vậy việc xây dựng quy hoạch, thiết kế cẩn thận phải được coi là
một nội dung quan trọng của công tác bảo tồn. Mục 1.2.2 trong phần IV:
Định hướng cơ bản trong tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích thuộc
Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hoá
đến năm 2020 đã viết rõ: “Quy hoạch các tuyến đường tham quan, đi lại
18
trong khu di tích phải phù hợp với tính chất lịch sử của di tích... Các
công trình phụ trợ được phép xây dựng, nhưng phải nằm ngoài khu vực
bảo vệ di tích... các công trình phục vụ như bãi đỗ xe, bến thuyền, quán
ăn uống, giải khát công trình vệ sinh, cửa hàng bán đồ lưu niệm... bố trí
tách biệt khỏi các khu vực bảo vệ của di tích, không được gây ô nhiễm
môi trường, phù hợp với cảnh quan chung của di tích”.
Mặc dù quy định như vậy, nhưng giữa quy định và thực tế hiện
vẫn còn có khoảng cách. Nhiều di tích, di sản khi xây dựng dự án bảo
tồn, tôn tạo đã không chú ý đầy đủ đến các yếu tố tạo thuận lợi cho phát
huy giá trị di sản, như thiếu quan tâm đến đường đi cho khách tham
quan, trong khi lại cho phép xây dựng nhiều lều quán bán hàng lưu niệm,
Việc đa dạng các loại hình, sản phẩm du lịch văn hoá trên cơ sở khai
thác hiệu quả các giá trị của Di sản văn hóa là việc làm cấp thiết. Bởi vì,
du lịch không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh tế, nó còn mang nội
dung nhân văn và xã hội sâu sắc, thông qua hoạt động du lịch để truyền
thụ kiến thức, giáo dục truyền thống và góp phần nâng cao dân trí.
Tóm lại, đối với các di sản văn hóa hiện nay, việc bảo tồn, tôn tạo
và phát huy giá trị các di sản cần được quan tâm đúng mức. Phát triển du
lịch là yêu cầu tự nhiên nhằm phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên phát
triển du lịch cần tuân thủ những nguyên tắc về bảo tồn. Giá trị các di sản
là vĩnh hằng và không bao giờ cũ. Việc nghiên cứu phát triển những sản
phẩm du lịch mới tại các khu vực có di sản là cần thiết nhằm làm tăng
thêm giá trị cho các di sản, làm đa dạng hóa các hoạt động du lịch tại
những nơi này, có thể mang lại lợi ích nhiều mặt cho bản thân di sản và
cho cộng đồng dân cư.
1.4. Mối quan hệ giữa du lịch và bảo tồn di sản văn hoá
Di sản văn hóa là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch. Môi
trường thiên nhiên và môi trường văn hóa, nhân văn có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với du lịch vì chúng chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố
cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch, phát triển các loại hình du lịch. Ngày
nay, xu hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hóa
đang trở thành những loại hình du lịch chủ yếu. Ở nhiều nước trên thế
20
giới kinh nghiệm cho thấy ếhóa thì quốc gia đó sẽ là điểm đến hấp dẫn.
Trong đó di tích là mảng quan trọng của di sản văn hóa vật thể và khi
đưa vào khai thác phục vụ kinh doanh du lịch thì giá trị khai thác không
bị cạn kiệt mà ngày càng gia tăng theo thời gian. Trong thực tế, nhiều ti
tích sau khi đã được tu bổ đã thúc đẩy sự phát triển của du lịch, góp phần
Tuy nhiên việc khai thác du lịch kết hợp với bảo tồn di sản cần có
những quy trình nhất định, được tuân thủ nghiêm ngặt nhằm đảm bảo
những lợi ích và tác động từ cả hai phía, không triệt tiêu lẫn nhau không
kìm chế sự phát triển về kinh tế và văn hóa mà trái lại còn có thể bổ sung
thế mạnh cho nhau. Về bản chất bảo tồn góp phần lưu giữ các di sản – là
nguồn tài nguyên quan trọng của du lịch. Bảo tồn giúp cho các di sản giữ
được nguyên mẫu, không biến dạng nhờ vào khôi phục có nguyên mẫu
một cách khoa học. Về phía mình du lịch đem lại sức sống cho di sản
nhờ vào việc quảng bá cho di sản một cách gián tiếp, (thông qua các hoạt
động quảng cáo, xúc tiến du lịch) và trực tiếp (việc giới thiệu, thuyết
minh về các di sản ngay tại điểm tham quan, thưởng thức).Di sản được
đưa vào cuộc sống và tiếp tục phát triển trong dòng chảy của nền văn
hóa đương đại và toàn cầu. Bên cạnh đó nguồn thu từ khai thác du lịch sẽ
góp phần tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn. Đây là sự phối hợp nhịp
nhàng thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.
1.4.2. Những tác động tiêu cực của du lịch tới bảo tồn các di sản
Đối với các di sản văn hóa vật thể đặc biệt là những di sản có giá
trị toàn cầu nổi bật thì khách tham quan du lịch và sự bùng nổ số lượng
khách tham quan đã và đang trở thành mối nguy cơ đe dọa việc bảo vệ
các di sản. Sự có mặt của quá đông du khách trong một thời điểm ở một
di sản đã tạo nên những tác động cơ học, hóa học cùng với những yếu tố
khí hậu nhiệt đới gây nên những sự hủy hoại đối với những di sản và các
thành phần khác của di sản như vật thờ tự, nội thất trang trí. Đồng thời,
sự phát triển các dịch vụ du lịch thiếu sự kiểm soát và sự bùng nổ số
lượng khách du lịch còn tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hóa và
môi trường sinh thái tại các khu di sản. Tại nhiều nơi, du khách đã viết
22
vẽ, khắc tên lên các bộ phận di tích một cách bừa bãi. Sự ô nhiễm gây ra
ảnh hưởng đến bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững. Trong khi
đơn vị khai thác chỉ chú tâm đến lơi nhuận từ kinh doanh mà không chú
ý đến nguồn vốn tái đầu tư cho việc bảo tồn, dẫn đến việc xuống cấp của
các di tích.
Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng di sản là sự lựa chọn hàng đầu,
là đối tượng thu hút du khách khi đến một quốc gia, lãnh thổ tham quan
du lịch nhất là tại những nơi mà việc phát triển hoạt động du lịch chủ yếu
dựa trên giá trị của tài nguyên (tự nhiên và nhân văn, vật thể và phi vật
thể) khi các dịch vụ phục vụ nhu cầu cao của du khách chưa được đáp
ứng đầy đủ.
Tiểu kết chương 1
Trải qua bao thăng trầm của thời gian, văn hóa luôn thay đổi theo
từng điều kiện lịch sử xã hội nhất định, tạo nên những đỉnh cao, những
trầm tích, những đứt gãy trong văn hóa. Những di sản văn hóa được lưu
truyền lại là những dấu ấn của lịch sử văn hóa. Cùng với sự phát triển
không ngừng của thời gian, những di sản này phải đối mặt với nguy cơ
bị che lấp và lấn át của những giá trị văn hóa mới xuất hiện trong xã hội.
Chính vì thế đặt ra yêu cầu bảo tồn các di sản văn hóa như một hoạt
động quan trọng để đảm bảo sự liên mạch trong quá trình phát triển văn
hóa của địa phương, bảo vệ bản sắc văn hóa của chính quyền địa phương
đó. Bảo tồn các di sản văn hóa là yếu tố quan trọng để giúp các di tích
phát triển vì các di sản văn hóa được coi là nguồn tài nguyên quan trọng
góp phần phát triển hoạt động du lịch. Khi bảo tồn các di sản văn hóa
trong hoạt động kinh doanh du lịch do cần đảm bảo các nguyên tắc cần
bằng lợi ích giữa bảo tồn với phát triển kinh tế, chú trọng tới việc thúc
đẩy sự tham ra của các cơ sở kinh doanh du lịch, cộng động dân cư vào
các hoạt động bảo tồn, không ngừng tằng cường nhận thức về bảo tồn
cho cộng đồng bằng các chương trình giáo dục nhận thức về di sản một